LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Số liệu sử dụng trong Luận án là
trung thực. Những kết quả của Luận án chưa từng
được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.
Tác giả của Luận án
Nguyễn Tố Tâm
i
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa,
PGS.TS Lê Thị Hoà – người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn Tác giả
trong suốt quá trình thực hiện Luận án.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu của các
chuyên gia thuộc Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu. Tác giả xin cảm ơn các công ty niêm yết
thuộc Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã dành thời gian trả lời
phiếu khảo sát.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô trong Bộ môn Kiểm
toán, Viện Kế toán – Kiểm toán – Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã đóng góp ý
kiến sửa chữa Luận án, cảm ơn quý thầy cô của Viện Đào tạo Sau đại học đã tạo
điều kiện giúp đỡ Tác giả trong quá trình học tập tại Trường.
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các đồng nghiệp Khoa Tài chính
Kế toán – Trường Đại học Điện lực đã giúp đỡ, động viên trong suốt thời gian
nghiên cứu.
Cuối cùng, Tác giả bày tỏ sự cảm ơn tới những người thân trong gia đình:
cha, mẹ, anh, chị, em, chồng và các con đã động viên, khích lệ Tác giả trong suốt
niêm yết ................................................................................................. 21
2.2.3. Vai trò của chất lượng thông tin kế toán tài chính của công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán ................................................................. 25
2.2.4. Một số nguyên nhân chính các công ty niêm yết cung cấp thông tin kế
toán tài chính kém chất lượng .............................................................. 27
iii
2.3. Tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết
31
2.3.1. Xác định nội dung tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin kế toán tài
chính.......................................................................................................32
2.3.2. Lượng hoá chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm
yết...............................................................................................................
32
2.3.3. Tổ chức kiểm soát nội bộ đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính
của các công ty niêm yết ....................................................................... 45
2.3.4. Tổ chức kiểm soát nhà nước đối với chất lượng thông tin kế toán tài
chính của các công ty niêm yết ............................................................. 61
Kết luận chương 2...................................................................................................73
CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC KIỂM SOÁT ĐỐI
VỚI CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ..................... 74
3.1. Nguồn dữ liệu nghiên cứu.............................................................................74
3.2. Phương pháp nghiên cứu định tính...............................................................75
3.2.1. Nghiên cứu tài liệu................................................................................. 75
3.2.2. Nghiên cứu tình hình thực tiễn.............................................................. 76
3.2.3. Phỏng vấn chuyên gia............................................................................ 77
3.2.4. Tổng hợp, phân tích................................................................................77
3.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng............................................................78
THIỆN TỔ CHỨC KIỂM SOÁT NHẰM TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG
THÔNG TIN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ........................................................... 118
5.1. Phân tích kết quả nghiên cứu................................................................................118
5.1.1. Chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam .................................................................................... 118
5.1.2. Tổ chức kiểm soát nội bộ và mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát nội bộ đối với
chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam .................................................................................... 125
v
5.1.3. Tổ chức kiểm soát nhà nước và mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát nhà nước
đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam ........................................................................ 131
5.2. Các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin
kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
133
5.2.1. Sự cần thiết tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua hoàn thiện tổ chức
kiểm soát nội bộ và kiểm soát nhà nước ......................................................... 133
5.2.2. Quan điểm xây dựng các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng
cường chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam ........................................................................ 134
5.2.3. Các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông
tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam
135
Phụ lục 05- Bảng thu thập lượng hoá chất lượng thông tin kế toán tài chính các
công ty niêm yết trên SGDCK TPHCM............................................................... lvi
Phụ lục 06 - Danh sách các công ty niêm yết thuộc diện theo dõi đặc biệt (trích
dẫn)
.......................................................................................................................
lix
Phụ lục 07 - Danh sách các công ty niêm yết vi phạm công bố thông tin tài chính
(trích dẫn) .............................................................................................................. lx
Phụ lục 08 - Bảng thu thập lượng hoá các thành phần tổ chức KSNB ảnh hưởng
tới chất lượng thông tin KTTC các công ty niêm yết trên SGDCK TPHCM ......
lxi Phụ lục 09 - Bảng thu thập lượng hoá ảnh hưởng của tổ chức KSNN tới chất
lượng thông tin KTTC các công ty niêm yết trên SGDCK TPHCM .................
lxiii
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Giải thích thuật ngữ
BCTC
Báo cáo tài chính
BGĐ
IFRS
International Financial Reporting Standards
Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế
KSNB
Kiểm soát nội bộ
KSNN
Kiểm soát Nhà nước
KTNB
Kiểm toán nội bộ
KTTC
Kế toán tài chính
PCAOB
Public company accounting oversight board
Ban Giám sát kiểm toán công ty đại chúng
SEC
U.S. Securities and Exchange Commision
Ủy ban chứng khoán Mỹ
.................................................................................................................................. 58
Bảng 2.4. Lượng hoá ảnh hưởng của các thành phần trong tổ chức kiểm soát nội bộ
.................................................................................................................................. 59
Bảng 4.1. Bảng thống kê số lượng CTNY trên SGDCK TPHCM trong giai đoạn
2008-2012.................................................................................................................. 85
Bảng 4.2. Phân loại CTNY trên SGDCK TPHCM theo nhóm ngành tính đến ngày
31/12/2012................................................................................................................. 86
Bảng 4.3. Thống kê tỷ lệ các loại ý kiến kiểm toán đối với BCTC của các CTNY
phi tài chính trên SGDCK TPHCM (2008 -2012) ................................................... 89
Bảng 4.4. Nội dung các ý kiến chấp nhận từng phần đối với BCTC các các CTNY
phi tài chính trên SGDCK TPHCM (2008 -2012) .................................................... 90
Bảng 4.5. Lượng hoá các tiêu chuẩn chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi
tài chính của SGDCK TPHCM ................................................................................. 95
Bảng 4.6. Lượng hoá chất lượng thông tin KTTC các CTNY phi tài chính trên
SGDCK TPHCM .................................................................................................... 100
Bảng 4.7. Lượng hoá các thành phần trong tổ chức KSNB của CTNY phi tài chính
trên SGDCK TPHCM ............................................................................................. 102
Bảng 4.8. Lượng hoá tổ chức KSNB của các CTNY phi tài chính trên SGDCK
TPHCM
105
Bảng 4.9. Ảnh hưởng tổ chức KSNB với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY
phi tài chính trên SGDCK TPHCM ........................................................................ 106
Bảng 4.10. Mối tương quan giữa tổ chức KSNB với chất lượng thông tin KTTC của
các CTNY phi tài chính trên SGDCK TPHCM ..................................................... 107
x
ảnh hưởng xấu nền kinh tế. Tại Việt Nam, sự đổ vỡ của “bong bóng” thị trường bất
động sản trong thời gian qua đã ảnh hưởng tới TTCK Việt Nam nói riêng và toàn bộ
nền kinh tế Việt Nam nói chung.
Trong những năm qua, TTCK Việt Nam đã trở nên quen thuộc với các nhà
đầu tư trong nước vì nó được coi là một trong những phương thức đầu tư hợp lý.
Giá cả chứng khoán tăng cao rồi giảm xuống nhanh chóng trong những năm qua
làm niềm tin của các nhà đầu tư vào giá trị của các công ty giảm nhanh chóng vì giá
trị một loại cổ phiếu giảm sút phản ánh giá trị thực của CTNY tương ứng. Nhà đầu
tư quan tâm đến chất lượng thông tin tài chính, đặc biệt là thông tin kế toán tài
chính (KTTC) được trình bày trong báo cáo tài chính (BCTC) của CTNY vì đây là
nguồn thông tin quan trọng để họ đánh giá tình hình tài chính của công ty để từ đó
đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.
Với vai trò quan trọng trong nền kinh tế, những biến động của thông tin
KTTC cũng như sự tăng – giảm giá cổ phiếu của các CTNY như một “phong vũ
biểu” thể hiện rõ nét sự thịnh vượng hay suy thoái của nền kinh tế. Các nhà đầu tư,
chính phủ hay bất kỳ người quan tâm nào khi tiến hành đầu tư vào CTNY đều xem
xét tới những thông tin về chiến lược kinh doanh, về tình hình tài chính của các
công ty đó. Những thông tin KTTC của các CTNY được các công ty kiểm toán, soát
xét và đưa ra ý kiến về sự trung thực, hợp lý. Bên cạnh đó, những thông tin này còn
được các sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và các ủy ban chứng khoán nhà nước
(UBCKNN) kiểm tra, giám sát. Do đó, khi đầu tư vào CTNY những nhà đầu tư cảm
12
thấy độ an toàn cao hơn những công ty chưa niêm yết nhưng mức độ tin cậy của
thông tin vẫn đang có những điểm hoài nghi.
Theo Agrawal (2005), Brown.J. (2010), làn sóng của các vụ bê bối kế toán
xuất hiện gần đây trong cộng đồng tài chính quốc tế đã đặt ra những vấn đề về chất
lượng BCTC [44,58]. Một số công ty có vị thế đã có những gian lận nghiêm trọng
riêng và TTCK quốc tế nói chung.
KSNN về thông tin KTTC là yêu cầu của bất kỳ quốc gia nào. KSNN tạo
hành lang pháp lý, qua những quy định của nhà nước, thiết lập các bộ phận chức
năng với vấn đề kiểm soát và công bố thông tin. Những quy định của nhà nước tạo
dựng sự tin tưởng cho các nhà đầu tư và là những chỉ dẫn tầm vĩ mô cho các doanh
nghiệp.
Như vậy, thực tế đòi hỏi tăng cường chất lượng thông tin KTTC của các
CTNY trên TTCK thông qua tổ chức KSNB trong các CTNY và kiểm soát từ phía
nhà nước là tất yếu, cần được nghiên cứu và có những giải pháp phù hợp.
Theo tìm hiểu của Tác giả, các nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập nhiều
về tính minh bạch thông tin tài chính của CTNY trên TTCK, hay mối liên hệ giữa
quản trị công ty với chất lượng thông tin KTTC, hay một khía cạnh tác động của
KSNN tới chất lượng thông tin KTTC. Tuy nhiên những nghiên cứu trên chưa đề
cập đến sự tác động toàn diện của tổ chức kiểm soát tới chất lượng thông tin KTTC.
Do đó, đề tài “Hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin
KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam” là mang tính cấp thiết. Đây cũng là cơ
sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường
chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
1.2.Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của Luận án là tập trung vào nghiên cứu và giải quyết các
mối quan hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của
CTNY nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin ngày càng cao của các nhà đầu tư.
Cụ thể:
(1) Xác định những tiêu chuẩn của chất lượng thông tin KTTC nói chung và trong các
CTNY nói riêng.
(2) Xác định mối liên hệ giữa tổ chức KSNB trong CTNY với chất lượng thông tin
KTTC của CTNY nhằm xác định nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin
KTTC của các CTNY trên TTCK.
Luận án nghiên cứu các nhân tố của KSNB và KSNN có ảnh hưởng đến chất lượng
thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, từ đó đưa ra những đề xuất
hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm nâng cao chất lượng thông tin KTTC của các
CTNY này.
CTNY trên TTCK gồm CTNY phi tài chính và CTNY tài chính. Các công ty
tài chính (như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, tổ chức tín dụng,..) có cách thức
tổ chức kiểm soát khác với các công ty phi tài chính do hàng hoá và dịch vụ cung
cấp thuộc loại đặc biệt so với các ngành khác. Để đồng nhất nội dung nghiên cứu về
tổ chức KSNB và đảm bảo số lượng CTNY thực hiện khảo sát, Tác giả tập trung
thực hiện thu thập số liệu các CTNY phi tài chính.
Tại Việt Nam, sự hình thành và phát triển của hai SGDCK (SGDCK Thành phố
Hồ Chí Minh - SGDCK TPHCM và SGDCK Hà Nội) tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư, các CTNY trong nước lưu thông vốn. Theo Nghị định 58/2012/NĐCP của Chính phủ ban hành ngày 20/7/2012, điều kiện niêm yết tại SGDCK
TPHCM cao hơn so với SGDCK Hà Nội về vốn, về yêu cầu kết quả kinh doanh.
Mặc dù số lượng CTNY tại SGDCK TPHCM ít hơn nhưng tổng giá trị niêm yết cao
hơn gấp 3 lần so với tổng giá trị niêm yết tại SGDCK Hà Nội (theo số liệu thống kê
đến hết ngày 31/12/2012). Các CTNY phi tài chính tại SGDCK TPHCM đa dạng
các ngành nghề và vị trí địa lý kinh doanh. Để đảm bảo thời gian thực hiện nghiên
cứu, Luận án tập trung thu thập dữ liệu về thông tin KTTC của các CTNY phi tài
chính tại SGDCK TPHCM và thời gian nghiên cứu là năm 2008 đến năm 2012.
Vậy phạm vi nghiên cứu của Luận án là tổ chức KSNB của CTNY và KSNN
với chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam
tại SGDCK TPHCM.
1.5.Những đóng góp mới của Luận án
Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu là tổ chức kiểm soát với chất lượng thông
tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam, Luận án đã thực hiện
quá trình nghiên cứu, khảo sát, phân tích, nhận định. Những đóng góp mới của Luận
dụng nhằm kiểm định mối liên hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng
thông tin KTTC của các CTNY. Thông qua việc xây dựng mô hình kinh tế lượng
cùng với việc sử dụng phần mềm phân tích EViews, Luận án đã lượng hoá được
ảnh hưởng của KSNB, KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên
TTCK Việt Nam.
Kết quả kiểm định và hồi quy tương quan cho thấy:
Thứ nhất, chất lượng thông tin KTTC của CTNY phi tài chính trên SGDCK
TPHCM được đánh giá tốt;
Thứ hai, chất lượng KTTC của CTNY chịu tác động của nhiều yếu tố song xét
trên giác độ quản lý, KSNB và KSNN có ảnh hưởng mạnh tới chất lượng thông tin
này;
Thứ ba, tổ chức KSNB có ảnh hưởng tới chất lượng thông tin KTTC của
CTNY phi tài chính trên SGDCK TPHCM, trong đó môi trường kiểm soát có ảnh
hưởng mạnh nhất, tiếp đến là thủ tục kiểm soát và hệ thống thông tin kế toán;
Thứ tư, tổ chức KSNN có ảnh hưởng tới chất lượng thông tin KTTC của
CTNY phi tài chính trên SGDCK TPHCM, trong đó ảnh hưởng của tổ chức bộ máy
kiểm soát, giám sát chất lượng thông tin KTTC được ước lượng là mạnh.
1.6.Kết cấu của Luận án
Luận án gồm 6 chương:
Chương 1 – Giới thiệu đề tài: Trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên
cứu, câu hỏi nghiên cứu và những đóng góp mới của Luận án.
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về tổ chức kiểm soát
nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty niêm yết
trên thị thường chứng khoán. Chương này đã tổng hợp cơ sở lý luận, tổng quan
nghiên cứu về tổ chức kiểm soát chất lượng thông tin KTTC của CTNY. Những lý
thuyết về kiểm soát, tổ chức kiểm soát, thông tin của CTNY, chất lượng thông tin
KTTC của CTNY, vai trò của kiểm soát thông tin KTTC của CTNY được đề cập
Chương 5 – Phân tích kết quả nghiên cứu và giải pháp hoàn thiện tổ chức
kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán tài chính các công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương này giới thiệu về giải
pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất lượng thông tin KTTC của
CTNY trên TTCK Việt Nam dựa trên kết quả khảo sát các nhân tố KSNB, KSNN
tới chất lượng thông tin.
Chương 6 – Kết luận: Tổng hợp những nghiên cứu đã thực hiện trong Luận án
như: Lý luận, phương pháp thực hiện, thực tế khảo sát, những phân tích từ kết quả
khảo sát và những giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm soát nhằm tăng cường chất
lượng thông tin KTTC của CTNY trên TTCK Việt Nam.
Kết luận chương 1
Luận án đã xác định đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của tổ chức KSNB và
KSNN tới chất lượng thông tin KTTC của CTNY phi tài chính. Phạm vi nghiên cứu
của Luận án là tổ chức KSNB của CTNY và KSNN với chất lượng thông tin KTTC
của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt Nam tại SGDCK TPHCM. Luận án
tập trung thu thập dữ liệu về thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính tại
SGDCK TPHCM và thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2012.
Mục tiêu tổng quát của Luận án là tập trung vào nghiên cứu và giải quyết các
mối quan hệ giữa tổ chức KSNB và KSNN với chất lượng thông tin KTTC của
CTNY để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin ngày càng cao của các nhà đầu tư. Từ
đó, xác định câu hỏi nghiên cứu tổng quan: “Tổ chức kiểm soát toàn diện như thế
nào để tăng cường chất lượng thông tin KTTC của các CTNY trên TTCK Việt
Nam?”
Luận án đã xác định những đóng góp mới như:
(1) Luận án đã sử dụng đã tổng hợp các phương pháp và mô hình đo lường các tiêu
chuẩn của chất lượng thông tin KTTC của các CTNY phi tài chính trên TTCK Việt
Nam tại SGDCK TPHCM;
(2) Luận án đã xác định sự ảnh hưởng thuận chiều của kiểm soát trong nội bộ CTNY
được, theo James H (2001) [14, tr52].
Theo GS.TS Nguyễn Quang Quynh (2003), quản lý là một quá trình định
hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ sở các nguồn lực xác định
nhằm đạt hiệu quả cao nhất [25, tr11]. Quá trình này bao gồm nhiều chức năng và
có thể chia thành nhiều giai đoạn từ khi đưa ra định hướng trên cơ sở dự báo các
nguồn lực, mục tiêu cần có và có thể đạt tới, cho đến khi những định hướng này
được triển khai thành các kế hoạch, các chương trình hành động và cuối cùng chúng
được tổ chức thực hiện trong thực tế. Theo quan niệm này, quản lý bao gồm các giai
đoạn: Định hướng, tổ chức thực hiện, cung cấp nguồn lực và điều hành, trong đó
kiểm tra là một chức năng được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong quá trình quản
lý.
Theo Nguyễn Ngọc Bích (2006) quản lý là việc tổ chức, điều khiển và theo
dõi thực hiện như đường lối của chính quyền quy định. Như vậy, quản lý là sự tác
động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được các
mục tiêu đã định [24, tr699].
Quá trình quản lý bắt đầu từ việc lập kế hoạch và xây dựng các mục tiêu có
liên quan. Việc lập kế hoạch được trợ giúp bởi việc tổ chức và cung cấp những
nguồn lực cần thiết – kể cả con người. Sau đó các nhà quản lý có những hoạt động
cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu đã xây dựng. Thông thường những hoạt động
đó tự nó chưa được coi là đầy đủ. Mọi việc hiếm khi được thực hiện đúng như dự
định và sai lầm cũng có thể xảy ra khi những điều kiện môi trường thay đổi. Do đó,
các nhà quản lý cần những biện pháp và hành động phụ thêm để có được những
mục tiêu tốt hơn, ngăn ngừa những loại hành động không mong muốn. Chức năng
kiểm soát chính là đem lại những biện pháp, hành động và thủ tục cần thiết cho
những nhà quản lý. Như vậy, kiểm soát tồn tại như một “khâu” độc lập của quá
trình quản lý nhưng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó.
Kiểm soát là cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người,
trong tổ chức cũng như toàn bộ xã hội. Kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt
Kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả, hiệu
lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt
được mục tiêu của tổ chức, theo Jones (2003) [88]. Thực chất kiểm soát là quá trình
đo lường, đánh giá và tác động lên đối tượng kiểm soát nhằm đảm bảo mục tiêu, kế
hoạch của tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả, theo PGS.TS. Nguyễn Thị
Phương Hoa (2009) [28, tr14].
Như vậy, kiểm soát được hiểu là kiểm tra, soát xét nhằm phát hiện những
lệch lạc trong quá trình thực thi các quyết định quản lý so với các quy định, từ đó
điều hành đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Trên
cơ sở phân tích một số quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, Tác
giả đưa ra khái niệm về kiểm soát như sau: “Kiểm soát là chức năng quan trọng
trong quản lý, được thực hiện tại các cấp độ và giai đoạn khác nhau trong quản lý
theo cách thức phù hợp với đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Kiểm soát bao gồm việc đo lường, đánh giá đối tượng kiểm soát nhằm đạt được
hiệu quả trong quản lý”.
2.1.1.2.Thông tin
Thông tin là một khái niệm đã có từ lâu đời, là một khái niệm rất rộng. Tùy
thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu, mà đưa ra những định nghĩa khác nhau và giới
hạn khái niệm đó lại phục vụ mục đích nghiên cứu.
Đối với các nhà quản lý kinh tế: Thông tin là những tín hiệu được thu nhận,
được hiểu và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định;
Đối với các nhà điều khiển học: Thông tin là một phạm trù phản ánh nội dung
và hình thức vận động của các sự vật và hiện tượng. Theo quan điểm hệ thống thì
thông tin là sự hạn chế tính đa dạng của mỗi hệ thống sự vật đối với môi trường,
thông tin là tính trật tự của các đối tượng vật chất có những mối liên hệ biện chứng;
Đối với các nhà triết học: Thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận
động và tương tác của các hiện tượng, sự vật và quá trình tư duy. Thông tin là quá
trình phản ánh và tiếp nhận phản ánh, biến phản ánh thành hiểu biết, thành tri thức;
Thông tin kinh tế được xác định là những tín hiệu, được thu nhận, được hiểu và
được đánh giá là có ích trong việc ra quyết định kinh tế của người sử dụng thông
tin. Thông tin kinh tế đáp ứng những đặc trưng của thông tin nói trên do đó thông
tin kinh tế cần được kiểm soát, đo lường để đảm bảo độ tin cậy thông tin.
2.1.1.3.Kiểm soát thông tin
Theo Peter A. Corning (2007), kiểm soát thông tin là năng lực kiểm soát việc
thu nhận, sắp xếp, sử dụng những vấn đề trong quá trình sử dụng có mục đích [103].
Kiểm soát thông tin có một số đặc tính khác biệt như:
(1) Kiểm soát thông tin không tồn tại độc lập, không phải là một thể thống nhất hay cơ
chế hoạt động. Nó thể hiện mối liên hệ giữa hệ thống điều khiển (hay người sử
dụng) với môi trường trong nội bộ hoặc bên ngoài;
(2) Kiểm soát thông tin không tồn tại cho đến khi nó thực sự được sử dụng.
Kiểm soát thông tin mang tính thường xuyên đảm bảo tính chất thống nhất, kết
nối giữa các thành phần thông tin. Thông tin được sử dụng và cần có sự kiểm soát
nhằm đảm bảo minh bạch thông tin, tăng độ tin cậy thông tin. Các thông tin sai lệch
và không được kiểm soát sẽ làm ảnh hưởng đến người sử dụng thông tin.