Quy chế pháp lý của thương nhân trong kinh doanh du lịch tại việt nam - Pdf 40

đại học quốc gia hà nội
khoa luật

phùng thị thanh hiền

quy chế pháp lý của th-ơng nhân
trong kinh doanh du lịch tại việt nam
Chuyên ngành

: Luật kinh tế

Mã số

: 60 38 50

luận văn thạc sĩ luật học

Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Huy Cương

Hà nội - 2008

1


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang nỗ lực vươn lên
trong tất cả mọi lĩnh vực. Là một đất nước có tiềm lực phát triển kinh tế, có
nguồn tài nguyên dồi dào, với chính sách mở cửa thu hút đầu tư trong nước và
nước ngoài để phát triển kinh tế bền vững, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn

3. Mc tiờu v nhim v nghiờn cu
Lun vn tp trung nghiờn cu cỏc vn lý lun v quy ch phỏp lý
ca thng nhõn trong kinh doanh du lch ti Vit Nam. ỏnh giỏ thc tin
cng nh hiu qu ca cỏc qui nh phỏp lut i vi lnh vc ny, v nờu lờn
nhng kin ngh cú th ỏp dng trong vic hon thin phỏp lut v quy ch
phỏp lý ca thng nhõn trong kinh doanh du lch.
4. Phng phỏp nghiờn cu
Lun vn c hon thnh da trờn cỏc nguyờn tc, phng phỏp lun
ca trit hc Mỏc - Lờnin, t tng H Chớ Minh v cỏc quan im ca ng
ta v nh nc v phỏp lut.
Cỏc phng phỏp nghiờn cu c th c s dng bao gm: Phõn tớch
tng hp; thng kờ; so sỏnh phỏp lut v phõn tớch qui phm mụ hỡnh hoỏ,
in hỡnh hoỏ cỏc quan h xó hi.
5. Kt cu ca lun vn
Ngoi phn m u, kt lun, danh mc ti liu tham kho, ni dung
ca lun vn gm 3 chng:
Ch-ơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về qui chế pháp lý của th-ơng
nhân trong kinh doanh du lịch.
Ch-ơng 2: Thực trạng qui chế pháp lý của th-ơng nhân trong kinh
doanh du lịch ở Việt Nam.
Ch-ơng 3: Một số định h-ớng và giải pháp hoàn thiện qui chế pháp lý
của th-ơng nhân trong kinh doanh du lịch tại Việt Nam.

3


Chng 1
Những vấn đề lý luận cơ bản về qui chế pháp lý
của th-ơng nhân trong kinh doanh du lịch


ban hành năm 2005: Kinh doanh du lịch là kinh doanh dịch vụ bao gồm các
ngành nghề sau đây:
- Kinh doanh lữ hành;
- Kinh doanh lưu trú du lịch;
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch;
- Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch;
- Kinh doanh dịch vụ du lịch khác.
Để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu du lịch, đòi
hỏi cần phải có các loại hình du lịch tương ứng. Vai trò cụ thể của từng loại
hình du lịch này như sau:
1. Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business)
Tồn tại phổ biến hai loại hình sau:
- Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business): Là việc thực hiện
các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn
gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián
tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương
trình và hướng dẫn du lịch.
- Kinh doanh đại lý lữ hành (Travel Agency Business): Là việc thực
hiện các dịch vụ đưa đón, đăng kí nơi lưu trú, vận chuyển, hướng dẫn tham
quan, bán các chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành, cung cấp
thông tin du lịch, tư vấn du lịch nhằm hưởng hoa hồng.
Tuy nhiên cách phân chia trên đây chỉ mang tính tương đối. Không có
nghĩa là tồn tại các doanh nghiệp chỉ kinh doanh lữ hành và đại lý lữ hành với
các hoạt động kể trên. Các doanh nghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ
chức mạng lưới đại lý lữ hành. Trên thực tế các công ty lữ hành du lịch có rất

5


nhiều loại khác nhau, với những hoạt động phong phú, đa dạng, phức tạp và


thường xuyên của mình đến điểm du lịch cũng như là vận chuyển cho khách
du lịch theo tuyến du lịch, theo chương trình du lịch và tại các khu du lịch.
Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh này có nhiều phương tiện khác
nhau như ô tô, tầu hoả, máy bay, tàu thuỷ… Thực tế cho thấy, ít có doanh
nghiệp du lịch nào có thể đảm nhiệm toàn bộ việc vận chuyển khách du lịch
từ nơi cư trú thường xuyên của họ đến điểm du lịch và tại điểm du lịch.
4. Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch
Khu du lịch, điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn. Kinh
doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch bao gồm đầu tư nâng cấp, bảo tồn
các tài nguyên du lịch đã có. Khai thác các tài nguyên du lịch tiềm năng, đầu
tư phát triển khu du lịch, điểm du lịch mới. Kinh doanh xây dựng kết cấu hạ
tầng du lịch, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ du lịch. Khu du lịch, điểm du
lịch được qui hoạch đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của
khách du lịch. Mọi tổ chức cá nhân kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du
lịch được hưởng các chế độ ưu đãi đầu tư, được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giao đất có tài nguyên du lịch phù hợp với dự án, qui hoạch phát triển
du lịch. Trong quá trình kinh doanh phải quản lý, bảo vệ, giữ gìn cảnh quan
thiên nhiên, các di tích lịch sử văn hoá, các công trình sáng tạo của con người,
bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, môi
trường xã hội nhân văn. Xây dựng dự án phải phù hợp với qui hoạch phát
triển du lịch đã được phê duyệt và tuân theo pháp luật về đầu tư.
5. Kinh doanh dịch vụ du lịch khác
Ngoài các hoạt động kinh doanh như đã nêu ở trên trong lĩnh vực
kinh doanh du lịch còn có một số hoạt động kinh doanh bổ trợ như kinh
doanh các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí, bán đồ lưu niệm, tuyên truyền,
quảng cáo du lịch, tư vấn, đầu tư du lịch…
1.1.2. Đặc điểm của kinh doanh du lịch
- Du lịch, dịch vụ là ngành kinh tế có hiệu quả cao, tỷ lệ lợi nhuận trên
vốn rất cao, thời gian thu hồi vốn nhanh, song đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn.

ràng minh bạch, giảm bớt các thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý thông
thoáng, công bằng và các chính sách ưu đãi để đảm bảo:

8


- Thu hút được được nhiều nhà đầu tư trong nước và quốc tế tham gia
đầu tư và phát triển du lịch
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển được kinh tế đất nước
- Phát triển và bảo vệ được tài nguyên du lịch
- Củng cố và phát triển giao lưu quốc tế
Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2007:
- Khách du lịch quốc tế ước đạt 4,2 triệu lượt, tăng 17,2 % so với năm 2006.
- Khách du lịch nội địa ước đạt 19,2 triệu lượt, tăng 9,7% so với năm 2006.
- Thu nhập xã hội về du lịch năm 2007 đạt 56 nghìn tỷ đồng, tăng
9,8% so với năm 2006.
- Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển với nhịp độ tăng trưởng
cao (8,5%).
Nhận thấy sự cần thiết phải xây dựng qui chế pháp lý cho thương
nhân trong kinh doanh du lịch, Nhà nước đã ban hành Luật Du lịch năm 2005.
Trong luật quy định nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai,
tài chính, tín dụng với tổ chức cá nhân đầu tư vào một số lĩnh vực du lịch. Qui
định các lĩnh vực nhà nước thực hiện và các lĩnh vực nhà nước hỗ trợ để phát
triển du lịch, trong đó chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, công tác xúc tiến, quảng
bá quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch. Cho phép thành lập quỹ
hỗ trợ phát triển du lịch… Trên cơ sở những chính sách cơ bản này, Chính
phủ sẽ ban hành một cơ chế, chính sách cụ thể, áp dụng trong một giai đoạn
nhất định để tạo ra bước đột phá trong phát triển du lịch.
Nhà nước quan tâm hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch.
Trong năm 2007, Nhà nước đã hỗ trợ đầu tư 750 tỷ đồng cho 59 tỉnh, thành

nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng của các dịch vụ du lịch, đảm bảo
quyền lợi của khách du lịch.
Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam được bầu là thành viên không
thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế được nâng cao đã mở ra những vận hội to lớn cho đất nước.

10


Việt Nam tiếp tục được thế giới đánh giá là một đất nước ổn định, hoà bình,
một điểm đến an toàn, thân thiện. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật
trong lĩnh vực kinh doanh du lịch có ý nghĩa quan trọng, tạo môi trường pháp
lý ổn định cho các hoạt động du lịch, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về
du lịch trong bối cảnh du lịch Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng, toàn
diện với khu vực và thế giới. Thực hiện những cam kết với WTO trong lĩnh
vực dịch vụ du lịch yêu cầu cần xây dựng các văn bản pháp luật và các văn
bản có liên quan điều chỉnh phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện để du
lịch hội nhập toàn diện vào thị trường quốc tế. Thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài và thuận tiện cho khách nước ngoài đến Việt Nam.
1.2. KHÁI LUẬN VỀ THƢƠNG NHÂN VÀ QUI CHẾ PHÁP LÝ CỦA
THƢƠNG NHÂN

1.2.1. Khái niệm và phân loại thƣơng nhân
1.2.1.1. Khái niệm thương nhân
Thương nhân là chủ thể thông thường của luật thương mại. Vì vậy khi
xây dựng đạo luật về thương mại nói chung và các lĩnh vực khác nhau của
luật thương mại nói riêng nhà làm luật thường chú trọng đến hai mảng lớn là
thương nhân và hành vi thương mại, mà trong đó qui chế pháp lý của thương
nhân là không thể thiếu.

phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, Hà Nội.
7. Quốc hội (2005), Luật Du lịch, Hà Nội.
8. Quốc hội (2005), Luật Doanh nghiệp, Hà Nội.
9. Quốc hội (2005), Luật Đầu tư, Hà Nội.
10. Quốc hội (2005), Luật Thương mại, Hà Nội.
11. Quốc hội (2007), Luật Thuế giá trị gia tăng, Hà Nội.
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC

12. Hải Anh (2007), "Xây dựng cơ chế chính sách thu hút đầu tư vào khu du
lịch", Du lịch, (3).

12


13. Thanh Bình (2007), "Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực du lịch", Du lịch, (5).
14. Bộ Tài chính (1998), Quyết định số 855/1998/QĐ-BTC ngày 16/7 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính quy định về hóa đơn mua bán hàng hóa, Hà Nội.
15. Ngô Huy Cương (2000), "Luật Thương Mại: Khái niệm và phương pháp
điều chỉnh", Nghiên cứu lập pháp, (3).
16. Ngô Huy Cương (2002), "Hành vi thương mại", Nghiên cứu lập pháp, (1).
17. Trần Đình Hảo (2002), "Thương gia theo luật Hoa Kỳ", Nhà nước và
pháp luật, (2).
18. Francis Lemeunier (1993), Nguyên lý và thực hành luật thương mại, luật
kinh doanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Friedrich Kũbur và Jügen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế
Cộng hòa Liên bang Đức, Nxb Pháp lý, Hà Nội.
20. Phạm Duy Nghĩa (2002), Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
21. Nguyễn Như Phát, Ngô Huy Cương (2004), Những khác biệt giữa luật
thương mại Việt Nam và các chế định pháp luật thương mại các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status