HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
Vế TH TUYT HO A
Quan hệ giữa phát triển kinh tế nông thôn
và bảo vệ môi trường ở tỉnh đồng tháp
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: KINH T CHNH TR
H NI - 2016
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
Vế TH TUYT HO A
Quan hệ giữa phát triển kinh tế nông thôn
và bảo vệ môi trường ở tỉnh đồng tháp
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: KINH T CHNH TR
Mó s: 62 31 01 02
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS PHM TH TY
H NI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
10
1.3. Một số nhận xét rút ra từ những công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài và những vấn đề đặt ra cho hướng nghiên cứu tiếp theo
25
Chương 2: C Ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ Q UAN H Ệ GIỮA PHÁT
TRIỂN KINH TẾ NÔNG TH Ô N VÀ BẢO VỆ MÔ I TRƯỜ NG
29
2.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ giữa phát triển kinh tế nông
thôn và bảo vệ môi trường
29
2.2. Thực chất và các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ giữa phát triển kinh
tế nông thôn và bảo vệ môi trường
39
2.3. Một số kinh nghiệm phát triển kinh tế nông thôn gắn với bảo vệ môi
trường và bài học cho Đồng Tháp
55
Chương 3: THỰC TRẠNG Q UAN H Ệ GIỮA PH ÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG THÔ N VÀ BẢO VỆ MÔ I TRƯỜ NG Ở TỈNH ĐỒNG
109
4.2. Phương hướng giải quyết hài hòa quan hệ giữa phát triển kinh tế
nông thôn và bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Tháp
117
4.3. Những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết hài hòa quan hệ giữa phát
triển kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Tháp
trong giai đoạn đến năm 2025
KẾT LUẬN
122
145
DANH MỤC CÁC CÔ NG TRÌNH ĐÃ CÔ NG BỐ CỦA TÁC G IẢ LIÊN
Q UAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
147
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KH ẢO
148
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH
HTX
Hợp tác xã
KCN
Khu công nghiệp
KHCN
Khoa học công nghệ
KTNT
Kinh tế nông thôn
NN, NT
Nông nghiệp, nông thôn
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TN&MT
Tài nguyên và môi trường
TNTN
Kinh phí sự nghiệp môi trường được phân bổ qua các năm
Tình hình sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
77
83
trên địa bàn tỉnh năm 2014
90
Bảng 3.6:
Kết quả phân tích chất lượng nước thải hộ chăn nuôi
heo (sau bể biogas) năm 2013
92
Bảng 3.7:
Kết quả phân tích chất lượng nước thải ao cá công
94
Bảng 3.8:
nghiệp tỉnh Đồng Tháp tháng 11/2013
Kết quả phân tích nước thải từ các làng nghề tháng
10/2014
96
104
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ đánh giá về nguyên nhân chế độ xử phạt còn bất
cập dẫn đến ô nhiễm môi trường trong phát triển KTNT
107
1
MỞ Đ ẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để
phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh,
quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh
thái của đất nước.
Kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường luôn có quan hệ mật thiết với nhau.
KTNT tác động trực tiếp đến vấn đề BVM T và ngược lại khi môi trường được bảo
vệ hay bị ô nhiễm cũng sẽ có tác động trực tiếp đến sự phát triển KTNT. Trong sản
xuất nông nghiệp, tình trạng ô nhiễm môi trường, trong ngắn hạn, chúng ta khó có
thể đánh giá được cũng như không nhìn thấy được những tác hại của nó. Đồng thời,
người nông dân vì lợi ích trước mắt là để gia tăng về sản lượng thì họ sử dụng tuỳ
tiện thuốc kích thích sinh trưởng hoặc sử dụng quá mức TNTN,... Về lâu dài, hậu
quả là không thể tính toán được do càng ngày môi trường tự nhiên sẽ càng bị nguy
hại trầm trọng hơn; hạn hán, lũ lụt, thời tiết thất thường không có khả năng dự
báo,... Lúc đó, KTNT mà đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng
một cách trực tiếp: năng xuất sẽ giảm, dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi sẽ ngày
càng gia tăng, khó đối phó và kiểm soát,… Những hậu quả này, người trực tiếp
gánh chịu sẽ cũng là nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất.
dụng nước sạch còn thấp; việc quản lý, xây dựng và vận hành các bãi chôn lấp rác
thải hầu hết chưa tuân thủ các quy định hiện hành dẫn đến ô nhiễm nước, không
khí, nước rò rỉ, thẩm thấu gây ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, các loại
khí độc hại bốc lên gây ô nhiễm môi trường xung quanh.
Thực tế cho thấy nếu phát triển KTNT mà chỉ chú trọng đến lợi ích trước mắt
thì sẽ phát triển không bền vững và còn tác động xấu đến vấn đề BVMT. Khi môi
trường không được bảo vệ và bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng đến phát triển KTNT. Vậy,
làm thế nào để có thể cân bằng được giữa phát triển KTNT và BVMT?
Để đánh giá đúng và giải quyết tốt vấn đề phát triển KTNT và BVMT nhằm
phát triển NN, NT bền vững ở địa phương tỉnh Đồng Tháp, đề tài "Quan hệ giữa
phát triển kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Tháp" được lựa
chọn làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành Kinh tế chính trị.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là phân tích, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về
quan hệ giữa phát triển KTNT và BVMT; đánh giá hiện trạng quan hệ giữa phát
triển KTNT và BVMT ở tỉnh Đồng Tháp. Từ đó, đề xuất các định hướng và giải
pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ này, phục vụ cho phát triển bền vững kinh tế
- xã hội của tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, phân tích và làm rõ quan hệ giữa phát triển KTNT và BVMT; chỉ
rõ các nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phải giải quyết hài hòa mối quan hệ này;
tìm hiểu kinh nghiệm phát triển KTNT gắn với BVMT ở một số nước và một số địa
phương trong nước, từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Đồng Tháp trong
giải quyết mối quan hệ này;
Thứ hai, khái quát tình hình phát triển KTNT của tỉnh Đồng Tháp; phân tích
thực trạng quan hệ giữa phát triển KTNT và BVMT ở tỉnh Đồng Tháp giai đoạn
các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; kế thừa
một cách có chọn lọc các công trình nghiên cứu có liên quan đến NN, NT, môi
trường và BVMT.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
+ Phương pháp trừu tượng hóa khoa học là phương pháp chủ yếu của Kinh tế
chính trị được tác giả sử dụng trong luận án ở các phần như: Xác định đối tượng,
phạm vi nghiên cứu; chương 1; chương 2; chương 3 để gạt bỏ những vấn đề riêng
lẻ, những biểu hiện ngẫu nhiên nhằm tìm ra bản chất của vấn đề nghiên cứu.
+ Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc thu thập,
xử lý, phân tích các số liệu thống kê để xem xét các mối quan hệ giữa các mặt, các
yếu tố, các mối quan hệ tác động có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề nghiên
cứu. Đối với đề tài này, nguồn số liệu thống kê được thu thập chủ yếu từ cơ quan
quản lý các cấp của tỉnh như: Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(NN&PTNT), Sở Công Thương, Sở TN&M T và một số sở, ngành, huyện và cơ sở.
+ Phương pháp phân tích - tổng hợp: Từ những số liệu và tài liệu đã được xử lý,
luận án sử dụng phương pháp này để phân tích, tổng hợp các kết quả phân tích, các đánh
giá riêng lẻ để tìm ra mối quan hệ nhân quả, xu hướng phát triển của đối tượng nghiên
cứu trong tương lai, từ đó đề xuất những giải pháp thích hợp và có hiệu quả.
5
+ Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: thông tin được tác giả thu thập bằng
cách phát phiếu phỏng vấn dưới dạng bảng hỏi cho nhiều đối tượng từ cán bộ ở các
Sở, Ban, Ngành đến các cán bộ ở cơ sở và đặc biệt là các chủ thể sản xuất ở nông
thôn nhằm nắm tình hình thực tiễn một cách trực tiếp.
Ngoài ra, luận án chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
và tổng kết thực tiễn; phương pháp hệ thống và so sánh.
5. Đóng góp mới của luận án
- Về lý luận:
- Bộ Tư bản của C.Mác và Ph.Ăngghen là một tác phẩm đồ sộ nghiên cứu
về kinh tế, trong đó, ở Tập 25 phần II [53], đã đề cập đến vai trò của nông
nghiệp trong phần thứ sáu về sự chuyển hóa của lợi nhuận siêu ngạch thành địa
tô. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định vai trò của sản xuất nông nghiệp là cơ
sở của mọi xã hội. "Năng suất lao động nông nghiệp vượt quá nhu cầu cá nhân
của người lao động là cơ sở của mọi xã hội" [53, tr.490]. Năng suất lao động
nông nghiệp là cái cơ sở tự nhiên không phải chỉ riêng cho lao động thặng dư
trong lĩnh vực của bản thân ngành nông nghiệp mà còn là cái cơ sở tự nhiên để
biến tất cả các ngành lao động khác thành những ngành độc lập và do đó, là cái
cơ sở tự nhiên cho giá trị thặng dư được tạo ra trong các ngành đó. Bất cứ giá trị
thặng dư nào cũng thế, cả tương đối lẫn tuyệt đối, đều dựa vào một năng suất lao
động nhất định nào đó. Năng suất lao động ấy, mức năng suất ấy được dùng làm
điểm xuất phát phải có trước hết là trong lao động nông nghiệp [53, tr.490-491].
Đồng thời, ở Tập 23, trong chương XXIV của phần thứ bảy về quá trình tích lũy
ban đầu, khi nghiên cứu về ảnh hưởng ngược lại của cuộc cách mạng nông
nghiệp đối với công nghiệp, C.Mác cũng khẳng định trong nông nghiệp, mặc dù
số người cày cấy ruộng đất có giảm đi, ruộng đất vẫn mang lại số sản phẩm như
trước hay nhiều hơn trước vì sự cải tiến các phương pháp canh tác, sự hiệp tác
rộng lớn hơn, sự tích tụ các tư liệu sản xuất và công nhân làm thuê trong nông
nghiệp phải làm việc căng thẳng hơn [52, tr.1036].
- Trong tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", C.Mác cho
rằng: "Con người trực tiếp là thực thể tự nhiên… với tư cách là thực thể tự nhiên,
7
hơn nữa lại là thực thể tự nhiên sống" [50, tr.233] và "con người không chỉ là
thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người, nghĩa là thực thể tồn
tại cho bản thân mình và do đó là thực thể loài" [50, tr.234]. Đặc biệt, giới tự
nhiên - cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là
thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng
lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta. Mỗi một thắng lợi, trước hết là đem lại
cho chúng ta những kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhưng đến lượt thứ hai,
lượt thứ ba, thì nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước
được, những tác dụng thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên đó… Vì thế,
không thể thống trị giới tự nhiên như kẻ xâm lược mà phải nhận thức được quy luật của
giới tự nhiên và có thể sử dụng những quy luật đó một cách chính xác.
Ph.Ăngghen cũng khẳng định, chúng ta cần quan tâm cả lợi ích gần và hậu
quả xã hội, những hậu quả tự nhiên xa xôi của hoạt động sản xuất để có thể chi p hối
và điều tiết được những hậu quả đó. Đồng thời, muốn tiến hành sự điều tiết ấy cho
tốt thì không chỉ đơn thuần dựa vào nhận thức mà "cần phải có sự chuyển biến hoàn
toàn trong phương thức sản xuất đã tồn tại cho đến nay và trong chế độ xã hội hiện
tại" [51, tr.657]. Bởi vì, tất cả các phương thức sản xuất cũ chỉ nhằm đạt được
những hiệu quả có ích gần nhất và trực tiếp nhất mà không chú ý đến những hậu
quả xa, sau này mới xuất hiện. Điển hình những nhà tư bản riêng lẻ sản xuất và trao
đổi chỉ để thu lợi nhuận trước mắt đã dẫn đến hậu quả sau này: cạn kiệt tài nguyên,
khủng hoảng kinh tế.
Qua nghiên cứu quan điểm của C.M ác và Ph.Ăngghen về vai trò của nông
nghiệp, mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, nhiều vấn đề được rút ra
trong giải quyết quan hệ giữa phát triển kinh tế nói chung và KTNT nói riêng với
môi trường sinh thái:
Thứ nhất, nông nghiệp nói riêng, KTNT nói chung có vị trí, vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Năng suất lao động trong phát triển KTNT có
thể ngày càng tăng nếu biết hợp tác sản xuất với quy mô lớn và cải tiến phương
pháp canh tác trong sản xuất nông nghiệp.
Thứ hai, con người cũng là một thực thể tự nhiên và giới tự nhiên là thành phần
môi trường đặc biệt quan trọng trong đời sống của con người, nó bao quanh con người.
Vì thế, chúng ta không nên đối lập giữa con người và môi trường tự nhiên.
Thứ ba, trong quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, con người cần nắm
vững quy luật tự nhiên để chinh phục nó một cách hài hòa nhất, đừng tác động vào
tự nhiên một cách thô bạo. Con người phải BVMT tự nhiên; áp dụng những tiến bộ
xanh đánh dấu một sự thay đổi trong sự tiến bộ kinh tế, một cách tiếp cận trong đó
nhấn mạnh sự phát triển bền vững với môi trường. Nếu như trong mô hình kinh tế
truyền thống, BVMT có xu hướng như là một gánh nặng kinh tế hoặc làm chậm sự
10
tăng trưởng thì ở các mô hình tăng trưởng xanh luôn đề cao vấn đề bảo vệ và bảo
tồn tài nguyên môi trường trong phát triển kinh tế của quốc gia và toàn cầu. Tương
lai kinh tế tăng trưởng sẽ suy giảm nếu các mô hình tăng trưởng xanh không được
đặt đúng chỗ. Bên cạnh đó, việc thực hiện tăng trưởng xanh phụ thuộc vào chính
sách dài hạn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và BVMT. Các cơ quan chính phủ và
doanh nghiệp nên tham gia vào việc thực hiện chính sách tăng trưởng xanh. Đồng
thời, ở các nước đang phát triển cần đặt mục tiêu chính của việc p hát triển sao cho
không gây gánh nặng quá mức về khả năng chịu đựng của môi trường.
- Raymond Auerbach, Gunnar Rundgren and Nadia El-Hage Scialabba với
nghiên cứu về "Organic agriculture: African experiences in resilience and sustainabilit"
(Nông nghiệp hữu cơ: Kinh nghiệm châu Phi trong sự phục hồi và bền vững) [111]
cho thấy, nông nghiệp hữu cơ có thể có lợi cho nền kinh tế và hệ sinh thái ở châu
Phi, nơi đói và suy thoái dai dẳng tồn tại. Thực hành nông nghiệp hữu cơ sẽ làm
tăng năng suất, đảm bảo an ninh lương thực, cung cấp khả năng phục hồi trong thời
gian khắc nghiệt như hạn hán và mưa lớn. Nghiên cứu tập trung vào các nội dung
như: lồng ghép nông nghiệp hữu cơ vào chương trình nghị sự phát triển châu Phi;
các hệ thống chăn nuôi dựa vào cộng đồng kết hợp quản lý trên phạm vi toàn diện;
tăng cường sự phát triển sinh thái; kiến thức về hộ sản xuất nhỏ;… Kinh nghiệm
nghiên cứu cho thấy khi quay về phương thức canh tác tự nhiên truyền thống, nông
dân sẽ không phải tốn tiền mua thuốc và phân hóa học, đồng thời có thể đa dạng
hóa mùa vụ và canh tác theo hướng bền vững. Hơn nữa, nếu nông sản được chứng
nhận là thực phẩm hữu cơ, người trồng có thể xuất khẩu với giá cao hơn nông sản
bình thường.
Các mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng gắn với BVM T như: nông
mô hình phát triển công nghiệp hóa trước đây, các nước thường chấp nhận việc huy
động cao độ nguồn tài nguyên từ nông nghiệp; Trong giai đoạn đầu của quá trình
CNH đều tập trung vào mục tiêu kinh tế, môi trường bị đặt xuống vị trí thứ yếu nên
đã dẫn đến những thách thức mới của quá trình CNH: bần cùng hóa nông dân, vắt
kiệt tài nguyên nông thôn, môi trường đã bị phá đến mức giới hạn; Bên cạnh đó,
cũng có những cơ hội: KHCN phát triển nhanh, vốn đầu tư linh động và dồi dào, thị
trường mở rộng, trình độ dân trí tăng,… Từ đó, quan điểm phát triển mới hiện nay
với mục tiêu của sự nghiệp phát triển NN, NT là nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của cư dân nông thôn thông qua phát triển bền vững nền sản xuất hàng hóa lớn
có hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, xây dựng nông thôn mới văn minh, kinh tế
phát triển, chính trị dân chủ, kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái cân bằng,
bản sắc dân tộc p hong phú.
12
Cuốn: "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nông nghiệp, nông thôn
trong thời kỳ mới" của Lê Quang Phi [62] chủ yếu đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng
trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH NN, NT ở nước ta và nêu một số kinh nghiệm
Đảng lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH NN, NT. Trong đó, tác giả đã khẳng định, đối
với mọi quốc gia, khai thác nguồn lực, tiềm năng to lớn trong khu vực này, đẩy
mạnh phát triển nông nghiệp, KTNT luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với các quốc gia đi lên từ nền
kinh tế nông nghiệp là chủ yếu. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra kinh nghiệm xây
dựng, phát triển nền kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy dù
công nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân khác có được coi trọng bao nhiêu nhưng
nông nghiệp còn lạc hậu, thì sự lạc hậu ấy sẽ dẫn đến những thiệt hại lớn cho toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, sớm hay muộn cũng buộc xã hội phải khắc phục, có như
vậy mới đảm bảo cho sự phát triển bình thường của nền kinh tế đất nước.
Cuốn: "Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về m ôi trường" của Nguyễn Thị
Thơm, An Như Hải [92], đã khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu lực
nguyên, môi trường trong quá trình CNH, HĐH đất nước, theo 5 hướng chủ yếu: tác
động của văn hóa vùng và văn hóa tộc người, tác động của tôn giáo và tín ngưỡng,
tác động của tri thức dân gian, tác động của đói nghèo và công cuộc xóa đói giảm
nghèo, tác động của di dân. Trong quá trình phân tích các tác động của từng thành
tố, cuốn sách cũng đã đề cập đến một số khía cạnh như: mức độ tác động, tác động
trực tiếp hay gián tiếp, biểu hiện của sự tác động và từ đó đề xuất các giải pháp đổi
mới quản lý nhà nước đối với tài nguyên, môi trường trong quá trình CNH, HĐH từ
góc nhìn văn hóa - xã hội.
Cuốn: "Chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với nông dân trong điều kiện
hội nhập WTO" của Vũ Văn Phúc, Trần Thị Minh Châu [65], đã đi sâu phân tích cơ
sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và thực trạng chính sách hỗ trợ nông dân của N hà
nước trong điều kiện hội nhập WTO ở Việt Nam; từ đó, đánh giá tác động của các
chính sách và đề xuất một số giải pháp đổi mới chính sách để giúp nông dân Việt
Nam vững bước tiến vào thị trường thế giới.
Cuốn: "Nông dân dựa vào đâu?" của Trung tâm tri thức doanh nghiệp quốc
tế [101] đã đề cập cụ thể những vấn đề thiết thực đối với sự phát triển nông nghiệp
và nâng cao đời sống của nông dân, đặc biệt ở vùng ĐBSCL; phân tích những khó
khăn, thách thức trong nông nghiệp và đời sống của người nông dân, hạn chế của
khu vực nông thôn như: ngành nông nghiệp thường xuyên gắn với "thiên tai, mất
14
mùa, dịch bệnh", vấn đề đất đai, "đầu vào" và "đầu ra",…; đồng thời, đưa ra những
định hướng để giải quyết các hạn chế và khó khăn đó trong tình hình mới.
Cuốn: "Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông nghiệp
Việt Nam" của Nguyễn Từ và các cộng sự [105], đã đề cập đến những vấn đề khái
quát về hội nhập kinh tế quốc tế, các hiêp định thương mại khu vực và toàn cầu liên
quan đến nông nghiệp nói chung, ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng; nêu lên
những ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển nông nghiệp Việt Nam
thời gian qua; đồng thời, trong đánh giá nguyên nhân của những yếu kém, hạn chế
phát triển kinh tế xã hội. Từ đó, phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới trong
phát triển kinh tế-xã hội ở Bắc Ninh giai đoạn 2010-2015 và đề ra phương hướng,
giải pháp cho giai đoạn đến năm 2020.
Đề tài: "Kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn,
tỉnh Ninh Bình" của Trần Hồng Quảng [67] trên cơ sở làm rõ lý luận và thực tiễn về
KTNT trong xây dựng nông thôn mới, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng
KTNT trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình; từ đó, đề
xuất giải pháp phát triển KTNT trong xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng nông thôn mới hiệu quả ở huyện
Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
1.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến quan hệ giữa phát
triển phát triển kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường
Cuốn: "Phát triển nông thôn bền vững. Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm
thế giới" của Trần Ngọc Ngoạn và các cộng sự [58], đã nghiên cứu về lịch sử phát
triển NN, NT với các nền nông nghiệp tương ứng với trình độ sản xuất của nó từ
săn bắt, đánh cá đến nông nghiệp công nghiệp hóa, nông nghiệp hữu cơ, nông
nghiệp sinh thái và nông nghiệp phát triển bền vững; đề cập đến thách thức trong sự
phát triển nông thôn như các thách thức về xã hội, thể chế, đô thị hóa,… trong đó,
nhấn mạnh đến thách thức về sinh thái, môi trường và tính không bền vững trong
phát triển; tiếp cận đến phát triển nông thôn bền vững trên 3 trụ cột chính là PTBV
KTNT, PTBV xã hội nông thôn, tăng cường bảo vệ và quản lý môi trường thiên
nhiên và đề cập đến phát triển thể chế bền vững với tác động của thể chế, vai trò
tham gia của người dân, cộng đồng và các nhóm, hội; quan tâm đến tìm kiếm kinh
nghiệm ở một số nước Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Canada, Isarel trong việc ứng
16
dụng các phương pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn như quản lý nguồn gen,
lâm nghiệp, sử dụng tài nguyên nước, tài nguyên đất, phát triển nông nghiệp hữu
cơ, vai trò tham gia của người dân.
ngày càng khang trang, xanh-sạch-đẹp; phát triển nguồn nhân lực của ngành tài
nguyên môi trường; tăng cường quản lý nhà nước về đất đai và môi trường;…
Cuốn: "Quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên đất đai ứng phó với biến đổi
khí hậu" của Nguyễn Đình Bồng và các cộng sự [13], đã nêu lên khái quát chung về
tài nguyên đất đai, BĐKH và quản lý, sử dụng đất đai ứng phó với BĐKH trên toàn
thế giới; tập trung phân tích thực trạng sử dụng đất ở Việt Nam, BĐKH và nguy cơ
thoái hóa đất để từ đó đưa ra các giải pháp quản quản lý bền vững tài nguyên đất đai
ứng phó với BĐKH. Một trong những giải pháp mà tác giả quan tâm là Sử dụng
nông nghiệp bền vững với chính sách bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp, vì
ruộng đất nông nghiệp (đặc biệt là đất lúa nước) khi đã chuyển sang các mục đích
khác (xây dựng, giao thông, công nghiệp…) thì không thể chuyển ngược trở lại làm
đất nông nghiệp nên cần hạn chế tối đa quá trình chuyển mục đích sử dụng đất nông
nghiệp để bảo đảm sản xuất nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực; tập trung
ruộng đất; sử dụng đất phát triển nông thôn bền vững với việc quy hoạch, xây dựng
nông thôn mới phải gắn quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực sản xuất, khu
dân cư với quy hoạch sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ trên cơ sở quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững dựa trên ba trụ
cột: kinh tế - xã hội - môi trường.
Sách chuyên khảo: "Phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu của Việt
Nam trong điều kiện hiện nay" của Ngô Thị Tuyết Mai và các cộng sự [54], đã nêu
bật các vấn đề:
Thứ nhất, cơ sở lý luận về PTBV và sự cần thiết phải PTBV hàng nông sản
xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hiện nay; trong đó, tác giả đã đề cập đến
các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu về mặt môi
trường như mức độ cải thiện môi trường nhờ hoạt động xuất khẩu, mức độ đa dạng
hóa sinh học ở khu vực sản xuất và chế biến hàng nông sản xuất khẩu, mức đóng
góp của hàng nông sản xuất khẩu vào kinh phí BVMT; đồng thời, nhận định các
nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu gồm: nguồn
lực tự nhiên (tính chất sinh học, điều kiện đất đai thổ nhưỡng và thời tiết, khí hậu);
kỹ thuật sản xuất, công nghệ chế biến và bảo quản; phong tục tập quán của người
hiểu nguyên nhân gây ra ô nhiễm và suy thoái đất đai từ các ngành nông nghiệp,
công nghiệp, trong quá trình phát triển làng nghề, ô nhiễm do rác thải và ảnh hưởng
từ những chính sách trong quản lý và quy hoạch đất đai.
Cuốn: "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế
mới giai đoạn 2011-2020" của Nguyễn Thị Tố Quyên và các cộng sự [69], đã khái