BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
MÃ SỐ: CS.2012.19.48
KHÓ KHĂN CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH
HỌC TẬP THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Đoàn Văn Điều
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
MÃ SỐ: CS.2012.19.48
KHÓ KHĂN CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH
HỌC TẬP THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Đoàn Văn Điều
Thành viên nghiên cứu: TS. Trần Thị Thu Mai
ThS. Nguyễn Vĩnh Khương
Third semester students’ cognition on studying under credit system; Third
semester students’ evaluation on difficulties in the process of studying
under credit system; Third semester students’ solutions for difficulties in
the process of studying under credit system (these scales are developed
through content analysis of the answers in the pilot survey conducted on
120 students); and Evaluation on the tasks of academic advisors; as well
as calculating the parameters of the scales mentioned above.
3.2. Results:
The parameters of the scales mentioned above are appropriate with the
criteria of the scales and having reliability;
The findings of the scales:
Four Systems Anxiety Questionnaire (FSAQ): A Self-Report Measure of
‘Somatic, Cognitive, Behavioral, and Feeling Components. Of students’
anxiety, cognitive one is ranked the highest; the next are somatic and feeling
ones; and the least is behavioral one.
Third semester students’ cognition on study under credit system. Independence
and voluntary action are ranked the highest; the next is the freedom to choose
the learning contents; and the least is the learning pressure.
1
Third semester students’ evaluation on difficulties in study under the credit
system. Students evaluate learning environment the highest; the next are
planning and working as planned; individual efforts and working in group; and
the least is psychological responses.
Third semester students’ solutions toward difficulties in study under the credit
system. Students pay much attention to the school that raise the conditions for
them to study more effectively such as changing some terms on the fees and
study after failing the subjects; the next is responses on planning, learning
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 4 năm 2013
THÔNG TIN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Thông tin chung:
- Tên đề tài: Khó khăn của sinh viên Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong quá
trình học tập theo hệ thống tín chỉ
-
Mã số: CS.2012.19.48
-
Chủ nhiệm: PGS.TS. Đoàn Văn Điều
-
Cơ quan chủ trì: Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh
-
Thời gian thực hiện: từ tháng 4 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013
2. Mục tiêu:
Trên cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng khó khăn của sinh viên Trường ĐHSP TP.
Hồ Chí Minh khi tham gia học tập theo hệ thống tín chỉ, đề tài đề xuất một số giải
pháp cho việc giải quyết những khó khăn này.
việc lập kế hoạch và làm việc theo kế hoạch, nỗ lực bản thân và làm việc theo
nhóm; cuối cùng là những thích ứng mang tính tâm lý.
Cách giải quyết của sinh viên học kỳ 3 đối với khó khăn trong việc học theo tín
chỉ. Sinh viên quan tâm nhiều nhất đến việc nhà trường tạo điều kiện để việc
học tập thuận lợi hơn như: thay đổi một số quy định về học phí và việc học lại
khi thi rớt; thứ đến là những đáp ứng mang tính kế hoạch, phương pháp học tập
và những nổ lực bản thân và các mối quan hệ trong học thuật và giao tiếp với
thầy cô và bạn bè; sau đó là rèn luyện những phẩm chất tâm lý cần thiết cho
việc học và cuối cùng là việc tìm tài liệu học tập.
Về công việc của cố vấn học tập, sinh viên đánh giá cao những phẩm chất
mang tính cá nhân và đánh giá ở thứ bậc thấp hơn việc thực hiện công việc của
4
cố vấn học tập; trong khi đó, giảng viên đánh giá các phẩm chất mang tính
công việc cao hơn những phẩm chất mang tính cá nhân.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu phản ánh được những đặc điểm tâm lý và những kinh
nghiệm có cơ sở từ các đặc điểm tâm lý của sinh viên học kỷ 3 được nghiên cứu. Theo
tác giả, kết quả cho thấy một số đặc điểm tâm lý của sinh viên học kỳ 3 thể hiện sự
trưởng thành về học thuật nói riêng, và về các đặc điểm nhân cách nói chung để giúp
các sinh viên học tập theo hệ thống tín chỉ thành công.
4. Sản phẩm:
- một báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ theo quy định;
- một tóm tắt báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ;
- một bài báo liên quan đến đề tài “Thực trạng khó khăn của sinh viên học kỳ ba
Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh trong quá trình học tập theo hệ
thống tín chỉ” được đăng trên Tạp chí Khoa học Trường ĐHSPTP.HCM.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài...................................................... 11
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước ...................................................... 16
1.2. Khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu ...................................................... 18
1.2.1. Khó khăn (theo từ điển tiếng Việt) có nghĩa là sự trở ngại làm mất nhiều
công sức hoặc thiếu thốn. [16]................................................................................ 18
1.2.2. Khó khăn (theo từ điển tiếng Anh) [từ tiếng Latin difficultās, từ difficilis:
difficult, từ dis- not + facilis easy, FACILE]. Nó gồm các nghĩa sau đây: .............. 18
1.2.3. Khó khăn học tập .......................................................................................... 19
1.3. Lý luận về khó khăn học tập ........................................................................... 19
1.3.1. Những khó khăn tâm lý ................................................................................ 20
1.3.2. Khó khăn học tập ở trẻ em............................................................................ 26
1.3.3. Khó khăn học tập (trẻ nhỏ) ........................................................................... 31
1.3.4. Khó khăn tâm lý và khó khăn liên quan của trẻ em khó khăn học tập ......... 35
1.3.5. Khó khăn học tập của sinh viên .................................................................... 37
1.4. Hệ đào tạo tín chỉ ............................................................................................. 38
1.4.1. Định nghĩa tín chỉ ......................................................................................... 38
1.4.2. Những ưu điểm của phương thức đào tạo theo tín chỉ. Trong phương thức
đào tạo theo tín chỉ: ................................................................................................ 41
1.4.3. Vai trò người dạy .......................................................................................... 42
6
1.4.4. Vai trò của người học ................................................................................... 43
1.5. Một số đặc điểm của sinh viên ........................................................................ 43
1.5.1. Lý thuyết và mô hình tư duy của sinh viên .................................................. 43
1.5.2. Đặc điểm cuối tuổi vị thành niên / sinh viên truyền thống........................... 47
CHƯƠNG 2: KHÓ KHĂN CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP THEO
HỆ THỐNG TÍN CHỈ .......................................................................................49
tâm lý, thể lý của người học cũng như sự thay đổi môi trường học tập từ cấp học này
sang cấp học khác.
Khó khăn học tập được các nhà nghiên cứu phương tây qui về những khó khăn
tâm lý. Khó khăn học tập tâm lý có hai mức độ chính do khó khăn tâm lý gây ra: 1)
khó khăn học tập hoặc vấn đề học tập và 2) khuyết tật học tập.
Khó khăn học tập hoặc vấn đề học tập thường là kết quả của những học sinh
gặp một hoặc một số chứng khó khăn liên quan đến học tập như chứng khó đọc, khó
viết, khó tính toán, … hoặc những rối loạn tâm lý ở mức độ trung bình như lo
âu/hoảng loạn; trầm cảm; nghiện rượu và ma túy; căng thẳng; chấn thương và rối loạn
ăn uống.
Khuyết tật học tập là hệ quả của sự thương tổn não bộ nghiêm trọng.
Ngoài ra, một loại khó khăn học tập khác là do thiếu khả năng học thuật, các
yếu tố nhận thức gồm: phong thái học tập, động cơ, quá trình học chuyên môn đòi hỏi
có đa dạng kỹ năng, đa dạng quá trình, các kỹ năng ngôn ngữ, tính mới trong giáo
dục, hứng thú, danh tiếng và hình ảnh của cơ sở đào tạo, nhịp độ học tập. Nói cách
khác, khả năng của bản thân người học và môi trường học tập.
Trong nghiên cứu này, các tác giả nghiên cứu khó khăn của sinh viên trong học
tập do sự thay đổi hệ thống đào tạo từ niên chế sang tín chỉ ở Việt Nam. Đây là sự
thay đổi có thể là to lớn đối với sinh viên Việt Nam, nói chung; sinh viên Trường Đại
học Sư phạm Tp.HCM, nói riêng. Có nhiều tài liệu việt về thực trạng này, nhưng còn
ít những nghiện cứu liên quan đến vấn đề này.
Từ những lý do trên, đề tài : «Khó khăn của sinh viên ĐHSP Tp. HCM trong quá trình học
tập theo hệ thống tín chỉ” được nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
8
Trên cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng khó khăn của sinh viên Trường ĐHSP
TP. Hồ Chí Minh khi tham gia học tập theo hệ thống tín chỉ, đề tài đề xuất một số giải
cứu các khó khăn của sinh viên ĐHSP Tp. HCM trong quá trình học tập theo
hệ thống tín chỉ được thực hiện một cách hệ thống gồm các mặt trọn vẹn của
các yếu tố của việc học của sinh viên như những yếu tố bên trong: nhận thức,
đặc điểm tâm lý, v.v... và những yếu tố bên ngoài như môi trường học tập, các
phương tiện, các thủ tục, v.v…
9
+ Phương pháp nghiên cứu trong đề tài:
-
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan đến vấn
đề nghiên cứu làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.
-
Phương pháp trắc nghiệm tâm lý: Tác giả sử dụng một thang đo “Lo âu” của F.
Koksal và D.G. Power (1990) và thực hiện các bước cải biên, thử nghiệm và áp
dụng vào môi trường Việt Nam.
-
Phương pháp khảo sát mẫu: đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong
quá trình nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng khó khăn của sinh viên ĐHSP
Tp. HCM trong quá trình học tập theo hệ thống tín chỉ. Từ đó, xây dựng một
một số hướng dẫn qui trình giải quyết một số khó khăn trong học tập đến các
phòng ban chức năng để sinh viên được hướng dẫn học tập một cách hiệu quả.
-
yêu cầu của trẻ không được chú ý và cháu bị thụt lùi trong học tập. Là cha mẹ, bạn
cần làm quen với các vấn đề học tập và giáo dục con em với thầy cô giáo. Những khó
khăn của các cháu có thể là:
Khó khăn phối hợp kỹ năng vận động
Kỹ năng vận động là một thành phần cần thiết để học tập. Kỹ năng vận động tốt là
điều quan trọng cho con của bạn nắm bắt các đồ vật, viết, cắt hoặc chọn các thứ.
Những kỹ năng vận động thô, như chạy và nhảy là cần thiết cho sự phát triển thể chất
và di chuyển. Phối hợp tay và mắt gặp khó khăn khi một đứa trẻ trải nghiệm khó khăn
phối hợp kỹ năng vận động. Cầm một bút chì hoặc cài nút áo sơ mi là một nhiệm vụ
11
đầy thách thức cho trẻ có khó khăn phối hợp kỹ năng vận động. Những thiếu sót trong
kỹ năng vận động có thể tạo ra sự thua sút trong kiểu học tập của trẻ, đẩy cháu vào
nguy cơ tụt hậu so với bạn bè của mình.
Khó khăn đọc và sử dụng ngôn ngữ
Đọc và sử dụng ngôn ngữ nói là một thành phần đáng kể của việc học. Con của bạn có
thể gặp khó khăn hiểu biết âm thanh và các mẫu cơ bản, hoặc cháu có thể khó khăn
với đọc hiểu và từ vựng. Một số trẻ khó khăn với sự nhận biết những từ đơn lẻ hoặc
làm thế nào để phối hợp các từ với nhau để tạo thành một câu mạch lạc. Những trẻ
khác có thể gặp vấn đề tìm ra ý tưởng có liên quan trong một câu chuyện. Sự chậm trễ
ngôn ngữ hoặc các vấn đề giao tiếp có thể ảnh hưởng đến sự thành công học tập của
con em. Không thể diễn tả bằng lời khái niệm sẽ bất lợi cho con của bạn trong trường
học, cũng như không có khả năng để xử lý ngôn ngữ. Trẻ không thể làm theo hướng
dẫn hoặc giải thích vấn đề có nguy cơ thất bại trong việc học tập ở trường.
Khó khăn viết
Khó khăn viết có thể được mô tả như là không có khả năng về thể chất để vẽ các chữ
cái hoặc từ, hoặc khó khăn trong thể hiện suy nghĩ dưới dạng vật lý. Khó khăn với
chính tả, độ chính xác hoặc sự gọn gàng cũng có thể được phân loại như khó khăn
-
Chứng khó tính toán
-
Rối loạn thiếu chú ý hiếu động (ADD hay ADHD): Khó tập trung hoạt động và
có tính bốc đồng cao
-
Hội chứng Asperger và tự kỷ: khó khăn hành vi cảm xúc vận động hoặc thậm
chí giao tiếp xã hội.
Những khó khăn học tập này thông thường ảnh hưởng đến kỹ năng phối hợp thao tác
vận động của học sinh, xử lý thông tin và ghi nhớ. Tuy nhiên, hãy lưu ý không có hai
cá nhân có cùng một kết hợp của khó khăn học tập cụ thể và không thể ngoại suy một
mô tả từ người này sang người khác.
Cũng cần lưu ý rằng nhiều học sinh có khó khăn học tập cụ thể (SPLD), cũng như
những học sinh khác không có SPLD, bị sự rối loạn thị giác nhận thức và khó chịu đôi
khi được gọi là là hội chứng Meares Irlen. Điều này ảnh hưởng đến việc đọc sách của
các em in trên giấy trắng, phim trong và slide cũng như cách sử dụng của máy tính.
Điều cũng quan trọng là lưu ý những khó khăn được mô tả ảnh hưởng đến chiến lược
do cá nhân phát triển để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của họ, sự căng thẳng và lo
âu cũng tác động. Chỉ những ai đã trải qua những thách thức khó khăn học tập cụ thể
thực sự hiểu biết sự phức tạp và khó khăn phát sinh trong một tình huống học tập - và
sự phấn khởi khi ai đó trình bày thông tin một cách phù hợp với phong cách suy nghĩ
hay sở thích của họ. [30]
13
-
Thất vọng
+ Khó khăn học tập do rối loạn lo âu
Chúng ta nhiều khi trải nghiệm lo âu lúc này hay lúc khác trong cuộc sống, mặc dù có
lẽ chúng không nghiêm trọng để cần một chuyên gia chẩn đoán. Lo âu là một mối
nguy hiểm hoặc là một tín hiệu cảnh báo cho chúng ta. Các kích thích sinh lý chúng ta
trải nghiệm trực tiếp liên quan đến tác hại của lo âu. Khi phải đối mặt với mối đe dọa
đến sự thoải mái về thể chất có thể gây ra hoặc tổn hại thể chất một cách nghiêm trọng
hoặc gây tử vong, chúng ta có những phản ứng mang tính tâm lý và thể chất. Phản ứng
này đã được gọi là phản ứng "chiến đấu hay chạy trốn" bởi vì nó kích hoạt chúng ta
hoặc bảo vệ bản thân, hoặc chạy trốn và thoát khỏi chấn thương. Trong một cuộc
khủng hoảng đe dọa cuộc sống, phản ứng chiến đấu hay chạy trốn này có thể cứu cuộc
sống của chúng ta. [28]
+ Khó khăn học tập do vấn đề cá nhân và tâm lý của sinh viên đại học.
Ngày càng có nhiều sự chú ý được hướng đến việc chuyển đổi giáo dục đại học theo
kinh nghiệm của sinh viên theo tuổi truyền thống và người lớn. Đó là một phong trào
kết hợp rất nhiều căng thẳng và thách thức. Mặc dù một số sinh viên có thể trải
nghiệm quá trình chuyển đổi này như là một thách thức đối với sự phát triển cá nhân,
14
các sinh viên khác bị tràn ngập bởi những thay đổi và trải nghiệm sự điều chỉnh kém
về cảm xúc và bị trầm cảm.
Các vấn đề điều chỉnh và phát triển chung đòi hỏi sự chú ý liên tục bởi các chuyên gia
nhà trường liên quan trực tiếp đến thành công đại học. Lịch sử tâm lý thường củng cố
những vấn đề này, làm phức tạp thêm việc điều trị. Những khó khăn này thường hiện
diện như là sự không hiệu quả trong đối phó với việc bị tách khỏi gia đình, quản lý
thời gian và căng thẳng, kỹ thuật nghiên cứu cơ bản, thiết lập mục tiêu, hình thành
Quan niệm sai lầm
Nhiều sinh viên vào lớp học khoa học cảm giác như họ biết thông tin khoa học chỉ để
tìm thấy thông tin này là không chính xác. Bộ Giáo Dục Tiểu Học và Trung Học bang
15
Missouri báo cáo rằng học sinh trước đó hình thành quan niệm sai lầm khoa học
thường gặp khó khăn để thay thế thông tin sai lệch với thực tế khoa học thực sự. Nếu
bị thấm sâu những quan niệm sai lầm này, học sinh có thể gặp khó khăn trong việc
hiểu nội dung khoa học.
-
Việc học phức tạp
Để hiểu các chủ đề khoa học phức tạp, học sinh phải có một cơ sở phát triển tốt trước
khi học tập khoa học. Khoa học, như toán học, xây dựng trên chính nó. Nếu học sinh
không đạt được nội dung khoa học cơ bản trong việc học ban đầu, các em có khả năng
gặp khó khăn với các khái niệm khoa học phức tạp hơn sau đó. Trong giảng dạy, học
sinh thiếu cơ sở khoa học này, thông tin các em chưa học là một thách thức đối với
giáo viên do không có thời gian để theo dõi và dạy lại thông tin lẽ ra đã phải được tiếp
thu.
-
Khái niệm trừu tượng và không thể quan sát
Trong khi một số khái niệm khoa học giải quyết các chủ đề cụ thể, những khái niệm
khác giải quyết những thứ không thể quan sát. Học sinh thường suy nghĩ xung quanh
khái niệm trừu tượng. Do các em không thể nhìn thấy về mặt vật lý các nguyên tắc thứ
các em đang học, chúng không thể xử lý thông tin đang nhận được qua bài học. Tương
-
Nghiện trò chơi điện tử, xem tivi, internet...
-
Gặp khó khăn trong việc hiểu bài giảng
-
Dễ dàng bị xao nhãng
-
Khả năng tập trung ngắn hạn
-
Mơ màng trong lớp
-
Sợ thi cử
-
Hay phạm lỗi do bất cẩn
-
Sinh viên ngoài những khó khăn như phải sống xa nhà, thuê trọ vất vả thì còn có rất
nhiều những khó khăn về: nội dung học tập, kiểm tra thi cử, chuyên cần và giao tiếp
bạn bè. [22]
+ Khó khăn học tập do việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập, trong giao tiếp, trong
thích ứng với môi trường học tập ở cấp tiểu học, trung học và đại học
-
Trần Thị Lệ Thu (2010), nghiên cứu về “Thực trạng khó khăn tâm lý của sinh
viên trường Đại học sư phạm Hà Nội và nhu cầu có sự trợ giúp của chuyên gia
tâm lý học đường”, Luận văn cao học. [15]
-
Lê Mỹ Dung (2010), “Thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của
học sinh lớp 3 hiện nay”, Luận văn cao học Tâm lý học. [6]
-
Đặng Thanh Nga (2010), “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh
viên trường Đại học Luật Hà Nội”, Luận văn cao học Tâm lý học.[12]
Qua các công trình nghiên cứu trong nước cho thấy: các tác giả nhấn mạnh đến những
khó khăn tâm lý trong việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập, trong giao tiếp, trong
thích ứng với môi trường học tập ở cấp tiểu học, trung học và đại học.
1.2. Khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Khó khăn (theo từ điển tiếng Việt) có nghĩa là sự trở ngại làm mất
nhiều công sức hoặc thiếu thốn. [16]
một nhiệm vụ, vấn đề, vv, khó khăn để giải quyết
-
(thường số nhiều) tình huống khó khăn hay lúng túng, đặc biệt tình huống tài
chính
-
một tranh chấp hay bất đồng
-
(thường số nhiều) phản đối hoặc trở ngại
18
-
một sự cố hoặc nguồn gốc của rắc rối, sự lo lắng
-
thiếu thoải mái; lúng túng [2]
1.2.3. Khó khăn học tập
-
Khó khăn học tập là điều kiện thần kinh can thiệp vào khả năng của đứa trẻ để
19
Trong thực tiễn, khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào con người điều gặp phải
những khó khăn, làm cho hoạt động bị chệch hướng, dẫn đến giảm đi hiệu quả mà con
người mong muốn, thậm chí không đạt được mục đích hoạt động. Những khó khăn
này, được gọi chung là những khó khăn trong quá trình hoạt động của con người,
được tạo nên bởi các yếu tố mang tính tiêu cực gồm yếu khách quan (bên ngoài) và
yếu tố chủ quan (bên trong).
Đây là những yếu tố có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động của con người. Yếu tố
khách quan, được hiểu là những điều kiện, phương tiện, môi trường hoạt động,…
Những yếu tố chủ quan, chính là những yếu tố xuất phát từ bản thân của mỗi cá nhân
khi tham gia vào hoạt động như: nhận thức, thái độ, tình cảm, năng lực, kinh nghiệm,
các thao tác kỹ năng tiến hành hoạt động. Các yếu tố bên trong có thể chia làm hai
loại: yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý. Những khó khăn do yếu tố tâm lý tạo nên gọi là
những khó khăn tâm lý. Chính yếu tố bên trong này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình
và kết quả hoạt động của con người.
1.3.1. Những khó khăn tâm lý
Lo âu
Lo âu là một phản ứng cảm xúc và sinh lý bình thường đối với cảm giác bị đe dọa. con
người khác nhau khi họ cảm thấy dễ bị tổn thương như thế nào trong các tình huống
khác nhau: điều này có thể bị ảnh hưởng do kinh nghiệm trong quá khứ cũng như bởi
các niềm tin và thái độ mà họ có về những tình huống này. Một số tình huống chung
thường gây ra lo lắng bao gồm:
- xa nhà và / hoặc thích nghi với cuộc sống ở trường đại học
- di chuyển đến một khu vực mới hoặc công việc mới
- thuyết trình, hoặc thực hiện trong các tình huống xã hội
- đối phó với công việc và các kỳ thi
- giải quyết các mối quan hệ hoặc thiếu các mối quan hệ
- các vấn đề tình dục
những thách thức mới. Suy cho cùng, nếu không bao giờ giải quyết những điều mà
chúng ta cảm thấy thách thức, thì chúng ta đã không chắc chắn rằng có thể thành
công, chúng ta sẽ ngừng học tập hoặc đi vào cuộc sống.
21
Tuy nhiên, cũng có trường hợp quá căng thẳng có thể can thiệp nghiêm trọng đến
cuộc sống bình thường. Tuy nhiên, trạng thái lo âu cấp tính là thời gian hạn chế và sẽ
bắt đầu mờ dần trong một thời gian tương đối ngắn. Ngay cả khi sự lo âu với cường
độ cao, bạn có thể vẫn có thể hoạt động tốt hơn hơn bạn mong đợi, và những người
khác thường không biết rằng bạn đang cảm thấy như thế nào.
Dưới đây là một số chiến lược bạn có thể thử cho chính mình:
+ Xem xét các trường hợp căng thẳng trong cuộc sống của bạn
Hãy suy nghĩ về tất cả những điều đang xảy ra trong cuộc sống của bạn có thể gây bạn
căng thẳng. Khi có thể, hãy cố gắng tìm ra các giải pháp thiết thực để giảm các nguồn
căng thẳng này. Điều này có thể bao gồm:
- nói "không" với những thứ bạn không muốn làm
- từ bỏ các hoạt động và trách nhiệm không cần thiết, tốn thời gian
- đối mặt với vấn đề công việc bằng cách nói chuyện với hướng dẫn của bạn, giám đốc
nghiên cứu hoặc giám sát/quản lý
- sử dụng một kế hoạch hành động có tổ chức và thực tế để giải quyết các dự án
- yêu cầu thông tin hoặc sự phản hồi hữu ích
- thảo luận về vấn đề mối quan hệ.
Hãy sẵn sàng thừa nhận những gì cảm thấy đúng cho bạn và đối xử tử tế với chính
mình để đáp ứng nhu cầu của bạn. Tăng khả năng đối phó với căng thẳng của bạn
bằng cách chăm sóc sức khỏe gồm việc cố gắng ăn uống đầy đủ, tập thể dục thường
xuyên và nghỉ ngơi đúng cách. Hỗ trợ từ những người khác là rất quan trọng; do đó,
dành nhiều thời gian với bạn bè và / hoặc các thành viên hỗ trợ trong gia đình. Thực
hiện các hoạt động thú vị, hoặc của riêng bạn hoặc với người khác, cũng rất quan
định rằng không thành công sẽ là một thảm kịch hoàn toàn không?
Bạn có lo lắng về tương lai?
- Bạn có giả định rằng bạn biết những gì sẽ xảy ra trong tương lai không?
- Bạn có chứng cứ nào cho rằng nỗi sợ hãi của bạn là hợp lý không?
-
Bạn có phóng đại cơ hội về một thứ gì đó diễn ra không như mong đợi hoặc giảm
thiểu khả năng làm cho nó tốt hơn của bạn không?
-
Bạn có đang tự làm cho mình sợ về những tình huống bạn không thực sự phải đối
mặt hiện nay, và có thể không bao giờ xảy ra không?
Bạn có tự so sánh với người khác không?
- Bạn có giả định rằng mọi người khác đang làm giỏi, ngoại trừ bạn khi bạn không
thực sự biết những người khác đang cảm nhận hoặc quản lý công việc như thế nào
không?
23