Năm học 2012 - 2013
ẢNH HƯỞNG CỦA TỪ HÁN VIỆT TRONG VIỆC HỌC TIẾNG TRUNG
CỦA SINH VIÊN KHOA TIẾNG TRUNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Huỳnh Sáng Du,
Lí Bích Bảo,
Hồ Tằng Nhục,
Hồ Thúy Hoa
(Sinh viên năm 3, Khoa Tiếng Trung)
GVHD: TS Nguyễn Phước Lộc
1. Lời mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, ngày càng có nhiều công ti Trung Quốc, Đài Loan đầu tư hợp tác sang
nước ngoài, đặc biệt là Việt Nam chúng ta. Do đó, nhu cầu học tiếng Trung ngày một
gia tăng. Ví dụ như những năm gần đây, lượng sinh viên đăng kí vào ngành Ngôn ngữ
Trung Quốc của Trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHSP TPHCM)
ngày càng nhiều. Những năm trước, hệ cử nhân chỉ có một lớp, mỗi năm số lượng lớp
tăng dần và đến năm 2012 Khoa Tiếng Trung đã mở đến 4 lớp cử nhân. Vậy làm thế
nào để nâng cao năng lực học tập của sinh viên, đặc biệt là trong việc học từ vựng để
giúp quá trình học tập đạt hiệu quả cao hơn?
Do yếu tố địa lí, lịch sử, văn hoá; tiếng Việt và tiếng Trung có mối quan hệ mật
thiết, khăng khít với nhau. Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng: trong tiếng Việt có hơn
60% là từ Hán Việt. Những từ Hán Việt này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt
học tiếng Trung, ví dụ như làm tăng khả năng ghi nhớ và nắm bắt ý nghĩa của từ. Tuy
nhiên, do sự vận động, thay đổi không ngừng của ngôn ngữ đã khiến cho một bộ phận
từ có sự chuyển di, vì vậy gây không ít khó khăn cho người học.
Vậy làm sao để vận dụng tốt những từ Hán Việt, tránh mắc phải những lỗi về
nghĩa của từ cũng như từ tính của nó? Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của từ Hán Việt
trong việc học tiếng Trung của sinh viên Khoa Tiếng Trung Trường ĐHSP TPHCM”
sẽ phần nào giúp các bạn hiểu rõ hơn tầm quan trọng của từ Hán Việt trong việc học
hai điều kiện [5]:
- Chúng phải là từ mượn Hán, hoặc phải có quan hệ với tiếng Hán,
- Chúng phải có cách đọc Hán Việt.
Như ta đã biết, hệ quả của quá trình giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ, văn hoá Việt Trung trong một thời kì lịch sử lâu dài đã để lại trong tiếng Việt một bộ phận quan
trọng, đó chính là lớp từ Hán Việt. Theo ước lượng của các nhà nghiên cứu, từ Hán
Việt chiếm khoảng trên dưới 70% vốn từ trong phong cách chính luận, khoa học. Sở dĩ
có nhiều lớp từ gốc Hán như thế trong tiếng Việt là vì quá trình du nhập ngôn ngữ và
văn hoá Hán xảy ra đối với xã hội Việt Nam qua nhiều giai đoạn khác nhau. Ở mỗi một
thời kì, ngôn ngữ Hán du nhập vào tiếng Việt lại chịu ảnh hưởng bởi các giai đoạn ngữ
âm Hán khác nhau như ngữ âm Hán Thượng Cổ, ngữ âm Hán Trung Cổ và các thói
quen sử dụng do người Việt tự tạo… Do đó nghĩa của từ Hán Việt đã có sự chuyển di
so với tiếng Hán.
3. Cơ sở lí luận chung giữa từ Hán Việt và Hán hiện đại
3.1. Mối quan hệ giữa từ Hán Việt và từ Hán hiện đại
Chúng ta có thể tìm hiểu các mối quan hệ giữa từ Hán Việt với từ Hán tương ứng
theo các góc độ sau:
3.1.1 Mối quan hệ về ngữ nghĩa giữa từ Hán Việt và từ Hán hiện đại [3]
3.1.1.1. Giống nhau hoàn toàn
Có những từ Hán Việt có sự tương đồng nhất định cả về ngữ âm lẫn ngữ nghĩa so
với từ Hán hiện đại tương ứng như: 广告 - quảng cáo, 海关 - hải quan,... Những từ này
đã giúp ích rất nhiều trong quá trình học tiếng Trung của sinh viên.
3.1.1.2. Khác nhau hoàn toàn
30
Năm học 2012 - 2013
Có những từ Hán có từ Hán Việt tương ứng nhưng ý nghĩa của chúng khác nhau
hoàn toàn.
thời cũng tăng thêm một số nét nghĩa mới
Ví dụ 4:
成熟- thành thục
成熟: 植物的果实等完全长成,泛指生物体发育到完备的阶段;
展到完善的程度;
31
Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH
Thành thục: (cơ thể sinh vật) đã đạt đến giai đoạn có thể sinh sản được;
hết sức thành thạo và nhuần nhuyễn về động tác, kĩ năng, kĩ thuật (do đã qua
một quá trình trau dồi, luyện tập lâu dài và kĩ càng);
Có thể thấy được “成熟” không có nét nghĩa của từ “thành thục” và từ “thành
thục” cũng không có nét nghĩa của từ “成熟”.
我的意见还不成熟.
Ý kiến của tôi chưa được thành thục. ()
Ý kiến của tôi chưa được chín chắn. ()
Qua những động tác thành thục đó, có thể thấy được anh ấy là một thuỷ thủ
giàu kinh nghiệm.
从那成熟的动作, 可以看出他是个经验丰富的水手。()
从那熟练的动作, 可以看出他是个经验丰富的水手。()
*Ngoài ra đối với nét nghĩa , phạm vi sử dụng của từ Hán Việt cũng thu hẹp
nhiều so với từ Hán tương ứng.
3.1.2 Mối quan hệ về từ tính giữa từ Hán Việt và Hán Hiện Đại tương ứng [4]
Từ Hán Việt và từ Hán có sự khác nhau về từ tính. Có thể là do khi thay đổi về ý
nghĩa mà dẫn đến sự thay đổi về từ loại của nó; hoặc trong quá trình sử dụng, từ Hán
Việt được thay đổi để phù hợp với người Việt, đây là một trong những điều mà người
học ít chú ý đến. Điều này dẫn đến việc đặt sai vị trí ngữ pháp của từ trong câu.
Ví dụ 5:
điểm này để gia tăng vốn từ cho mình. Mặc dù không hiểu một từ nào đó người học
cũng có thể dựa trên âm Hán Việt để phán đoán ngữ nghĩa của nó. Đồng thời, khi học
một ngôn ngữ mới, việc hiểu và biết cách vận dụng là một điều rất quan trọng, tuy việc
vận dụng trong câu của từ Hán Việt và từ Hán hiện đại có sự khác biệt nhưng trên cơ
bản người học vẫn có thể mơ hồ đoán ra. Sự tương đồng đó giúp cho việc học và nắm
bắt ý nghĩa của từ nhanh hơn, đặc biệt với những thuật ngữ không có thay đổi về mặt ý
nghĩa, giáo viên có thể dùng ngay từ Hán Việt tương ứng để giải thích cho sinh viên, từ
đó sinh viên cũng ghi nhớ một cách dễ dàng hơn. Nhìn chung, các từ này có tính tích
cực khá cao, giúp người Việt có nhiều ưu thế hơn trong khi học tiếng Trung.
3.2.2. Ảnh hưởng tiêu cực
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, do tâm lí chủ quan của người học mà từ Hán
Việt cũng mang đến không ít ảnh hưởng tiêu cực. Vì ngôn ngữ luôn gắn liền với xã hội,
trong hoàn cảnh xã hội khác nhau, con người cũng sẽ có cách nhìn nhận khác nhau về
sự vật, hiện tượng từ đó dẫn đến các cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau. Mặc dù từ Hán
Việt có xuất xứ từ tiếng Trung nhưng nó lại phát triển trong môi trường của người Việt
nên có nhiều từ đã không còn tương đồng hoàn toàn về ý nghĩa hay từ loại so với từ
Hán hiện đại nữa, thậm chí là hoàn toàn khác biệt, vì thế nếu sinh viên quá chủ quan về
lợi thế này thì sẽ dễ đưa đến tình trạng hiểu sai dẫn đến sử dụng sai.
4. Từ Hán Việt trong giáo trình môn “Tiếng Trung quốc tổng hợp”
Nhóm khảo sát đã tiến hành khảo sát, thống kê số lượng từ Hán Việt trong bộ
giáo trình môn Tiếng Trung Quốc tổng hợp: “chinese for college students” do nhà xuất
bản 华语教学 phát hành từ sơ cấp đến trung cấp, gồm có 4 cuốn (2, 3, 4, 5). Số lượng
từ mới trong bộ giáo trình là 1650 từ, trong đó có 1429 từ là từ song âm tiết trở lên, có
430 từ Hán có từ Hán Việt tương ứng, chiếm tỉ lệ 30% .
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy mối quan hệ về mặt ngữ nghĩa giữa từ Hán và
từ Hán Việt tương ứng như sau:
234 từ có nghĩa tương ứng với từ Hán Việt.
185 từ vừa có nét nghĩa giống nhau, vừa có điểm khác biệt, trong đó:
+ Từ Hán Việt không có một số nét nghĩa so với từ Hán: 97
+ Từ Hán không có một số nét nghĩa so với từ Hán Việt: 27
35%
24%
65%
76%
33%
67%
Năm 4
Qua bảng thống kê, chúng tôi thấy rằng sinh viên năm 1 có số lượng sai trên 50%
chiếm tỉ lệ cao nhất. Nguyên nhân có thể là do thời gian các bạn tiếp xúc tiếng Trung
chưa lâu, hoặc các bạn đã không sử dụng trong một thời gian dài (đối với các bạn sinh
viên người Hoa) dẫn đến tình trạng “đoán mò”.
Sinh viên năm 2 có tỉ lệ sai thấp nhất, một phần là do các bạn đã tích luỹ được
một vốn từ nhất định, bắt đầu chú ý đến sự khác biệt giữa từ Hán Việt và từ Hán tương
ứng; mặt khác trong số sinh viên được khảo sát, sinh viên người Hoa chiếm đa số, các
bạn đã có sẵn vốn từ khá phong phú. Tuy nhiên, với các từ ít gặp như “cáo trạng - 告
状”, các bạn vẫn tư duy trực tiếp sang từ Hán Việt mà không quan tâm đến mối liên hệ
giữa từ tiếng Trung và từ tiếng Việt. Tỉ lệ chọn sai từ “cáo trạng - 告状” lên đến 90%.
Đối với các sinh viên người Việt năm 3, đã có một khoảng thời gian học tập và
tiếp xúc với Tiếng Trung nên đã có sự chú ý nhất định về sự khác biệt ngữ nghĩa của từ,
đa số tỉ lệ sai chỉ ở khoảng 55% - 65%, còn tỉ lệ sai của sinh viên người Hoa năm 3 chỉ
ở khoảng 50% - 60%. Tuy nhiên, với một số từ cá biệt nằm trong giáo trình và đã được
học qua như từ “部门 - bộ môn”, các bạn vẫn không chú ý đến sự khác biệt của nó; tỉ lệ
chọn sai chiếm đến 65%.
Ở sinh viên năm 4, tỉ lệ sai có giảm nhưng với các từ không mấy xa lạ như “水晶
- thuỷ tinh”, tỉ lệ sai vẫn là 100%. Điều này có thể là do tâm lí chủ quan của các sinh
viên năm 4, không kiểm tra từ điển hoặc có thể ngay trong tiếng Việt, các bạn sinh viên
đã đánh đồng “thủy tinh” và “pha lê” là một.
Nhìn chung, tỉ lệ chọn sai cao nhất ở cả sinh viên bốn năm là từ “điểm tâm - 点
Năm 2
Năm 3
32%
72%
68%
28%
58%
42%
Năm 4
Chúng tôi phân loại chúng thành các trường hợp sau:
Phần 1: Dịch sang tiếng Trung
Trường hợp 1: Dịch thẳng những từ Hán Việt đã cho sang tiếng Trung
Ví dụ 7: Anh trai tôi là bộ đội.
Đa số các bạn dịch như sau: 我哥哥是部队。
Câu dịch đúng là: 我哥哥是军人。
Ở trường hợp sai này, tỉ lệ sai chiếm đa số là các bạn sinh viên năm 1, 2 và một
số bạn người Việt năm 3. Có thể là do vốn từ của họ chưa nhiều nên họ dịch thẳng
những từ Hán Việt này sang tiếng Trung mà không ý thức được từ đó không dùng trong
trường hợp đó hoặc không có nghĩa tương ứng với nhau.
Trường hợp 2: Biết không thể dịch thẳng từ Hán Việt sang tiếng Trung nên đã sử
dụng cách biểu đạt khác tuy nhiên lại không chính xác
Ví dụ 8: Anh ấy rất thích văn chương, lúc cao hứng cũng làm thơ.
Đa số các bạn dịch như sau: 他很喜欢诗歌,有兴趣时也会作诗。
Câu dịch đúng là: 他很喜欢文学,兴致高的时候也会作诗。
Ví dụ 9: Tính tự ái của hắn rất cao, mọi người đừng đả động đến hắn.
Một số các bạn dịch như sau: 他的自卑心很高,大家别管他。
Câu dịch đúng là: 他的自尊心很强,大家别惹他。
Ví dụ 12: 你随便找个座位坐吧.
Đa số các bạn dịch như sau: bạn tìm đại một chỗ để ngồi đi.
Câu nên dịch là: Các bạn cứ tự nhiên tìm chỗ ngồi đi.
Sinh viên biết sử dụng từ “tùy tiện” để dịch từ “随便” là không đúng nhưng
không biết cách diễn đạt như thế nào nên sử dụng thẳng những từ thường nói của mình
để dịch khiến câu văn không được hay, trường hợp này thường xuất hiện ở các bạn sinh
viên người Hoa.
6. Kết luận
Qua quá trình khảo sát, thống kê, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng: khi học các
bạn không thật sự chú ý đến việc nghĩa của từ Hán việt có hoàn toàn tương ứng với
tiếng Trung hay không mà đa phần thường dựa vào ý kiến chủ quan của mình mà phán
đoán và sử dụng; cho nên tỉ lệ sai trong phần từ Hán Việt không có ngữ cảnh chiếm tỉ
lệ khá cao, còn tỉ lệ sai trong phần dịch câu có ngữ cảnh chiếm tỉ lệ thấp hơn.
Theo góc độ của ngôn ngữ, việc chịu ảnh hưởng từ trong tiếng mẹ đẻ được xem là
một trong những khó khăn đối với người học. Vì vậy, trong thời gian ngắn người học
36
Năm học 2012 - 2013
rất khó có thể nắm bắt được nghĩa của những từ Hán Việt này để dịch một cách chính
xác.
Nhóm nghiên cứu cho rằng việc nắm bắt nghĩa của từ Hán Việt cũng như từ Hán
không chỉ là sự nỗ lực của riêng giáo viên mà cần phải có sự hợp tác cũng như cố gắng
từ phía sinh viên. Vì thế trong quá trình giảng dạy, ngoài việc giáo viên đưa ra nhiều
bài tập dưới nhiều dạng khác nhau để sinh viên thực hành, ví dụ như: đưa ra từ Hán
Việt trong điều kiện/trường hợp không có ngữ cảnh để sinh viên phán đoán; đặt những
từ Hán Việt vào trong điều kiện/trường hợp có ngữ cảnh để sinh viên dịch hoặc lựa
chọn thích hợp,... thì sinh viên cũng nên “cảnh giác” trước các từ Hán Việt, ghi chép
Hoàng Phê (chủ biên) (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
37