Nghiên cứu sử dụng enzyme cho sản xuất bột giấy hóa nhiệt cơ tẩy trắng từ gỗ keo tai tượng - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
----------------------------ĐỖ THANH TÚ

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG ENZYME CHO SẢN XUẤT BỘT GIẤY
HÓA-NHIỆT-CƠ TẨY TRẮNG TỪ GỖ KEO TAI TƯỢNG

Chuyên ngành: Kỹ thuật hóa học

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
KỸ THUẬT HÓA HỌC

\

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ QUANG DIỄN

HÀ NỘI – 2012

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu nghiên cứu của đề tài là hoàn toàn trung
thực. Các thí nghiệm được tiến hành một cách nghiêm túc trong quá trình nghiên cứu,
không có sự sao chép từ bất kỳ tài liệu khoa học nào, các tư liệu tham khảo đều được
sự đồng ý của các đồng tác giả.
Tác giả
KS. Đỗ Thanh Tú

2

11

1.1

Tổng quan về công nghệ sản xuất bột cơ học tẩy trắng ……………….

11

1.1.1 Công nghệ sản xuất bột giấy perôxy-kiềm (APMP) ……………………

13

1.1.2 Dây chuyền sản xuất bột hiệu suất cao tẩy trắng ………………………

21

1.1.3 Cây keo tai tượng – nguyên liệu sản xuất bột giấy……………………..

24

Tổng quan về sử dụng enzym cho nghiền và tẩy trắng bột giấy………..

25

1.2

1.2.1 Enzym và cơ chế hoạt động của enzym ………………………………

25


53

2.2.1 Mô tả phương pháp nghiên cứu………………………………. ………..

53

2.2.2 Phân tích tính chất cơ lý của bột giấy…………. ………………….........

54

Chương III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN ……………

55

3.1

Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý enzym…….………………………….

3.1.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý enzym LBR…..……………

55
56

3


3.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mức dùng enzym LBR

58


Đánh giá sơ bộ hiệu quả tiết kiệm năng lượng…………………………

71

3.5

Sản xuất giấy in, viết từ bột hóa nhiệt cơ tẩy trắng ……………………

73

KẾT LUẬN ………………….…………………………………………….....

76

TÀI LIỆU THAM KHẢO.……………………………………………………

77

PHỤ LỤC.……………………………………………………………………..

80

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTMP

Bột hóa nhiệt cơ (Chemi-thermo-mechanical Pulp)

BCTMP Bột hóa nhiệt cơ tẩy trắng (Bleached Chemi-thermo-mechanical Pulp )
APMP



Chelation stage,
Xử lý bột giấy bằng các chất tạo phức

X

Xylanase treatment stage,
Xử lý bột giấy bằng xylanaza

Z

Ozone stage,
Tẩy trắng bằng ozon (O3)

ADt

Tấn khô gió (air dry tonne)

BDt

Tấn khô tuyệt đối (bone dry tonne)

KTĐ

Khô tuyệt đối

ISO

International Organization for Stadardization


Các nghiên cứu chính được tiến hành với các loại enzym

31

trong quá trình nghiền bột giấy
Bảng 1.6

Tác dụng của enzym lên một số thành phần gỗ

42

Bảng 1.7

Một số loại xylanaza thương phẩm

43

Bảng 2.1

Một số thông số kỹ thuật của hai loại enzym thương phẩm

52

5


Bảng 3.1

Ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý enzym tới tính chất cơ lý của


giấy
Bảng 3.6

Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzym đến tính chất cơ lý của

67

bột giấy
Bảng 3.7

Ảnh hưởng của mức dùng H2O2 đến độ trắng và tính chất cơ

71

lý của bột giấy
Bảng 3.8

So sánh điện năng tiêu thụ trong quá trình nghiền bột giấy

72

Bảng 3.9

Tính chất cơ lý của giấy in, viết

75

6



48

Hình 1.6

Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt độ của enzym

49

Hình 3.1

Ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý enym tới độ nghiền bột giấy

58

Hình 3.2

Ảnh hưởng của mức dùng enzym tới độ nghiền bột giấy

59

Hình 3.3

Ảnh hưởng của thời gian xử lý enzym đến độ nghiền bột giấy

61

Hình 3.4

Ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý enzym tới độ trắng của bột


peroxit-kiềm trước khi nghiền và nghiền bột có bổ sung hỗn hợp peroxit-kiềm được
cấp bằng sáng chế vào năm 2000. So với công nghệ APMP và BCTMP truyền thống,
công nghệ P-RC-APMP cho phép sản xuất được bột có độ trắng và độ bền cao hơn,
tiêu thụ năng lượng thấp hơn. Hiện nay, công nghệ P-RC-APMP đã được áp dụng
thành công vào sản xuất công nghiệp ở nhiêu nước trên thế giới như Estonia, Trung
Quốc, Brazil v.v…
Việc ứng dụng enzym trong quá trình sản xuất bột cơ học đã được nghiên cứu
và ứng dụng từ những năm 1950 tại công ty Virginia Pulp and Paper khi các nhà khoa
học và kỹ thuật của công ty đã sử dụng nấm mục trắng để xử lý mảnh trước khi sản
xuất nhằm tiết kiệm năng lượng nghiền. Năm 1970 Eriksson và các cộng sự tại
Swedish Forest Product Laboratory cũng đã nghiên cứu thành công trong việc sử dụng
một số loại nấm trong công đoạn xử lý dăm mảnh nhằm tiết kiệm năng lượng nghiền.
Từ đó đến nay đã có rất nhiều công trình của các nhà khoa học nhằm ứng dụng các
nấm trong tự nhiên cũng như các enzym được phân lập, nuôi cấy, sản xuất thương
phẩm trong lĩnh vực bột cơ học. Hầu hết các ứng dụng công nghệ sinh học đã khẳng
định được tính ưu việt của mình đó là hiệu quả kinh tế và giảm được đáng kể các hóa

8


chất, năng lượng sử dụng, nhờ đó làm cho công nghiệp sản xuất bột giấy ngày càng trở
nên thân thiện môi trường hơn.
Vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng enzym cho sản xuất bột hóa nhiệt cơ tẩy trắng
từ gỗ keo tai tượng là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu là cơ sở áp dụng cho các nhà
máy sản xuất bột hóa nhiệt cơ tẩy trắng ở trong nước.
Mục tiêu đề tài:
Thiết lập ảnh hưởng của xử lý enzyme tới quá trình nghiền và tính chất của bột
giấy từ gỗ keo tai tượng.
Đối tượng nghiên cứu:
Bột giấy hóa nhiệt cơ chưa tẩy trắng sản xuất thử nghiệm của Đề tài “Nghiên

VÀ SỬ DỤNG ENZYM CHO NGHIỀN, TẨY TRẮNG BỘT GIẤY

1.1 Tổng quan về công nghệ sản xuất bột cơ học tẩy trắng
Trong công nghiệp sản xuất bột giấy, có hai phương pháp chính là phương pháp
hoá học (phương pháp axít và phương pháp kiềm) và phương pháp cơ học. Theo con
đường hoá học (sử dụng tác nhân hóa học để tách loại lignin) để thu lại bột giấy chứa
chủ yếu là xenluloza. Đối với bột giấy cơ học thì xơ sợi được tách ra bằng phương
pháp cơ học (mài hoặc nghiền) nên các thành phần hóa học trong xơ sợi gần như còn
giữ nguyên. Hiệu suất thu hồi bột đối với bột cơ học rất cao đạt từ 90 – 98%, chi phí
thấp đồng thời bột có những tính chất mà bột hóa học không có như: độ đục rất cao,
khả năng thấm hút mực in rất tốt nên thường được sử dụng trong một số sản phẩm như:
giấy in báo, giấy in không tráng (SC), giấy in tạp chí có tráng nhẹ (LWC), giấy dán
tường, giấy in giấy viết thông thường...
Nhìn chung công nghệ sản xuất bột cơ học đã có bề dầy lịch sử hơn 150 năm và
luôn được cải tiến và phát triển không ngừng, cho ra đời những công nghệ và thiết bị
hiện đại, tiên tiến đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về các sản phẩm giấy của người
tiêu dùng.
Công nghệ bột cơ học có lẽ đầu tiên bắt đầu bằng ý tưởng của J.Ch.Shäffer
(người Đức) ngay đầu thế kỷ 18 khi ông phát hiện ra mùn cưa và các sản phẩm thừa từ
gỗ đem nghiền nhỏ có thể sản xuất giấy. Mặc dù vậy, mãi sau này công nghệ mới này
mới được thừa nhận, khi Friedrich Gottlod Keller (1816 - 95) và Charles Fenerty
(1821-92) khám phá ra bột gỗ nghiền và lần đầu tiên áp dụng. Năm 1843, Keller cho ra
đời thế hệ máy nghiền đầu tiên là: lô nghiền bằng đá và hoạt động bằng tay quay.

11


Trải qua nhiều năm, từ nguyên mẫu ban đầu, hệ thống máy móc đã có rất nhiều
cải tiến. Từ năm 1852 đến 1867, Heninrich Voelter và Jonhann Matthäus Voith đã
phát triển thành một hệ thống sản xuất hoàn chỉnh bao gồm: bộ phận mài bột, bột phận

chuyền có thể đạt hàng trăm ngàn tấn/năm.
Để thu được bột có độ trắng cao đáp ứng được nhu cầu sản xuất giấy in giấy viết
và các sản phẩm giấy đặc biệt yêu cầu độ đục và trắng cao, bột cơ học sau khi qua các
công đoạn nghiền được tẩy trắng bằng đithionit, hydroperoxyt hoặc kết hợp cả hai.
Hiện nay phần lớn các nhà máy bột giấy cơ học có công suất lớn trên thế giới
đều áp dụng công nghệ BCTMP, APMP. Đặc biệt một số công nghệ cải tiến từ APMP
như công nghệ: peroxyt kiềm có tiền xử lý hoá chất khi nghiền (P-RC-APMP) do công
nghệ này tiết kiệm về đầu tư và chi phí điện năng, lượng COD thải ra môi trường thấp
trong khi chất lượng bột cao, khả năng tẩy trắng tới độ cao tốt hơn (bột sau tẩy có độ
trắng có thể đạt tới 89%ISO, tùy theo từng loại nguyên liệu), hệ số tán xạ ánh sáng tốt
hơn (tại cùng một độ trắng, độ bền). Một trong những hãng nổi tiếng về công nghệ và
thiết bị sản xuất bột cơ học là hãng Andritz.
1.1.1 Công nghệ sản xuất bột giấy perôxyt – kiềm (APMP)
Trong những năm qua để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của khách hàng về sản
lượng và chất lượng bột cơ học, các nhà sản xuất bột CTMP đã phải bổ sung một số
công đoạn vào dây chuyền sản xuất như rửa, tẩy trắng nhiều giai đoạn liên tiếp, nhằm
giảm thành phần nhựa và nâng cao độ trắng của bột giấy.
Để giải quyết mâu thuẫn này, ngay từ nhưng năm 80 của thế kỷ trước, các nhà
khoa học và sản xuất đã nghiên cứu, cải tiến công nghệ sản xuất bột giấy cơ học (MP)
thành bột giấy cơ học perôxít kiềm (Alkaline peroxide mechanical pulp: APMP). Do
đó, một số tính chất của bột APMP tương đương và có phần trội hơn, đặc biệt là độ
trắng cao hơn so với bột giấy hóa nhiệt cơ tẩy trắng (BCTMP).
Thực chất, công nghệ sản xuất bột APMP là công nghệ sản xuất BCTMP cải
tiến, thay vì dăm mảnh chỉ được thẩm thấu bằng dung dịch kiềm thì dăm mảnh được

13


thẩm thấu bằng dung dịch kiềm – perôxyt. Bên cạnh quá trình trích ly nhựa, làm trương
nở, mềm hóa dăm mảnh thì quá trình tẩy trắng cũng được diễn ra trước khi nguyên liệu

4,0

Năng lượng, MWh/t

1,72

1,22

Độ nghiền CSF, ml

77

77

Tỷ trọng, kg/m3

555

558

Chỉ số xé, mNm2/g

6,3

6,3

Chỉ số độ bền kéo, Nm/g

58


Co.Ltd; Gaotang Paper Group (Shandong); QiQiHar Paper mill (Jilin); Baoshan Paper
Mill (Yunnan); Yalujiang Paper Mill (Dandong); Yibin Paper Mill (Sichuan);
Yincheng Paper Mill (Liaoning) ), ở Iran (Maragheh Pulp & Paper Ind. Co., (Tehran);
Gharb Paper Ind Co., (Tehran)), ở Canada (Millar Western (Meadow Lake); Malette
paper Mill (St. Raymond); Millar Western (Whitecounrt)); ở Costa Rica (Scott Paper),
ở Mỹ (Appleton Paper (Combined Locks)....phần lớn công nghệ và thiết bị các dây
chuyền trên đều do công ty Andritz Inc. cung cấp.
Với công nghệ P-RC-APMP ngoài quá trình tiền xử lý dăm mảnh bằng dung dịch
kiềm – peroxyt trước khi nghiền, do có quá trình xử lý hóa chất trong khi nghiền (RC)
nên đã tăng cường quá trình phối trộn ở nồng độ cao và nhiệt độ cao tạo điều kiện cho
phản ứng tẩy trắng xảy ra triệt để trong thời gian rất ngắn nên công nghệ này cho bột
có độ trắng rất cao. Tùy theo yêu cầu mà bột có thể được bổ sung thêm 1 – 2 giai đoạn
tẩy trắng, độ trắng của bột thu được có thể đạt tới 89%ISO, tính chất cơ lý của bột hơn
hoặc tương đương với bột sản xuất bằng công nghệ APMP, BCTMP song tiết kiệm
năng lượng nghiền, lượng COD, BOD trong nước thải thấp và nước thải dễ xử lý hơn.
Bản chất của quá trình tẩy trắng bột cơ học là song song với quá trình loại bỏ
một phần lignin thì chủ yếu là quá trình làm mất màu các nhóm mang màu có trong
lignin và các hợp chất có nguồn gốc từ lignin sinh ra trong quá trình sản xuất bột. Đại
phân tử lignin không mang màu song thành phần của nó có các tập hợp liên kết chưa
bão hoà, mang màu như: nhóm cacbonyl, nhóm etylenic, các vòng aromatic... [10], khi
có mặt của các nhóm trợ màu thì cường độ màu sắc của chúng tăng lên khá nhiều.
Đối với bột cơ học, quá trình tẩy trắng chủ yếu được áp dụng theo hai phương
pháp: phương pháp khử hoặc phương pháp oxy hoá. Hai phương pháp này có thể sử
dụng kết hợp với nhau. Tác nhân tẩy trắng mang tính khử thường sử dụng là: bisunphit,

15


đithionit, bohyđro...song chất hay được sử dụng nhất là natri hyđrosunphit (Na2S2O4)
với mức dùng 0,5 – 1% tại nồng độ 5 – 10%, nhiệt độ 600C và trong thời gian 60 phút.


phản ứng phân ly qua sản phẩm trung gian là các peroxyt silicat HOO-.SiO3 không bền
trong nước có tác dụng oxxy hoá mạnh hơn nhiều so với peroxyt. Bên cạnh việc sử
dụng hỗn hợp Na2SiO3 và MgSO4 thêm vào trong dịch tẩy để hạn chế tới mức tối đa
ảnh hưởng của các kim loại chuyển tiết người ta còn bổ xung thêm một giai đoạn xử lý
bột (giai đoạn Q) trước khi tẩy bằng một số hợp chất như: EDTA, DTPA, HEDTA,
DTPMA... Giai đoạn chelat hoá thường được tiến hành ở nồng độ tương đối thấp do
khả năng tạo phức tại nồng độ thấp tốt hơn, nồng độ thường dùng là 5% . Nhiệt độ tiến
hành khoảng 600C. Giai đoạn Q này có thể kết hợp cùng với giai đoạn peroxyt (P).
Bảng 1.2 So sánh tính chất bột giấy P-RC-APMP, BAP-TMP và BCTMP*
Chỉ số

Loại bột
P-RC-APMP

BAP-TMP

BCTMP

1. Hóa chất
+ Tổng NaOH, %

3,4

5,3

6,7

4,4


-

1,2

1,2

+ Độ nghiền CSF,ml

311

242

232

254

311

252

239

+ Chỉ số bục, kPa.m2/g

0,66

1,38

2,72


84,7

82,7

85,5

76,7

84,3

+ Độ đục, %

86,0

82,8

80,7

84,8

80,0

85,7

81,3

+ Độ tán xạ ánh sáng,

59,0


Từ bãi nguyên liệu, các khúc nguyên liệu được xe cạp vào mâm phân phối. Từ
đây, nguyên liệu được cấp vào hệ thống băng tải xích, băng tải cao su chuyển tới tang
bóc vỏ (kiểu ướt hoặc khô). Các khúc nguyên liệu được bóc sạch vỏ, các khúc nguyên
liệu không hợp cách (quá cỡ, có lẫn kim loại hoặc quá ngắn) được loại ra khỏi hệ thống
băng tải. Khúc nguyên liệu được chặt trong máy cắt dăm dạng mâm dao. Mảnh nguyên
liệu thoát ra từ máy cắt mảnh được tách bụi bởi xyclon và sàng trên hệ thống sàng.
Mảnh hợp cách được băng tải chuyển tới bãi chứa mảnh. Mảnh qúa cỡ được quay lại
máy cắt mảnh lại, mảnh quá nhỏ cùng với bụi được thu gom tới đốt ở lò hơi.
* Xông hơi mảnh nguyên liệu
Mảnh nguyên liệu từ bãi nguyên liệu được chuyển tới bình gia nhiệt sơ bộ bằng
băng tải. Tại đây mảnh nguyên liệu được xông hơi sơ bộ bằng hơi thu hồi từ hệ thống
nghiền và hơi áp suất thấp. Dưới tác dụng nhiệt của hơi nước, các phân tử lignin dần
bão hoà nước và trở nên nềm hơn tạo điều kiện cho quá trình nghiền tách xơ sợi sau
này. Nhiệt độ lignin bắt đầu chuyển sang trạng thái mềm là khoảng 80 – 900C, tuỳ từng
quy trình sản xuất bột cơ mà người ta có thể sử dụng hơi có nhiệt độ 100 – 1500C.
Thời gian xông hơi đảm bảo cho lượng không khí thoát hết ra khỏi các mao
mạch của dăm mảnh khoảng 15 –20 phút.
Tiếp đó mảnh nguyên liệu được chuyển dần tới máy rửa mảnh bằng hệ thống vít
tải. Quá trình rửa nhằm tách bỏ cát sạn bám trên mảnh. Cát sạn từ hệ thống rửa sẽ được
lọc tách ra ngoài, nước sạch được tuần hoàn lại hệ thống rửa. Nguyên liệu sau rửa được

18


vắt ép tách nước và qua hệ thống vít tải tới phễu nạp liệu vào bình gia nhiệt. Tại đây
mảnh nguyên liệu được xông hơi trực tiếp trong một thời gian nhất định trước khi được
vít nạp đặc biệt nạp vào thiết bị thẩm thấu hoá chất
* Thẩm thấu hoá chất
Thiết bị thẩm thấu hoá chất có dạng trụ đặt thẳng đứng hoặc nghiêng với vít tải
kép, nguyên liệu đi ngược từ dưới lên, dịch thẩm thấu gồm hỗn hợp NaOH, DTPA,

* Sàng chọn và làm sạch
Bột từ bể chứa tiếp tục được pha loãng trước khi được bơm tới sàng áp lực .Các
mảnh nguyên liệu còn sót lại và búi xơ sợi được tách ra, qua hệ thống sàng cong, cô
đặc và được nạp trở lại vào giai đoạn nghiền thứ 2. Bột tốt sau sàng được đưa tới hệ
thống lọc cát nồng độ thấp 2 hoặc 3 cấp nhằm loại bỏ cát sạn. Bột sau khi đã được làm
sạch được đưa vào máy cô đặc, bột được chứa trong các tháp chứa trước khi chuyển tới
hệ thống chuẩn bị bột của máy xeo hoặc tới hệ thống tẩy trắng bột (đối với bột yêu cầu
độ trắng cao sẽ được tẩy trắng 1 – 2 giai đoạn)
*Tẩy trắng bột
Tuỳ từng loại nguyên liệu cũng như yêu cầu chất lượng bột cho các mục đích sử
dụng nhất định mà bột APMP, P-RC-APMP sẽ được tẩy trắng thêm với mức dùng hoá
chất nhất định.
Bột từ bể chứa sau thiết bị cô đặc được chuyển tới thiết bị trộn hoá chất và gia
nhiệt tới nhiệt độ nhất định theo yêu cầu kỹ thuật trước khi chuyển vào tháp tẩy. Tuỳ
công nghệ mà quá trình tẩy có thể được tiến hành tẩy một giai đoạn hoặc 2 giai đoạn
với các loại hoá chất tẩy khác nhau như H2O2 hoặc đithionit. Bột sau tẩy ở giai đoạn
cuối cùng được rửa sạch và trung hoà bằng khí SO2 hoặc axit sunphuric trước khi tới
bể chứa.
* Tồn trữ bột
Đối với các nhà máy sản xuất bột APMP, P-RC-APMP thương phẩm, bột sau rửa
được sàng chọn – làm sạch một lần nữa bằng hệ thống sàng áp lực và lọc cát nồng độ

20


thấp. Bột được cô đặc, vắt ép tới nồng độ khoảng 30 -35% sẽ được phun vào hệ thống
hầm sấy để sấy khô (nhiệt sấy thường sử dụng khí nóng từ quá trình đốt khí ga từ hệ
thống xử lý nước thải kỵ khí và khí ga bổ sung từ ngoài). Bột khô sẽ được ép, đóng
bành và bao gói. Do bột có hiệu suất rất cao, hàm lượng lignin gần như không thay đổi
nên độ trắng của bột sẽ dần bị thay đổi dưới tác dụng của môi trường nên thời gian tồn


30

+ Nhiệt độ, 0C:

85

+ Tỷ dịch:

1:5

+ Hiệu suất thẩm thấu, %

96

3. Giai đoạn nghiền thứ cấp:
+ Nồng độ nghiền, %:

10 – 15

+ Độ nghiền bột giấy, 0SR:

20- 25

21


Hình 1.1 Sơ đồ công nghệ sản xuất thực nghiệm

t thực nghiệm


180

+ Nồng độ, %:

12

Nghiền sơ bộ
(1)

Nghiền thô
HD (6)

Bãi chứa
(2)

Vít tải bột vào
nghiền (5)

Băng tải
(3)
Hơi, hóa
chất
Tháp xông
hơi, TT(4)

Bể chứa
(7)

Lưới nghiêng

Chỉ tiêu

Bột tẩy trắng

1

Độ trắng, %ISO

76,5

2

Hiệu suất bột,%

90,2

3

Chiều dài đứt, m

3840

4

Chỉ số bục, kPa.m2/g

2,20

5


1.2 Tổng quan về sử dụng enzym cho nghiền và tẩy trắng bột giấy
1.2.1 Enzym và cơ chế hoạt động của enzym
1.2.1.1 Giới thiệu chung về enzym
Trong cuộc sống sinh vật xảy ra rất nhiều phản ứng hóa học với hiệu suất rất
cao, mặc dù ở điều kiện bình thường về nhiệt độ, áp suất, pH. Sở dĩ như vậy vì nó có
sự hiện diện của chất xúc tác sinh học được gọi chung là enzym. Enzym là chất xúc tác
sinh học có thành phần cơ bản là protein. Trong các phản ứng này, các phân tử lúc bắt
đầu của quá trình được gọi là cơ chất (substrate), enzym sẽ biến đổi chúng thành các
phân tử khác nhau. Tất cả các quá trình xảy ra trong tế bào đều cần enzym. Enzym có
tính chọn lọc rất cao đối với cơ chất của nó.
Loài người đã từ lâu dùng enzym để lên men trong sản xuất bánh mỳ, bia, nước
chấm… Đầu thế kỷ 19 Kiecgo (Nga) đã tách được chế phẩm gây ra hiện tượng lên men
chuyển hóa tinh bột. Khoảng 30 năm gần đây người ta đã tổng hợp được enzym. Hiện
nay, thế giới đã sản xuất được mỗi năm hàng triệu tấn chế phẩm enzym các loại đem
lại hiệu qủa kinh tế cao và ứng dụng trong nhiều ngành nghề như nông - lâm - ngư
nghiệp, dược phẩm .v.v..
Enzym có trong động vật, thực vật và nhiều là vi sinh vật. Enzym có thể có ngẫu
nhiên hoặc do hoạt động của các vi sinh vật tiết ra. Ngày nay, chế phẩm enzym rất đa
dạng, ví dụ như glucoamylaza,∝-amylaza, β-amylaza,pectate–lyaza, xellulaza…Nhờ
kỹ thuật cố định enzym nên có thể sử dụng enzym được nhiều lần.
Hầu hết phản ứng được xúc tác bởi enzym đều có tốc độ cao hơn nhiều so với
khi không được xúc tác. Có trên 4000 phản ứng sinh hóa được xúc tác bởi enzym và
hoạt tính của enzym chịu tác động bởi nhiều yếu tố. Chất ức chế là các phân tử làm
giảm hoạt tính của enzym, trong khi yếu tố hoạt hóa là những phân tử làm tăng hoạt
tính của enzym.

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status