BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
N NGNGUYỄN ỌC KNGUNGUYEHÁNH DUNG
NGUYỄN NGỌC KHÁNH DUNG
NGHIÊN CỨU
KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN:
TRÁCH NHIỆM KIỂM TOÁN VIÊN TRONG KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
1
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học kinh tế
TP.Hồ Chí MinhTrường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Bùi Văn Dương;
TS. Phạm Xuân ThànhS.TS Bùi Văn Dương TS Xuân Thành
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp
trường tại Trường Đại học kinh tế TP.Hồ Chí MinhTrường
Đại
công việc của mình dưới góc nhìn xã hội.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Khám phá các trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên AEG ở
Việt Nam;
- Xác định các thành phần và đo lường AEG ở Việt Nam;
2
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm xác định quan hệ giữa
yếu tố nghề nghiệp với từng thành phần cấu thành nên AEG.
3. Câu hỏi nghiên cứu.
- Đối với mục tiêu nghiên cứu thứ nhất, 3 câu hỏi nghiên cứu
đề xuất gồm:
Q11: Người sử dụng BCKT (công chúng) kỳ vọng những
TNKT nào KTV nên thực hiện và kỳ vọng bất hợp lý đối với những
TNKT nào
Q12: Người sử dụng BCKT nhận thức (hiểu biết) về các
TNKT được quy định hiện hành như thế nào?.
Q13: Người sử dụng BCKT đánh giá kết quả thực hiện các
TNKT hiện hành của KTV như thế nào
- Đối với mục tiêu nghiên cứu thứ hai, câu hỏi nghiên cứu là:
Q2: Các thành phần cấu thành nên AEG ở VN là gì, mức độ
khoảng cách của chúng là bao nhiêu?;
- Đối với mục tiêu nghiên cứu thứ ba, câu hỏi nghiên cứu là:
Q3: Liệu nghề nghiệp của mỗi nhóm đối tượng khảo sát có
ảnh hưởng đến việc xác định các trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên
AEG trong kiểm toán BCTC ở Việt Nam không và mức độ ảnh hưởng
của chúng nếu có?.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là trách nhiệm kiểm toán
xứng thông tin và mâu thuẫn lợi ích (luận cứ giải thích dựa trên lý
thuyết ủy nhiệm).
+ Nghiên cứu cũng bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm
củng cố lý thuyết về AEG là “không có bằng chứng cho thấy các yếu
tố kinh tế, chính trị văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến AEG”.
- Về mặt ứng dụng:
4
+ Nghiên cứu đã chỉ ra được thực trạng phát triển nghề nghiệp
kiểm toán ở Việt Nam hiện nay, xác định và phân loại các trách nhiệm
kiểm toán hiện hành theo quy định.
+ Xác định được những nguyên nhân cụ thể tương ứng với
từng TNKT và có các giải pháp để điều chỉnh, bổ sung hoặc sửa đổi
kịp thời các TNKT trên nhằm thu hẹp AEG ở Việt Nam. Việc đo
lường được mức độ đóng góp của từng TNKT vào AEG cung cấp
được những chỉ báo cho các cơ quan liên quan xây dựng, thực thi các
chính sách nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp kiểm toán độc lập ở
Việt Nam.
+ Nghiên cứu cũng giới thiệu được công cụ, kỹ thuật khảo sát
để xác định các TNKT cấu thành nên từng thành phần của AEG. Đồng
thời đo lường được mức độ đóng góp cụ thể của từng TNKT trong
mỗi thành phần và mức độ khoảng cách của mỗi thành phần trong
AEG. Nếu tiếp tục sử dụng để khảo sát, kết quả trong các nghiên cứu
tiếp theo có ý nghĩa rất lớn khi có thể vừa đo lường và vừa đánh giá
tác động từ những giải pháp thu hẹp AEG cũng như nâng cao chất
lượng kiểm toán trong một khoảng thời gian nhất định.
7. Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần giới thiệu, luận án gồm năm chương:
Chương 1- Tổng quan các nghiên cứu trước liên quan đến
thực hiện. Ba là, khoảng cách này tồn tại liên quan đến vai trò và trách
nhiệm của KTV, mục tiêu, chức năng kiểm toán, tính độc lập của
KTV, mức độ tin cậy và hữu ích của báo cáo kiểm toán (BCKT) và
thông điệp truyền tải trong BCKT. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số quan
điểm khác biệt liên quan đến định nghĩa về AEG xoay quanh ba câu
hỏi chính sau: (i) AEG liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên
được xác định dựa trên kỳ vọng và quan điểm của nhóm đối tượng
6
nào?, (ii) AEG được cấu thành từ các thành phần nào?, (iii) AEG được
đo lường như thế nào?.
1.1.2. Các nghiên cứu thực nghiệm khẳng định tồn tại
AEG.
Các nghiên cứu thực nghiệm tiến hành khảo sát sự tồn tại
AEG trong các bối cảnh khác nhau. Chúng bao gồm Lee (1970);
Humphrey & cộng sự (1993); Porter & cộng sự (2004, 2012) ở UK;
Baron & cộng sự (1977); Lowe (1994); Epstein & Geiger (1994) và
McEnroe & Martens (2001) ở Hoa Kỳ; Beck (1973), Monroe &
Woodliff (1994); Gay & cộng sự (1997) và Schelluch & Gay (2006) ở
Úc; Porter (1993); Porter (2004, 2012) ở New Zealand; Dixon & cộng
sự (2006) ở Ai Cập; Haniffa & Hudaib (2007) ở A Rập; Sidani &
cộng sự (2007) ở Lebanon; Omid Pourheydari & Mina Abousaiedi
(2011) ở Iran; Onumah & cộng sự (2009) ở Tây Phi; Bogdanovičiūtė
(2011) ở Lithuania; Best & cộng sự. (2001) ở Singapore; Lin & Chen
(2004) ở Trung Quốc; Fadzly & Ahmed (2004) và Lee & cộng sự
(2007) ở Malaysia; Fulop (2015) ở Hungary. Tổng hợp các kết quả
nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm chỉ ra sự tồn tại
AEG liên quan đến các khía cạnh: (i) vai trò, chức năng và mục tiêu
kiểm toán, (ii) mức độ đảm bảo, tin cậy của nghề nghiệp kiểm toán và
cứu nào chỉ ra cụ thể và chi tiết các trách nhiệm KTVcấu thành nên
AEG, cũng như chưa có nghiên cứu nào đo lường mức độ của AEG
liên quan đến trách nhiệm KTV ngoài trừ nghiên cứu của Porter
(1993, 2004, 2012).
1.2. Kết quả và hạn chế từ các nghiên cứu trước
1.2.1. Kết quả nghiên cứu về AEG.
Tổng kết các nghiên cứu liên quan đến AEG có thể đi đến một
số khẳng định sau: (i) hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều cung
cấp bằng chứng cho thấy luôn tồn tại AEG liên quan đến các khía
cạnh kiểm toán như trách nhiệm KTV, mục tiêu, vai trò và chức năng
8
kiểm toán, mức độ đảm bảo và tin cậy của nghề nghiệp kiểm toán và
mức độ hữu ích của BCKT, tính độc lập của KTV; (ii) đối với thông
tin trình bày trên BCKT, hai vấn đề chính thường tồn tại khác biệt
trong nhận thức gồm mục đích và hạn chế vốn có của kiểm toán, các
khái niệm và thuật ngữ sử dụng; (iii) chưa có bằng chứng cho thấy các
yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội tác động trực tiếp tới AEG.
1.3.2. Hạn chế trong các nghiên cứu về AEG.
- Chưa hoàn chỉnh được một khung lý thuyết đầy đủ về AEG.
- Nhiều nghiên cứu vẫn áp dụng phương pháp tiếp cận từ các
nghiên cứu trong thập niên 1970 và 1980.
- Thứ ba, mặc dù một số ít nghiên cứu cung cấp bằng chứng
xác định nguyên nhân hình thành nên AEG, qua đó xác định các yếu
tố cấu thành nên AEG. Tuy nhiên, hầu như chưa có nghiên cứu nào
xem xét mối liên hệ của các yếu tố tác động như thế nào tới từng
thành phần của AEG
1.3. Khe hổng trong nghiên cứu về AEG
Chưa có nghiên cứu nào vừa xác định sự tồn tại, cấu trúc
thuận cao khi xác định các thành phần cấu thành nên AEG thuộc về
vai trò và TNKT của KTV (Porter & cộng sự 1993, Fazdly & Ahmad
2004, Dixon & cộng sự. 2006…), nội dung và ý nghĩa thông điệp
truyền tải trong BCKT (Monroe & Woodliff 1994; Gay và cộng sự
1998) và tính độc lập của KTV (Lin & Chen 2004; Alleyne và cộng sự
2006). Trong đó, điển hình nhất là định nghĩa AEG của Porter (1993)
cho rằng, AEG là sự khác biệt giữa kỳ vọng của xã hội đối với trách
nhiệm của KTV và quan điểm của xã hội về kết quả thực hiện công
việc (nhiệm vụ) của KTV”.
10
2.1.3. Bản chất và cấu trúc của AEG
2.1.3.1. Mô hình cấu trúc AEG của MacDonald.
2.1.3.2. Mô hình cấu trúc AEG của Porter.
2.1.3.3. Mô hình cấu trúc AEG của Turner.
2.1.3.4. Mô hình cấu trúc AEG Al-Alimi và Katdare.
2.2. Khung lý thuyết giải thích tồn tại AEG và mô hình
khái niệm sử dụng trong nghiên cứu.
2.2.1. Lý thuyết vai trò
Áp dụng lý thuyết này nhằm giải thích sự tồn tại của nghề
nghiệp kiểm toán và sự xuất hiện của AEG: Kiểm toán là một nghề
nghiệp có vị thế nhất định trong cấu trúc xã hội. Vị thế này được gán
cho mỗi KTV khi thực hiện nhiệm vụ nhằm đáp ứng vai trò là thỏa
mãn một số yêu cầu nhất định từ phía công chúng, chẳng hạn: tăng
cường mức độ tin cậy, hữu ích của thông tin trình bày trên BCKT.
Trái lại, nếu KTV không hoàn thành vai trò được xã hội kỳ vọng dẫn
tới vị thế của họ trong cấu trúc xã hội sẽ sụt giảm, thậm chí có thể bị
đào thải. Theo Davidson (1975), vai trò của KTV phụ thuộc vào mối
tương quan về kỳ vọng hợp lý giữa những nhóm có lợi ích khác nhau
Confidence).
Lý thuyết này được sử dụng để giải thích cơ sở cho việc
nghiên cứu các quan điểm của các nhóm đối tượng có lợi ích liên quan
trong việc lựa chọn đâu là TNKT mà KTV có thể thực hiện một cách
hợp lý.
2.3. Mô hình khái niệm sử dụng trong nghiên cứu.
Nghiên cứu trong luận án này dựa trên mô hình khái niệm
AEG của Porter (1993) và mô hình khái niệm của Turner & cộng sự
(2010). Theo đó, khái niệm AEG trong nghiên cứu được chia thành
bốn thành phần chính: (i) khoảng cách hợp lý; (ii) khoảng cách hoàn
thiện chuẩn mực, (iii) khoảng cách tăng cường kết quả và (iv) khoảng
cách dịch vụ theo định nghĩa của Turner & Cộng sự (2010).
Kết luận chương 2
12
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này nhằm mục đích trình bày phương pháp nghiên
cứu, khung nghiên cứu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
3.1. Phương pháp nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nhằm khám phá các trách nhiệm cấu
thành AEG, khẳng định sự tồn tại và đo lường các thành phần cấu
thành nên AEG ở Việt Nam, luận án sử dụng kết hợp cả phương pháp
nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng.
3.1.1. Nghiên cứu định tính
Được thực hiện thông qua phân tích nội dung văn bản nhằm
xác định các TNKT được quy định hiện hành và thông qua đó thiết kế
bảng câu hỏi và hiệu chỉnh bảng câu hỏi khảo sát thực hiện bước
nghiên cứu định lượng tiếp theo.
Kết luận chương 3
15
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU
Chương này thực hiện phân tích và thảo luận kết quả khảo
sát của luận án
4.1. Xác định trách nhiệm KTV cấu thành nên khoảng
cách kỳ vọng - hiện thực
4.1.1. Trách nhiệm KTV - thành phần khoảng cách hợp
lý
4.1.1.1. Trách nhiệm KTV nên thực hiện
Dựa trên lý thuyết niềm tin tin thác của Limperg (1933) để
xác định đâu là trách nhiệm KTV nên thực hiện. Kết quả khảo sát có
42/45 TNKT được kỳ vọng KTV nên thực hiện do tỷ lệ phản hồi của
mỗi nhóm trong nhóm xã hội đồng ý đều từ 20% trở lên.
4.1.1.2. Trách nhiệm hợp lý của KTV
Dựa trên lý thuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết ủy nhiệm để
xác định đâu là các trách nhiệm hợp lý. Căn cứ vào mức độ hiểu biết
và lợi ích tương đồng giữa Nhóm KHKT và Nhóm có lợi ích trực
tiếp để xác định TNKT hợp lý mà KTV nên thực hiện. Kết quả khảo
sát chỉ ra có 29/42 trách nhiệm KTV nên thực hiện được coi là trách
nhiệm hợp lý.
4.1.1.3. Trách nhiệm kỳ vọng bất hợp lý
Chênh lệch giữa số TNKT được nhóm xã hội kỳ vọng nên
thực hiện (mục 4.2.1.1) và số TNKT được hai nhóm kỳ vọng nên
thực hiện (mục 4.2.1.2) hình thành TNKT được kỳ vọng bất hợp lý
gồm 13 TNKT cấu thành nên khoảng cách hợp lý - thành phần AEG.
4.1.2 Trách nhiệm hợp lý cần bổ sung – thành phần
khảo sát. Khoảng cách hiểu biết của bốn nhóm KTV, KHKT, Nhóm
có lợi ích trực tiếp, Nhóm có lợi ích gián tiếp lần lượt là 24%, 20%,
29%, 28%.
17
4.1.3. TNKT không đạt yêu cầu – thành phần khoảng
cách tăng cường kết quả.
Dựa trên lý thuyết hồi ứng người đọc để giải thích cho việc
đánh giá kết quả thực hiện nhiệm của KTV. Kết quả khảo sát đối với
16 trách nhiệm hiện hành có 8/16 trách nhiệm đạt yêu cầu, cụ thể là:
TNKT 3, 6, 40, 43, 21, 5, 25,42. Nghiên cứu phân tích này cung cấp
bằng chứng tồn tại khác biệt trong đánh giá kết quả thực hiện nhiệm
vụ của KTV và xác định được 8 TNKT không đạt yêu cầu – cấu
thành nên khoảng cách tăng cường kết quả - thành phần của khoảng
cách hiện thực.
4.1.4. Trách nhiệm KTV - thành phần khoảng cách dịch
vụ.
Kết quả khảo sát toàn bộ 16 TNKT hiện hành công chúng
đều kỳ vọng KTV thực hiện và đều là những kỳ vọng hợp lý. Như
vậy, toàn bộ TNKT theo quy định hiện hành đều được công chúng
nhìn nhận cần thiết và không cấu thành khoảng cách dịch vụ.
4.2. Xác định và đo lường mức độ khoảng cách của các
thành phần cấu thành AEG
4.2.1. Xác định các thành phần khoảng cách kỳ vọng –
hiện thực và ảnh hưởng của khoảng cách hiểu biết.
Các TNKT được xác định chỉ cấu thành nên ba thành phần
AEG là khoảng cách hợp lý (13 TNKT), khoảng cách hoàn thiện
chuẩn mực (13 TNKT), khoảng cách tăng cường kết quả (8 TNKT).
Không tồn tại khoảng cách dịch vụ.
mỗi người trong số họ. Mức độ ảnh hưởng của 10 TNKT (33, 7, 35,
29, 44, 39, 19, 31, 17, 38) biến thiên trong khoảng từ 0.119 đến
0.199 (từ 11,9% đến 19,9%).
4.3.3. Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến khoảng cách tăng
cường kết quả kiểm toán
Kết quả kiểm định Chi - Square xác định được toàn bộ 8
TNKT có Sig.
- Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm
chứng tỏ rằng tồn tại AEG đáng kể ở Việt Nam phù hợp với định
nghĩa về khoảng cách kỳ vọng – hiện thực của Porter (1993).
- Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng nghề nghiệp đến các TNKT
cấu thành nên các thành phần của AEG cũng cung cấp bằng chứng
thực nghiệm chứng tỏ rằng, AEG luôn tồn tại xuất phát từ những
khác biệt về vị trí nghề nghiệp của mỗi cá nhân tham gia khảo sát,
vai trò người khảo sát, người thu nhận thông tin, khác biệt về lợi ích,
bất cân xứng thông tin và mâu thuẫn lợi ích. Mức độ ảnh hưởng của
nghề nghiệp đến khoảng cách chỉ mức độ khoảng cách không thể thu
hẹp hoàn toàn. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được nguyên nhân, cụ
thể: (i) khác biệt về lợi ích ảnh hưởng tới kỳ vọng của mỗi nhóm
khảo sát, (ii) mức độ ảnh hưởng của mỗi yếu tố trên đến AEG được
thể hiện theo xu hướng mức độ hiểu biết càng thấp, lợi ích liên quan
càng mật thiết thì kỳ vọng kiểm toán càng cao và ngược lại. (iii) kỳ
vọng bất hợp lý của công chúng được cấu thành từ (i) kỳ vọng quá
cao vào kết quả kiểm toán mà KTV có thể thực hiện; (ii) kỳ vọng
không hợp lý đối với chuẩn mực kiểm toán; (iii) thiếu hiểu biết về
kiểm toán.
- Kết quả khảo sát AEG ở Việt Nam cũng cho thấy rằng,
AEG tồn tại không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các yếu tố kinh tế,
chính trị và xã hội tương đồng với hầu hết các nghiên cứu trước.
23
5.2.2. Một số hàm ý chính sách
Tăng cường đào tạo cho KTV tập trung vào 2
TNKT 16,37
Tăng cường kết
Thay đổi hình thức BCKT,tăng cường trao
đổi thông tin.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Nghiên cứu này còn tồn tại một số hạn chế như cơ mẫu nhỏ,
chưa cung cấp bằng chứng thực nghiệm xác định được tất cả các
nguyên nhân đóng góp vào AEG. Nghiên cứu AEG cũng chỉ giới hạn
trong phạm vi trách nhiệm kiểm toán của KTV, chưa tìm hiểu AEG
liên quan đến bản chất, chức năng kiểm toán, mức độ tin cậy, hữu ích
của BCKT, tính độc lập của KTV. Những hạn chế này cho thấy khả
năng triển khai các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này như
nghiên cứu AEG ở mức độ phạm vi rộng hơn hoặc mở rộng nghiên