BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGÔ THỊ NGỌC VÂN
HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành
: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 62 38 01 04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS NGUYỄN VĂN HUYÊN
2. TS. PHAN THANH MAI
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa
thẩm vụ án hình sự
2.2. Ý nghĩa hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
Kết luận chương 2
30
30
59
65
Chương 3: CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÀO
CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
3.1. Cơ sở pháp lý của hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
3.2. Thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
3.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động bào chữa của luật sư
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Kết luận chương 3
67
67
82
110
125
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA
CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
:
:
Bộ luật Tố tụng hình sự
Cơ quan điều tra
HĐXX
NBC
LĐLSVN
TA
TANDTC
TTHS
VKS
VKSNDTC
:
:
:
:
:
:
:
:
Hội đồng xét xử
Người bào chữa
Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Toà án
Toà án nhân dân tối cao
Tố tụng hình sự
tiến hành tố tụng
84
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013,
vấn đề mở rộng dân chủ, tăng cường pháp chế để bảo vệ có hiệu quả các quyền con
người, các quyền công dân càng trở nên cấp bách và trở thành nhiệm vụ của toàn xã
hội. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền trong đó có hệ thống pháp luật hoàn
chỉnh và những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội thuận lợi là mục tiêu của cách
mạng trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới nhiệm
vụ thúc đẩy quá trình dân chủ hoá mọi mặt của đời sống xã hội, bảo vệ các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân song sự vi phạm tới các quyền con người, đặc biệt
trong lĩnh vực tố tụng hình sự vẫn đang là vấn đề nhức nhối. Để đẩy mạnh công tác
tư pháp cho ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ mới, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị
Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết số 08/NQTW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Nghị quyết
đã chỉ ra những quan điểm chỉ đạo như “bảo đảm tranh tụng với Luật sư, người
bào chữa và những người tham gia tố tụng khác...”, “ các cơ quan tư pháp có trách
nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị
can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên toà...”.
Như vậy, bảo đảm thực hiện quyền và trách nhiệm của Luật sư trong hoạt
động tố tụng nói chung và trong giai đoạn đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói
riêng là vấn đề bức xúc trong cải cách tư pháp, đồng thời có ý nghĩa chiến lược
trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân,
vì dân. Đó là yêu cầu tất yếu khách quan để bảo đảm quyền con người, quyền công
dân. Giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn trung tâm, thể hiện bản chất hoạt động tố
tụng hình sự, có vai trò quyết định trong giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động bào
sư bào chữa trong tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc. Khó khăn đầu tiên khiến
hoạt động bào chữa của luật sư bị cản trở đó là thủ tục cấp gấy chứng nhận người
bào chữa của Tòa án, tiếp đó là việc xác định quyền và lợi ích của các bị can, bị cáo
không đối lập nhau thường không rõ ràng dẫn đến trường hợp luật sư buộc phải,
hoặc bị từ chối tham gia bào chữa; luật sư không được tòa án thông báo về quyết
định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, thâm chí có trường hợp quyết định nói trên còn
đóng dấu “mật ” khiến luật sư khó nắm bắt được nội dung; vấn đề tiếp xúc bị cáo tại
phiên tòa chưa thuận tiện khi cán bộ dẫn giải luôn yêu cầu sự đồng ý của chủ tọa
phiên tòa… BLTTHS không quy định các trường hợp luật sư được quyền chủ động
đề xuất người làm chứng cũng như triệu tập những người liên quan khác có mặt tại
phiên tòa nếu không được sự chấp thuận của tòa án; các quy định về sự có mặt của
người bào chữa chưa rõ ràng nên trên thực tế nhiều HĐXX tùy tiện trong việc quyết
định xét xử nếu người bào chữa vắng mặt…
Hoạt động bào chữa của Luật sư thời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế.
Nguyên nhân của các bất cập, hạn chế đó là do bất cập trong quy định của pháp luật
cũng như nhận thức và tổ chức thực hiện hoạt động bào chữa trên thực tế. Việc
nâng cao hiệu quả hoạt động bào chữa của Luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng hình
sự; làm rõ chức năng xét xử, chức năng buộc tội và chú trọng chức năng gỡ tội.
Theo đó, vị trí của Luật sư phải được xem là một bên tham gia tố tụng, ngang hàng
với Viện kiểm sát tại phiên toà nói chung và phiên toà sơ thẩm nói riêng. Nhận thức
đó phải được quán triệt trong đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp, đặc biệt là
những người tiến hành tố tụng và mọi công dân. Đồng thời, cần có giải pháp hoàn
thiện pháp luật tố tụng hình sự, nâng cao phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên
môn của Luật sư; chú ý đến vai trò của tổ chức Luật sư trong việc nâng cao hiệu
quả hoạt động tư pháp; Nhà nước phải tạo hành lang pháp lý và điều kiện cần thiết
để khuyến khích Luật sư trong hoạt động nghề nghiệp, đồng thời nâng cao vai trò tự
- Làm rõ cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động bào chữa của Luật sư trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự (những kết quả đạt được, hạn chế, vướng mắc, nguyên
nhân của những hạn chế, vướng mắc).
- Kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động bào
chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,
quy định pháp luật liên quan đến hoạt động bào chữa của luật sư, thực trạng hoạt
động bào chữa của luật sư trong giai đoạn này.
Phạm vi nghiên cứu: tập trung làm rõ khái niệm hoạt động bào chữa của
luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, cở sở pháp lý, nội dung, đặc
điểm và ý nghĩa của hoạt động này; làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về
hoạt động bào chữa của luật sư và những phương hướng, yêu cầu đặt đối với việc kiến
nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác. Luận án nghiên cứu nội dung hoạt
động bào chữa và thực trạng của hoạt động này trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự và tại phiên toà sơ thẩm (không nghiên cứu hoạt động bào chữa
của luật sư trong một số trường hợp đặc thù như bào chữa cho người chưa thành niên,
theo thủ tục rút gọn và sau phiên toà sơ thẩm).
Về pháp luật, luận án tập trung nghiên cứu quy định của BLTTHS năm 2003
liên quan đến hoạt động bào chữa của luật sư. Ngoài ra, luận án cũng nghiên cứu các
văn bản pháp luật TTHS khác và văn bản pháp luật khác có liên quan đến hoạt động
bào chữa của luật sư. Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề
này cũng thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài ở mức độ phù hợp với yêu cầu và
điều kiện nghiên cứu.
Vấn đề thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự, luận án sẽ đánh giá thông qua việc nghiên cứu, tổng kết các vụ án
đã xét xử sơ thẩm có sự tham gia của luật sư bào chữa từ năm 2005-2014 và hoạt
động thực tế của luật sư bào chữa ở một số tỉnh, thành phố trên cơ sở báo cáo của
LĐLS Việt Nam, của VKSNDTC, TANDTC, phiếu khảo sát và các thông tin, tài liệu
Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể bổ sung lý luận về hoạt động bào
chữa của luật sư nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng. Luận án sẽ
là nguồn tư liệu có ý nghĩa để các cá nhân, cơ quan hữu quan tham khảo, nghiên
cứu trong quá trình sửa đổi, bổ sung BLTTHS, Luật Luật sư; là nguồn tài liệu để
biên soạn tài liệu dạy và học cho các cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp.
7. Kết cấu của luận án
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đó đặt ra, luận án có kết cấu như sau:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
của luận án sẽ gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2: Lý luận về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 3: Cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động bào chữa của luật sư trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của luật sư
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
Hoạt động bào chữa của luật sư là vấn đề đã được nghiên cứu trong một số
công trình khoa học ở các góc độ tiếp cận, mức độ, phạm vi khác nhau và đã đạt
được những kết quả nghiên cứu đáng trân trọng. Về mặt lý luận, những nghiên cứu
về vấn đề quyền con người (trong đó nhấn mạnh quyền bào chữa và quyền có người
bào chữa của người bị buộc tội), mô hình tố tụng, chức năng tố tụng và cải cách tư
pháp trên thế giới và ở Việt Nam là cơ sở lý luận và định hướng cho việc nghiên
về quyền bào chữa, quyền có người bào chữa trong TTHS quốc tế và một số quốc
gia trên thế giới. Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện về quyền có NBC của người bị
buộc tội cũng như các cơ chế pháp lý bảo đảm quyền trong sự so sánh và đối chiếu
với pháp luật nước ngoài là thực sự cần thiết và có ý nghĩa.
Nghiên cứu lý luận cơ bản về mô hình tố tụng cần kể đến cuốn sách “Tư
pháp hình sự so sánh” của Philip. L. Reichel (bản dịch tiếng Việt - Viện nghiên cứu
Khoa học Pháp lý). Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích đặc điểm và so sánh
các truyền thống pháp luật khác nhau trên thế giới. Tác giả cũng phân tích làm rõ và
so sánh các loại mô hình tố tụng, đặc biệt là mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm và
mô hình tố tụng công bằng. Những nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù cùng chung
mục đích là tìm ra sự thật, phát hiện và xử lý tội phạm nhưng mỗi truyền thống
pháp luật sử dụng mỗi mô hình tố tụng khác nhau và đặt vấn đề là cách thức nào
được xem là tốt nhất để tìm ra sự thật. Sự khác nhau giữa các mô hình tố tụng tất
yếu dẫn đến sự khác nhau, trong đó có sự khác nhau về địa vị pháp lý của các chủ
thể và cách thức vận hành các chức năng tố tụng, trong đó có sự khác nhau về
những quy định liên quan đến hoạt động bào chữa của luật sư. Cuốn sách Khái quát
hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ (dịch từ nguyên bản tiếng Anh Outline of the U.S.
Legal System, Congressional Quarterly, Inc, 2001) cũng là một tài liệu đáng quan
tâm nghiên cứu vì cuốn sách này đã “phác họa bức tranh toàn cảnh hoạt động luật
pháp Hoa Kỳ - về các thẩm phán, luật sư, bồi thẩm đoàn; về thủ tục TTHS và dân
sự; về tòa án tối cao, các tòa sơ thẩm và phúc thẩm cấp bang và liên bang” [21].
Đặc biệt, cuốn sách đề cập đến hoạt động và vai trò của luật sư trong việc thương
lượng lời khai (hay còn gọi là mặc cả thú tội), khi mà đổi lấy việc nhận tội, bị cáo
được áp dụng pháp luật cả về nội dung và hình thức theo hướng có lợi hơn. Hoạt
động này không có ở Việt Nam nhưng cũng có thể nghiên cứu để rõ hơn mức độ
chủ động của luật sư trong TTHS.
Bài viết “Phân tích, so sánh hai hệ thống pháp luật Mỹ và Pháp” của tác giả
James Claude và Joseph Daly đã chỉ ra cách thức thực hiện QBC của luật sư Pháp
và Mỹ trong một vụ án hình sự cũng như đề cập một số kỹ năng bào chữa dưới góc
độ luật sư Mỹ trong một vụ án cụ thể. Cuốn sách “Những mô hình tố tụng hình sự
trọng để đảm bảo rằng các quyền này được bảo vệ. Cụ thể là các văn bản pháp luật
này quy định quyền bào chữa của luật sư từ giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng
- ngay từ khi tự do của người bị tình nghi hoặc của bị can bị ngăn chặn bởi các cơ
quan có thẩm quyền.; luật sư không cần thiết phải có sự chấp thuận hoặc cho phép
cụ thể nào ngoài sự thừa nhận của Đoàn luật sư nơi mà luật sư tham gia và có một
lệnh từ tổ chức luật sư ủy quyền cho luật sư đại diện cho khách hàng. Bên cạnh đó,
trong giai đoạn điều tra, người bào chữa có quyền và phải có mặt khi người bị tình
nghi hoặc bị can đưa ra lời khai trước điều tra viên, và thậm chí trước cả giai đoạn
đó. Theo đó, quyền bào chữa được bắt đầu khi một người thực sự bị bắt giữ hoặc
“khi có bất kỳ biện pháp tố tụng có tính cưỡng bức nào khác hoặc có hành vi tố
tụng khác xảy ra xâm phạm các quyền tự do của một người bị tình nghi là phạm
một tội”. Bộ luật TTHS Liên bang Nga 2001 chỉ rõ “thời điểm thực sự bị bắt” là khi
người dó “thực tế bị tước quyền tự do di chuyển”. Trong giai đoạn này, luật sư được
quyền tham gia vào hai hoạt động điều tra: (i) khi xét hỏi người bị tình nghi hoặc bị
can (ii) trong các hoạt động điều tra khác được thực hiện có sự tham gia của người
bị tình nghi, bị can và các hoạt động điều tra được thực hiện theo yêu cầu của người
bị tình nghi, bị can. Bài viết cũng đề cập đến vấn đề thu thập chứng cứ như việc
điều tra độc lập của người bào chữa là một trong những điểm mới lớn nhất của Bộ
luật TTHS Liên bang Nga năm 2001. Theo đó, điều 83 của luật này quy định người
bào chữa có quyền thu thập chứng cứ bằng: thu thập vật, tài liệu, thông tin khác; hỏi
người khác nếu được họ đồng ý; yêu cầu cung cấp các ghi chép, ý kiến tham khảo
và các tài liệu khác của các cơ quan chính quyền, các cơ quan tổ chức địa phương,
cơ quan tổ chức xã hội. Những cơ quan, tổ chức này có trách nhiệm cung cấp tài
liệu được yêu cầu hoặc bản sao tài liệu đó. Giai đoạn truy tố: Ở cấp sơ thẩm,
BLTTHS Nga quy định có giai đoạn điều tra trước khi xét xử và giai đoạn xét xử.
Trong giai đoạn điều tra trước xét xử, một người phạm tội có thể là “người bị tình
nghi” khi bị bắt và sau đó là “bị can” khi những buộc tội chính thức được đưa ra.
Quyền tham gia bào chữa của luật sư xuất hiện từ “thời điểm bị bắt trên thực tế”,
Thời gian qua, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu làm rõ
những vấn đề lý luận về quyền con người, quyền bào chữa của bị can, bị cáo, điạ vị
pháp lý của luật sư, các giai đoạn tố tụng hình sự. Các nội dung này được tiếp cận ở
phạm vi rộng, hẹp khác nhau, trong đó có đề cập đến vấn đề hoạt động bào chữa
của luật sư. Những vấn đề lý luận đó giúp cho tác giả luận án có được cách tiếp cận
đúng đắn về quyền bào chữa và hoạt động bào chữa của luật sư, xác định hướng
kiến nghị hoàn thiện pháp luật trên nguyên tắc vừa bảo đảm quyền bào chữa của đối
tượng bị buộc tội, vừa bảo đảm lợi ích nhà nước, lợi ích chung của xã hội, bảo đảm
lợi ích của cơ quan, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác cũng
như đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bào chữa của luật sư trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1.2.1. Nhóm các công trình liên quan đến cơ sở lý luận của luận án
Những nghiên cứu về quyền con người có thể kể đến các cuốn sách chuyên
khảo: “Quyền con người - tiếp cận đa ngành và liên ngành Luật học”- GS.TS. Võ
Khánh Vinh chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội 2010 (2 tập); “Cơ chế bảo đảm và bảo
vệ quyền con người ”- G.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội 2011;
“Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người” của nhóm tác giả gồm GS.TS
Nguyễn Đăng Dung, TS. Vũ Công Giao và Th.S Lã Khánh Tùng chủ biên, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2011 và bài viết “ Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con
người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự ” của PGS. TSKH. Lê Cảm,
Tạp chí TAND số 11, 13 và 14/2006. Nhóm các công trình này đã phân tích nội
dung, khẳng định quyền con người là quyền tự nhiên, xuất hiện trước khi các nhà
nước ra đời và quyền bào chữa là quyền cơ bản của người bị buộc tội. Trong mối
quan hệ tố tụng giữa chủ thể buộc tội và người bị buộc tội, người bị buộc tội luôn
yếu thế do đó nhà nước phải ghi nhận quyền bào chữa trong tố tụng hình sự để họ
có thể tự bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình. Quyền bào chữa của người bị
buộc tội cần được nhà nước thể chế hoá trong quy định pháp luật thì mới có thể
thực hiện trên thực tế và đây là một trong các quyền cấu thành nên quyền được xét
quyền của người bị buộc tội); hai là nghiên cứu nguyên tắc TTHS về bảo đảm
quyền bào chữa nói chung của người bị buộc tội; ba là nghiên cứu vai trò của NBC
trong TTHS. Bên cạnh đó, một số rất ít bài viết khoa học đề cập đến bảo đảm quyền
bào chữa nói chung trong bối cảnh của cuộc cải cách tư pháp. Một vài nghiên cứu
dưới dạng sách và luận án (ở cấp độ thạc sĩ và tiến sĩ) đã trở nên lạc hậu, không còn
tính thời sự. Ở quy mô lớn hơn, đã có những nhóm chuyên gia tiến hành nghiên cứu
về thực trạng thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS như đã
nêu trên. Mặc dù vậy, kết quả từ những nghiên cứu trên đã giúp làm sáng tỏ quy
định của luật TTHS về quyền bào chữa và bảo đảm quyền bào chữa nói chung, cũng
như chỉ ra tương đối những bất cập còn tồn tại. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn
chưa tiếp cận trực tiếp và toàn diện về bảo đảm quyền có NBC, nhất là hoạt động
bào chữa của người bào chữa.
Những công trình khoa học nghiên cứu lý luận về chức năng của TTHS,
trong đó có chức năng gỡ tội cũng góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài
luận án. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như “Mô hình TTHS Việt Nam”
do VKSNDTC chủ trì soạn thảo trong Đề án về Mô hình TTHS Việt Nam . Đề án
này nghiên cứu những mô hình TTHS điển hình trên thế giới và mô hình tố tụng
của một số nước; nghiên cứu lịch sử mô hình TTHS Việt Nam; tổng kết thực tiễn
thi hành BLTTHS năm 2003 và phương hướng xây dựng mô hình TTHS ở Việt
Nam. Đề án này nghiên cứu những mô hình TTHS điển hình trên thế giới và mô
hình tố tụng của một số nước; nghiên cứu lịch sử mô hình TTHS Việt Nam; tổng
kết thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 và phương hướng xây dựng mô hình
TTHS ở Việt Nam. Luận án tiến sĩ Các chức năng trong TTHS Việt Nam - Những
vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, năm 2012. Trong luận
án, tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận về các chức năng buộc tội, chức năng bào
chữa và chức năng xét xử trong TTHS; tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện các
chức năng này trong thực tiễn TTHS Việt Nam và đề xuất những giải pháp cần thiết
để thực hiện hiệu quả các chức năng của TTHS. Bài viết “Phân định rành mạch các
chế trong thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tế, giải pháp nâng
cao hiệu quả bào chữa. Những công trình nghiên cứu trên đều có nội dung liên quan
đến quyền bào chữa và hoạt động bào chữa, trong đó có hoạt động bào chữa của
luật sư.
1.2.2. Nhóm công trình liên quan trực tiếp đến nội dung luận án
Những vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài cũng được nghiên cứu ở nhiều
phạm vi và mức độ khác nhau. Ở mức độ đại cương, “Giáo trình Luật TTHS” của
Trường Đại học Luật Hà Nội, “Giáo trình Luật TTHS” của Học viện Tư pháp cũng
như giáo trình của các cơ sở đào tạo luật khác nghiên cứu về khái niệm người bào
chữa nói chung và luật sư nói riêng; nghiên cứu, phân tích quy định của BLTTHS
về quyền, nghĩa vụ tố tụng của người bào chữa cũng như những quy định điều
chỉnh các hoạt động cụ thể của luật sư trong quá trình tố tụng. Giáo trình “Kỹ năng
hành nghề luật sư” của Học viện Tư pháp (năm 2001), giáo trình “Kỹ năng tham
gia giải quyết các vụ án hình sự” của Học viện Tư pháp được sửa đổi, bổ sung năm
2013, giáo trình “Kỹ năng chuyên sâu của Luật sư trong một số vụ án hình sự” năm
2015 nghiên cứu về kỹ năng nghề nghiệp của luật sư trong các lĩnh vực hoạt động,
trong đó có hoạt động bào chữa của luật sư trong TTHS. Những nội dung trong các
cuốn giáo trình này là những kiến thức đại cương, cơ bản về mặt pháp luật và những
kỹ năng mềm liên quan đến hoạt động bào chữa của luật sư và kỹ năng hành nghề
của luật sư.
Nghiên cứu chuyên sâu có liên quan đến vấn đề này có thể kể đến luận án
tiến sĩ “Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS” của TS. Hoàng
Thị Sơn, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2003. Trong luận án tác giả trình bày
một số vấn đề chung về quyền bào chữa của bị can, bị cáo; hình thức thực hiện
quyền bào chữa của bị can, bị cáo; các bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của bị
can, bị cáo; thực tiễn thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo; trên cơ sở đó tác
giả đã đề xuất các giải pháp có giá trị để nâng cao hiệu quả thực hiện quyền bào
chữa. Luận án này là một công trình nghiên cứu có giá trị, tác giả đã nghiên cứu
có những nội dung liên quan mật thiết với luận án. Nội dung đề tài đề cập đến việc
xây dựng khái niệm khoa học về hoạt động bào chữa của luật sư trên cơ sở phân
tích làm rõ những đặc điểm của hoạt động này; làm rõ ý nghĩa về chính trị, xã hội và
pháp lý của hoạt động bào chữa của luật sư; làm rõ những điều kiện bảo đảm thực
hiện hoạt động bào chữa của luật sư; nghiên cứu yêu cầu của cải cách tư pháp,
nghiên cứu những tiêu chí của hệ thống pháp luật, so sánh với thực trạng pháp luật
hiện nay, từ đó lý giải sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật TTHS để nâng cao
hiệu quả hoạt động bào chữa của luật sư đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp; nghiên
cứu các quy định của BLTTHS năm 2003 về quyền và nghĩa vụ của người bào
chữa, về hoạt động bào chữa của luật sư và những quy định pháp luật có liên quan,
xác định những bất cập của các quy định này dẫn đến việc chưa thực sự bảo đảm
hiệu quả hoạt động bào chữa của luật sư; nghiên cứu thực trạng hoạt động bào chữa
của luật sư, tìm hiểu những vướng mắc, hạn chế trong hoạt động bào chữa của luật
sư và xác định nguyên nhân về phương diện pháp luật của thực trạng đó; đề xuất
những kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật TTHS nhằm tạo
khung pháp lý phù hợp cho hoạt động bào chữa của luật sự đạt hiệu quả cao hơn.
Trên các tạp chí chuyên ngành luật đã có một số bài viết liên quan nhưng
chưa thực sự đi sâu về hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự. Tạp chí luật học số 5/2003, PTS. TS. Phạm Hồng Hải, Viện
Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Trung tâm KHXH&NV quốc gia đã có bài viết
“Vị trí của luật sư bào chữa trong phiên tòa xét xử”. Bài viết phân tích vai trò của
luật sư bào chữa trong phiên tòa xét xử, việc thể hiện quyền bào chữa của những
người bị buộc tội trong TTHS; khẳng định vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của luật
sư trong thực tế không chỉ là nét dân chủ của Luật TTHS XHCN mà còn tạo điều
kiện cho tố tụng hình sự đạt được những mục đích đặt ra, trong đó có mục đích bảo
vệ có hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; phân tích sự tham gia của luật
sư với tư cách là người bào chữa tại phiên tòa xét xử. Theo đó, giai đoạn xét xử
được tác giả phân tích theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm phiên tòa xét xử mà cả
khoảng thời gian chuẩn bị xét xử. Sự tham gia của luật sư đã được Bộ luật TTHS
mà chủ yếu Thẩm phán chủ tọa phiên tòa dựa vào những “định hướng” của Ủy ban
thẩm phán về tội danh và mức hình phạt sẽ được áp dụng đối với bị cáo; đưa ra một
số kiến nghị trên cơ sở phân tích thực trạng như kiến nghị các cơ quan có thẩm
quyền ban hành Thông tư hoặc Thông tư liên ngành để giải thích, hướng dẫn thực
hiện các quy định của Bộ luật TTHS về trình tự, thủ tục và nội dung tham gia bào
chữa của luật sư trong trong các vụ án hình sự; đơn giản hóa thủ tục cấp giấy chứng
nhận bào chữa cho luật sư và thủ tục cho phép luật sư vào gặp bị can, bị cáo trong
trại giam; các ý kiến tranh luận tại phiên tòa của luật sư cần được đánh giá như ý
kiến của kiểm sát viên và phải được chấp nhận khi có căn cứ. Các ý kiến không
được chấp nhận cũng phải được phân tích, lập luận trong bản án hoặc quyết định
của Hội đồng xét xử. Những đề xuất, kiến nghị của bài viết rất cụ thể, có căn cứ,
phù hợp với thực tế hoạt động của luật sư hiện nay khi tham gia bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị can, bị cáo trong các giai đoạn của quá trình tố tụng. Những đề
xuất, kiến nghị này giúp cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành các
văn bản dưới luật trong việc hướng dẫn một số điều của Bộ luật TTHS.
Trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 5 - 2008), ThS. Nguyễn Văn Trượng,
Tòa án Quân sự Trung ương có bài viết “Bàn về việc bảo đảm quyền bình đẳng của
luật sư bào chữa khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự”. Bài viết đi sâu
phân tích những quy định của Bộ luật TTHS hiện hành trong việc đảm bảo quyền
bình đẳng của luật sư khi tham gia tranh luận tại phiên tòa, cụ thể là quyền của
người bào chữa được quy định tại Điều 58 Bộ luật TTHS, theo đó quyền của người
bào chữa được quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người bào chữa
khi tham gia tranh luận lại phiên tòa. Trong các giai đoạn của quá trình tố tụng,
người bào chữa còn có các quyền cụ thể được quy định từ giai đoạn điều tra, truy
tố và xét xử vụ án hình sự. Tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo
quyền bình đẳng của luật sư bào chữa khi tham gia tranh tụng tại phiên tòa, cụ thể:
(i) cần nhận thức và xác định đúng vai trò, vị trí của luật sư bào chữa trong TTHS;
(ii)hoàn thiện pháp luật TTHS theo hướng bổ sung thêm quyền của người bào chữa
đã phân tích những điều kiện để được cấp giấy chứng nhận bào chữa. Theo đó, tác
giả phân tích cụ thể Điều 27 Luật luật sư quy định về điều kiện được cấp giấy
chứng nhận bào chữa như: đối với trường hợp luật sư hành nghề trong tổ chức hành
nghề luật sư; đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân; đối với trường hợp luật
sư tham gia bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng; những vướng mắc
về pháp luật khi luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, theo đó thủ
tục cấp giấy chứng nhận bào chữa, thời hạn cấp giấy chứng nhận bào chữa, giá trị
của giấy chứng nhận bào chữa, việc tham gia tố tụng của người tập sự hành nghề
luật sư là những vướng mắc được chỉ ra; đưa ra những đề xuất, kiến nghị sửa đổi Bộ
luật TTHS, cụ thể: giữ nguyên quy định cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư
khi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa; bổ sung quy định về thời hạn
cấp giấy chứng nhận bào chữa trong trường hợp bào chữa cho người bị tạm giữ;
quy định cụ thể hơn về giá trị của giấy chứng nhận người bào chữa; nghiên cứu việc
cho phép người tập sự hành nghề luật sư được tham gia vào một số hoạt động tố
tụng hình sự.
Liên quan đến hoạt động bào chữa của luật sư, ThS. Thẩm phán Nguyễn
Hữu Chính, Phó Chánh án, TAND Tp.Hà Nội công bố bài viết “Những thuận lợi,
khó khăn đối với hoạt động hành nghề luật sư trong giai đoạn xét xử tại Tòa án và
một số giải pháp hoàn thiện” trên Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ II tháng 9/2012 (số
18). Tác giả phân tích vai trò của luật sư trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN, trong đó bằng các hoạt động cụ thể của luật sư với vai trò là người
bào chữa cho bị can, bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự trong các
vụ án kinh tế, lao động…; phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của luật sư trong
quá trình xét xử tại Tòa án, trong đó đưa ra những đánh giá về mặt thuận lợi từ phía
Tòa án, luật sư và những khó khăn làm ảnh hưởng đến vai trò của luật sư trong giai
đoạn xét xử; đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của luật sư trong giai đoạn
xét xử, cụ thể: phải nâng cao chất lượng đào tạo luật sư đặc biệt là chú trọng đào tạo
về kỹ năng hành nghề nói chung và kỹ năng tranh tụng nói riêng; nâng cao trách