Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS - Pdf 39

1

LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Sau đại
học, khoa Vật lí và Bộ môn phương pháp giảng dạy vật lí trường Đại học sư
phạm Hà Nội 2 cùng các thầy giáo cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Tạ Tri Phương đã
tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên vật lí và các em học sinh
trường THCS - THPT Hai Bà Trưng Thị xã Phúc Yên Tỉnh Vĩnh Phúc đã
giúp đỡ tác giả trong đợt thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã luôn động viên, chia sẻ trong thời gian học tập khoá học này.
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Tác giả

Lê Ngọc Đông


2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực, khách quan và
chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước nhà nước về sự cam đoan này.
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Người thực hiện


1.1.7. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của học sinh ....................... 18
1.1.8. Tính ì tâm lý và ảnh hưởng của nó đối với năng lực sáng tạo ....................... 20
1.1.9. Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh ........ 22


4

1.2. Cơ sở lí luận về dạy học sáng tạo ...................................................................... 24
1.2.1. Cơ sở tâm lí học về dạy học sáng tạo ............................................................. 24
1.2.2. Cơ sở lí luận dạy học về dạy học sáng tạo ..................................................... 25
1.2.3. Một số biện pháp dạy học sáng tạo trong môn vật lí ở trường phổ thông...... 29
1.3. Vai trò của bài tập vật lí trong dạy học sáng tạo ............................................... 31
1.3.1. Định nghĩa bài tập vật lí ................................................................................. 31
1.3.2. Vai trò của bài tập vật lí.................................................................................. 31
1.3.3. Yêu cầu đối với dạy học bài tập vật lí ............................................................ 32
1.4. Thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo ..................................... 33
1.4.1. Mục đích và đối tượng điều tra....................................................................... 33
1.4.2. Phương pháp điều tra...................................................................................... 33
1.4.3. Kết quả điều tra............................................................................................... 34
1.4.4. Nguyên nhân của thực trạng ........................................................................... 34
1.4.5. Kết luận........................................................................................................... 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ......................................................................................... 36
CHƯƠNG 2
CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BTST VÀ HỆ THỐNG BTST
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG " CƠ HỌC " VẬT LÍ 8 THCS ....................... 37
2.1. Đề xuất các nguyên tắc xây dựng BTST ........................................................... 37
2.1.1. Khái niệm BTST của Radumovxki ............................................................... 37
2.1.2. Quan niệm về STKH-KT theo lí thuyết TRIZ................................................ 39
2.1.3. Đề xuất các nguyên tắc xây dựng BTST chương "Cơ học" Vật lí lớp 8
THCS ........................................................................................................................ 41

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt

TT

Viết đầy đủ

1

BTST

Bài tập sáng tạo

2

BTVL

Bài tập vật lí

3

ĐC

Đối chứng

4

GV


Thực nghiệm

10

THCS

Trung học cơ sở

11

TNSP

Thực nghiệm sư phạm

12

VL

Vật lí

13

TRIZ

Lí thuyết giải các bài toán sáng chế

14

SGK


trực tiếp giảng dạy cần giúp học sinh có khả năng định hướng được trong các dòng
thông tin khổng lồ, giúp họ có khả năng nhìn nhận cái cơ bản, cái then chốt, phát
triển tư duy sáng tạo.
Phương pháp dạy học truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được
những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, phương pháp đó nặng về truyền thụ một
chiều, thầy giảng giải minh họa, trò lắng nghe ghi nhớ và bắt trước làm theo thì
không thể đào tạo những con người có tính tích cực cá nhân, có tư duy sáng tạo hay
có kỹ năng thực hành giỏi. Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, nền giáo
dục ở nước ta đang chuyển dần từ trang bị cho học sinh kiến thức sang bồi dưỡng
cho học sinh năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo. Hội nghị BCH TW Đảng
Cộng sản Việt Nam khóa VIII chỉ rõ : " Đổi mới phương pháp dạy học ở tấtcả các
cấp, bậc học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học
sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề . . ." và " đổi mới mạnh


8

mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luện
thành nếp tư duy sáng tạo của người học . . ."
Điều 28 khoản 2 Luật giáo dục nước ta nhấn mạnh: “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm đem lại niềm vui
hứng thú học tập cho học sinh”. Dạy học hướng tới việc phát huy tích cực, vai trò
chủ động sáng tạo của học sinh là xu thế chung của đổi mới giáo dục phổ thông hiện
nay.
Việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh có thể thực hiện ở tất cả các
bộ môn trong chương trình giáo dục phổ thông. Trong dạy học vật lí, bằng nhiều
phương pháp và biện pháp khác nhau có thể giúp học sinh nâng cao chất lượng học
tập và phát triển năng lực sáng tạo. Hoạt động giải bài tập vật lí vừa giúp HS nắm

dùng để dạy và học chương “Cơ học” vật lí lớp 8 THCS nhằm rèn luyện năng lực
sáng tạo cho học sinh.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài :
Hoạt động dạy học, giải bài tập chương “Cơ học” vật lí lớp 8 THCS.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Hệ thống bài tập chương “Cơ học” vật lí lớp 8 ở trường THCS.
4. Giả thuyết khoa học
Việc đưa ra được các nguyên tắc để xây dựng bài tập sáng tạo, việc sử dụng
các bài tập sáng tạo có mục đích, phù hợp với quy luật nhận thức sáng tạo sẽ có tác
động tích cực trong việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật
lí.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa, phân tích những tài liệu liên quan đến khái niệm “ sáng
tạo ”, “dạy học sáng tạo”, “ bài tập vật lí ”, "bài tập sáng tạo".
5.2. Phân tích nội dung, mục tiêu dạy học chương “Cơ học” SGK vật lí lớp
8 THCS.


10

5.3. Đề xuất nguyên tắc xây dựng “ bài tập sáng tạo” chương “Cơ học” vật lí
lớp 8 THCS và xây dựng một hệ thống bài tập sáng tạo phục vụ cho việc dạy học
chương “Cơ học” vật lí lớp 8 THCS.
5.4. Đề xuất các tiêu chí để đánh giá được các biểu hiện của “năng lực sáng
tạo”.
5.5. Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hệ thống bài tập sáng tạo đã xây
dựng.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, đề tài sử dụng các phương pháp chủ

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao
gồm 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của rèn luyện năng lực sáng tạo cho học
sinh trong dạy học vật lí.
Chương 2: Các nguyên tắc xây dựng BTST và hệ thống BTST trong dạy học
chương“Cơ học” vật lí lớp 8 THCS.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.


12

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
1.1. Sáng tạo và năng lực sáng tạo
1.1.1. Khái niệm sáng tạo
Trong từ điển Tiếng Việt thì "sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới,
không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có".
"Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần
hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị giúp giải quyết một khó
khăn, bế tắc nhất định " (Theo bách khoa toàn thư Liên Xô, tập 42, tr 54)
Sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra được cái mới, không
kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật nào đó của thế giới bên ngoài hay một cấu tạo
nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người.
Sáng tạo thường được hiểu là đề ra những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích phù
hợp với hoàn cảnh. Người ta thường nghĩ, sáng tạo là khả năng chỉ có ở các nhà
khoa học. Nhưng thực ra trong mọi lĩnh vực hoạt động và mọi người đều có khả
năng sáng tạo.
Ngoài tính cách tân của sản phẩm, sáng tạo còn có những đặc điểm tâm lí là
tính hiếm có, tính khó khăn, tính bất ngờ của phát kiến và tính ngẫu nhiên của phán

biệt, đến mức thành thạo, tự động hóa, máy móc. Còn năng lực chứa đựng yếu tố
mới mẻ, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong
nhiều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực rộng hơn.
Năng lực của mỗi người một phần dựa trên cơ sở tư chất. Nhưng điều chủ
yếu là năng lực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con
người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục. Việc hình thành và phát
triển các phẩm chất nhân cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng
lực.


14

1.1.3. Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh
thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu
biết đã có vào hoàn cảnh mới.
Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể.
trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thì
càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, phương án lựa chọn. Vì
vậy, không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời, độc lập với hình thành kiến
thức về một lĩnh vực nào đó.
Quá trình sáng tạo của con người thường bắt đàu từ một ý tưởng mới, bắt
nguồn từ NLST của mỗi người. Người có năng lực sáng tạo thường có đặc trưng
sau :
- Có tư duy độc lập và biết nhận xét, phê phán theo quan điểm riêng không
phụ thuộc, gò bó vào những cái cũ, không tư duy theo lối mòn.
- Luôn đi vào các vấn đề bản chất nhằm tìm ra quy luật.
- Có khả năng dự báo và say sưa nung nấu các ý tưởng mới.
- Luôn tìm ra được giải pháp tối ưu trước một tình huống mới, một vấn đề
cần giải quyết.

Mặt khác, những tư chất được di truyền chỉ đặc trưng trong những lĩnh vực
hoạt động hay sáng tạo cụ thể, do trình độ phát triển của những loại hình sản xuất,
khoa học, nghệ thuật ... và như là hoạt động sáng tạo của cá nhân quyết định. Những
tư chất có sẵn trong cấu tạo của não, trong các cơ quan cảm giác, các cơ quan vận
động và ngôn ngữ... là điều kiện để thực hiện có kết quả một hoạt động cụ thể.
Tuy nhiên, sự thành công trong một lĩnh vực đó phần lớn phụ thuộc vào hoàn
cảnh thực tiễn, vào lao động học tập, rèn luyện cũng như vào việc tích lũy kinh
nghiệm của cá nhân.
1.1.4.2 Yếu tố của hoạt động chủ thể
Như đã nói ở trên, năng lực không có sẵn trong con người. Con người bằng
hoạt động của chính mình mà chiếm lĩnh những kinh nghiệm hoạt động của các thế
hệ đi trước, biến thành năng lực của chính mình. Đặc biệt là về mặt khoa học, nghệ
thuật, ngày nay trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học, nghệ sĩ hoạt động rất thành


16

công trong một lĩnh vực nào đó mà một phần rất quan trọng là do đã tiếp thu được
những kinh nghiệm sáng tạo của biết bao thế hệ đi trước.
Lịch sử nhân loại cho thấy : các thiên tài về một lĩnh vực nào đó trước hết là
những người hoạt động rất say mê, tích cực, miệt mài, kiên trì, dồn hết thời gian và
tâm trí vào hoạt động đó. Nhiều nhà khoa học lỗi lạc đều cho rằng " thiên tài, chín
mươi chín phần trăm là do lao động, chỉ có một phần trăm là do bẩm sinh".
Tùy theo đặc điểm của loại hình hoạt động của con người mà các yếu tố bẩm
sinh có thể phát triển mạnh theo hướng này hay hướng khác hoặc có thể bị thui chột
đi. Như vậy, hoạt động của chủ thể có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành
năng lực.
1.1.4.3. Yếu tố môi trường xã hội
Ta hiểu môi trường xã hội là hệ thống các quan hệ chính trị, kinh tế, tư
tưởng, ... được thiết lập trong xã hội. Những bộ phận của môi trường thường có tác

của xã hội.
Tất nhiên, không phải là nhà trường đóng cửa lại mà dạy; trái lại, chính nhà
trường còn phải tạo điều kiện để cho mỗi cá nhân học sinh giao lưu với các thành
viên khác trong nhà trường cũng như ngoài xã hội.
Chính trong quá trình dạy học có thể lựa chọn kĩ lưỡng những hình thức hoạt
động. Có sự định hướng chính xác sẽ giúp học sinh sớm ý thức được những yêu cầu
của xã hội đối với hoạt động của mỗi người trong những lĩnh vực khác nhau. Nhà
trường cũng tích lũy được những phương pháp tổ chức hoạt động học tập của học
sinh có tính hiệu quả cao, tránh được sự mò mẫm của mỗi cá nhân.
Như vậy, giáo dục, dạy học có thể mang lại những hiệu quả, những tiến bộ
của mỗi học sinh mà các yếu tố khác không thể có được. Đặc biệt là dạy học có thể
đi trước sự phát triển, thúc đẩy sự phát triển.
Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý rằng : trong quá trình dạy học có khả năng
định hướng, thúc đẩy sự phát triển năng lực của trẻ em thì cũng có khả năng gò ép
học sinh theo một khuôn mẫu cứng nhắc, do đó hạn chế sự phát triển đa dạng ở họ.
Tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành
năng lực là phương pháp hữu hiệu để khắc phục xu hướng xấu đó.
1.1.5. Những biểu hiện năng lực sáng tạo và các yếu tố cần thiết cho việc bồi
dưỡng NLST trong học tập của học sinh.


18

1.1.5.1. Những biểu hiện NLST của học sinh trong học tập
Năng lực tự chuyển tải tri thức và kĩ năng từ tình huống quen thuộc sang tình
huốn mới, vận dụng kiến thức đã học trong điều kiện, hoàn cảnh mới.
Năng lực nhận biết vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc (tự đặt câu hỏi
mới cho mình và cho mọi người về bản chất các điều kiện, tình huống, sự vật).
Năng lực nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết.
Năng lực nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu. Thực chất là :

Yếu tố thứ hai cần thiết để sáng tạo là phải có kiến thức cơ bản vững chắc.
Một quá trình sáng tạo bất kì nào đều bắt đầu từ sự tái hiện những cái đã biết. Tâm
lí học hiện đại không phủ nhận những vai trò của trí nhớ. Dĩ nhiên, chỉ ghi nhớ đơn
thuần, không biết suy nghĩ vận dụng sáng tạo thì đó là kiến thức chết, vô dụng.
Người HS phải vận dụng tri thức đã biết vào tình huống mới, vào giải thích các hiện
tượng vật lí, giải các BTVL trong các trường hợp khác nhau.
L.X.Vưgôtxki đã phê phán những quan điểm không đúng cho rằng sáng tạo
là mảnh đất riêng của những người có tài, thiên tài, còn con người bình thường thì
tuyệt nhiên không có khả năng đó. Ông cho rằng ở những nơi con người biết phối
hợp những cái cũ, tạo ra cái mới đều là sáng tạo. Vì vậy kiến thức cơ bản vững chắc
phải là yếu tố cần thiết cho rèn luyện NLST.
Yếu tố thứ ba để sáng tạo là : HS cần có tính " nghi ngờ khoa học", luôn đặt
câu hỏi " cách làm này hay phương án giải BT này đã tối ưu chưa ?, " "có còn cách
giải khác nào không ?" hay BT "này có thể mở rộng như thế nào? "
Theo P.L Capitxa :" giáo dục khả năng sáng tạo trong con người dựa trên sự
phát triển của tư duy tự lập ". Do đó một yếu tố nữa không thể thiếu của việc rèn
luyện NLST cho HS là : HS cần phải có khả năng tư duy độc lập. Đó là khả năng
của con người trong việc tự xác định phương hướng hoạt động của mình trong tình
huống mới, tự phát hiện và nêu lên các vấn đề cần giải quyết và thực hiện nó. Như
vậy các điều kiện để hoàn thành các phát kiến càng được chuẩn bị tốt bao nhiêu thì
tính chủ động sáng tạo càng được nâng cao bấy nhiêu.
1.1.6. Cơ chế sáng tạo khoa học
1.1.6.1. Cơ chế trực giác
Theo An bert Anhxtanh thì qúa trình sáng tạo khoa học diễn ra theo sơ đồ 1.1


20

Trực giác


Ví dụ :
- Các định luật Newton và cả thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh đều dựa
trên một loạt các tiên đề, chẳng hạn tính đồng nhất và đẳng hướng của không gian,
sự tương đương của khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn,...
- Trước khi tìm ra định luật I Newton thì Newton đã có những dữ liệu trực
tiếp của kinh nghiệm cảm tính về chuyển động của các vật và lực. Đặc biệt là những
tài liệu của Galile và những thí nghiệm của Galile.
-Nhiều thế kỉ trước người ta cho rằng để cho vật chuyển động với vận tốc
không đổi cần phải có sự tác động thường xuyên của các vật thể khác vào vật.
Galile làm thí nghiệm về chuyển động của vật trên mặt phẳng nghiêng và
nhận thấy :
Khi vật chuyển động xuống dưới, vật chuyển động nhanh dần (có gia tốc).
Để giữu cho nó đứng yên cần phải dùng sức.
Khi vật đi lên cần phải dùng lực để đẩy nó lên cũng như giữ nó ở phía trên.
Từ các tiên đề và những dữ kiện rút ra được khẳng định bộ phận là :
Một vật nếu không có tác dụng của vật khác sẽ chuyển động thẳng đều mãi
mãi (bằng lôgic). Khi đối chiếu điều khẳng định đó với những dữ liệu E người ta đã
thường xuyên sử dụng những thí nghiệm tương đương với một mặt phẳng nhẵn dài
vô tận. Việc sử dụng thí nghiệm trên đệm không khí hiện nay cũng chỉ có giá trị
giúp cho việc khái quát hóa đó.
1.1.6.2. Chu trình sáng tạo khoa học ( cơ chế Algôrit )
V.G.Razumopxki khi khái quat những lời phát biểu của các nhà khoa học nổi
tiếng như Anhxtanh, Plang, Boocno, Kapitta, ... đã đề ra chu trình sáng tạo khoa học
gồm 4 giai đoạn (Sơ đồ 1.2). Từ việc khái quát hóa những sự kiện đi đến xây dựng
mô hình trừu tượng của hiện tượng (đề xuất giả thuyết); từ mô hình dẫn đến việc rút
ra các hệ quả lí thuyết; từ việc rút ra các hệ quả đến sự kiểm tra chúng bằng thực
nghiệm. Nếu thực nghiệm xác nhận các hệ quả suy ra một cách lôgic từ mô hình giả
thuyết thì mô hình giả thuyết đúng và trở thành lí thuyết. Ngược lại thì phải xem lại
mô hình giả thuyết, chỉnh lí được thay đổi.




23

Trong mọi giai đoạn của chu trình đều cần đến sự sáng tạo nhưng có hai giai
đoạn đòi hỏi sự sáng tạo cao nhất là đưa ra mô hình giả thuyết trừu tượng và đưa ra
các phương án thực nghiệm để kiểm chứng vì ở đây không thể dùng tư duy lôgic
mà nhờ trực giác khoa học. Ví dụ : Tìm ra định luật rơi tự do (Sơ đồ 1.3)

Sự kiện ban đầu

Các vật khác nhau rơi chạm đất đồng thời
( tháp nghiêng )

Mô hình giả thuyết

Sự rơi là chuyển động nhanh dần ( v : t )

Hệ quả

Nếu vậy ( s : t2 )

Thực nghiệm

Kiểm tra thông qua chuyển động của vật
trên mặt phẳng nghiêng

Sơ đồ 1.3

Trong khuôn khổ bài học không cho phép tổ chức quá trình học tập sao cho

Ngoài ra, con người còn tư duy bằng các kí hiệu, hình vẽ. Nó giúp cho tư duy
trở nên gọn hơn. Hình vẽ là một loại kí hiệu mô tả trực quan đối tượng. Hầu hết các
phát minh và sáng chế đều bắt đầu dưới dạng hình ảnh, biểu tượng trong đầu, sau đó
mới là từ ngữ. Trong bất kì giai đoạn nào của tư duy, nếu có thể hãy trình bày suy
nghĩ bằng hình vẽ.


25

1.1.7.3. Tính nhạy bén của tư duy
Tính nhạy bén của tư duy là khả năng phát hiện ra giá trị của thông tin và sử
dụng chúng để giải bài toán trong khi nhiều người khác cũng tiếp nhận thông tin đó
nhưng lại không phát hiện ra.
Tùy thuộc vào mức độ khao khát giải được bài toán cho trước, mức độ rõ
ràng của thông tin cung cấp mà tính nhạy bén của tư duy có thể bộc lộ.
Để tăng tính nhạy bén của tư duy, cần phải tạo các suy nghĩ xuất phát từ nhu
cầu giải bài toán cho trước, chủ động tạo các thông tin cần thiết, thiết lập mối liên
hệ giữa chúng với độ tin cậy cao.
1.1.7.4. Tính liên tưởng
Tính liên tưởng là khả năng của con người từ ý nghĩ này thông qua một mối
liên kết dựa trên kinh nghiệm nào đó để đi đến một ý nghĩ khác.
Có nhiều loại liên tưởng : liên tưởng gần nhau, liên tưởng giống nhau, liên
tưởng trái ngược nhau, liên tưởng nhân quả ...Nếu chúng ta dùng đúng phạm vi áp
dụng, khả năng liên tưởng giúp ta đi đến ý tưởng sáng tạo.
1.1.7.5. Trực giác
Có ba bộ phận cùng tham gia vào quá trình suy nghĩ của con người là ý thức,
tiềm thức và vô thức.
Suy nghĩ bằng ý thức là biết và có thể lí giải quá trình suy nghĩ một cách
logic. Tiềm thức và vô thức có thể tham gia vào quá trình suy nghĩ nhưng người suy
nghĩ không biết về sự hiện diện của chúng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status