HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
Vế TH TUYT HO A
Quan hệ giữa phát triển kinh tế nông thôn
và bảo vệ môi trường ở tỉnh đồng tháp
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: KINH T CHNH TR
H NI - 2016
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔ NG Q UAN TÌNH HÌNH NGHIÊN C ỨU LIÊN Q UAN ĐẾN
Q UAN HỆ G IỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔ NG THÔ N VÀ
BẢO VỆ MÔ I TRƯỜ NG
6
1.1. Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài và tổ chức
quốc tế liên quan đến đề tài
6
1.2. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước có liên quan
NÔNG THÔ N VÀ BẢO VỆ MÔ I TRƯỜ NG Ở TỈNH ĐỒNG
TH ÁP G IAI ĐO ẠN 2010 – 2015
66
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Tháp ảnh hưởng
đến phát triển kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường
66
3.2. Thực trạng quan hệ giữa phát triển kinh tế nông thôn và bảo vệ môi
trường ở Đồng Tháp giai đoạn 2010-2015
75
3.3. Những vấn đề đặt ra cần xử lý để giải quyết hài hòa quan hệ giữa
phát triển kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Tháp
102
Chương 4: PHƯ Ơ NG HƯỚ NG VÀ GIẢI PHÁP NH ẰM GIẢI Q UYẾT H ÀI
H Ò A Q UAN HỆ GIỮA PH ÁT TRIỂN KINH TẾ NÔ NG THÔ N
VÀ BẢO VỆ MÔ I TRƯỜ NG Ở TỈNH ĐỒNG THÁP ĐẾN NĂM
2020, TẦM NH ÌN ĐẾN NĂM 2025
109
4.1. Dự báo xu hướng phát triển kinh tế nông thôn và các vấn đề môi
trường phát sinh ở tỉnh Đồng Tháp thời gian tới
Biến đổi khí hậu
BVMT
Bảo vệ môi trường
BVTV
Bảo vệ thực vật
CCN
Cụm công nghiệp
CĐHĐ
Cánh đồng hiện đại
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CTR
Chất thải rắn
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
Tài nguyên thiên nhiên
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
Tình hình sản xuất nông nghiệp Đồng Tháp giai đoạn
2010-2015
76
Tình hình nuôi trồng thủy sản tỉnh Đồng Tháp giai
đoạn 2010 – 2015
76
Bảng 3.3:
Diễn biến ngành chăn nuôi tỉnh Đồng Tháp giai đoạn
Bảng 3.4:
Bảng 3.5:
Bảng 3.9:
Thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
98
Bảng 4.1:
Diện tích ngập theo các kịch bản nước biển dâng
không tính đến yếu tố môi trường cực đoan của tỉnh
112
Biểu đồ 3.1: Diện tích và năng suất lúa trên cánh đồng hiện đại (cánh
đồng mẫu lớn, cánh đồng liên kết) qua các năm
85
Biểu đồ 3.2: Mức độ cập nhật, theo dõi thông tin liên quan đến BVMT
trong phát triển KTNT của các chủ thể sản xuất ở nông
Biểu đồ 3.3:
thôn
Mức độ tham gia hoạt động liên quan đến BVMT trong
103
phát triển KTNT
gánh chịu sẽ cũng là nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất.
Đồng Tháp nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là một trong ba
tỉnh của vùng Đồng Tháp Mười có nền nông nghiệp phát triển, là vựa lúa lớn thứ ba
của Việt Nam, và trong giai đoạn phát triển vừa qua, KTNT của tỉnh đã có được
những sự phát triển đáng kể, tuy nhiên trong quá trình phát triển đó, vấn đề BVM T
sinh thái chưa được quan tâm thỏa đáng.
Trong nông nghiệp nông thôn, việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV đã
để lại một lượng dư không nhỏ trong môi trường, do cây trồng không hấp thụ
nên đã tác động đến hệ sinh thái nông nghiệp cũng như gây ô nhiễm môi trường
và có thể gây đột biến gen đối với một số loại cây trồng. Ngoài ra, lượng chất
2
thải từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm;… chưa được thu gom,
xử lý, xả thẳng ra môi trường cũng gây ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm và
gây mùi khó chịu làm cho hệ sinh thái ở Đồng Tháp biến động và có chiều
hướng ngày một xấu đi, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, môi trường sống và
sức khỏe của con người; việc phát triển nhanh nuôi thủy sản ở các cồn, bãi ven
sông Tiền, sông Hậu và sự tăng trưởng về diện tích lẫn sản lượng trong nuôi
trồng thủy sản nước ngọt làm gia tăng ô nhiễm nước mặt do nước thải từ các ao
cá không được xử lý.
Trong phát triển công nghiệp nông thôn, do sự phân bố chưa hợp lý ở một số
nơi đã tạo nên nhiều điểm nóng về môi trường, điển hình như khu A của KCN Sa
Đéc, KCN Trần Quốc Toản,... và việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong các lĩnh
vực sản xuất kinh doanh còn thấp, dẫn đến thải ra môi trường một lượng chất thải
khá lớn gây ô nhiễm môi trường vì đa phần các công trình xử lý môi trường ở các
khu vực này chưa được đầu tư xây dựng hiệu quả; Ô nhiễm môi trường ở các làng
nghề ngày càng gia tăng vì trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu, thủ công, làng nghề
phân bố rải rác, thiếu tập trung như làng nghề bột kết hợp với chăn nuôi, làng nghề
sản xuất gạch,...
thực trạng quan hệ giữa phát triển KTNT và BVMT ở tỉnh Đồng Tháp giai đoạn
2010-2015 và rút ra những vấn đề cần giải quyết trong quan hệ giữa phát triển
KTNT và BVMT ở tỉnh Đồng Tháp;
Thứ ba, đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu để giải quyết hài hòa
quan hệ giữa phát triển KTNT và BVMT ở tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới nhằm
phát triển nông thôn một cách bền vững và có hiệu quả trong điều kiện ứng phó với
BĐKH và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu tác động qua lại giữa phát triển KTNT và
BVMT, dựa vào tư liệu thực tiễn ở một tỉnh là Đồng Tháp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
+ Phạm vi về nội dung: Kinh tế nông thôn bao gồm các lĩnh vực như nông
nghiệp, công nghiệp nông thôn và dịch vụ nông thôn. Tuy nhiên, luận án không
nghiên cứu toàn diện các lĩnh vực của KTNT mà chỉ lựa chọn những lĩnh vực có
liên quan trực tiếp đến BVM T, chủ yếu là lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp
4
nông thôn, cụ thể: về nông nghiệp sẽ nghiên cứu về nông-lâm-ngư nghiệp; về công
nghiệp ở nông thôn sẽ tập trung nghiên cứu về công nghiệp chế biến và làng nghề
nông thôn. Về BVMT, luận án không nghiên cứu môi trường chung chung mà chủ
yếu nghiên cứu BVMT sinh thái.
+ Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu quan hệ giữa phát triển KTNT
và BVMT và nghiên cứu cụ thể trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
+ Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu quan hệ giữa KTNT và BVM T
ở tỉnh Đồng Tháp từ năm 2010 đến năm 2015, các giải p háp đưa ra cho thời kỳ đến
năm 2025.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
- Về lý luận:
+ Phân tích và làm rõ hơn những vấn đề về sự cần thiết và thực chất của
quan hệ giữa phát triển KTNT và BVMT;
+ Hệ thống và phân tích những kinh nghiệm về phát triển KTNT gắn với
BVMT của một số quốc gia trên thế giới và của một số địa phương trong nước (có
điều kiện tự nhiên tương đồng với địa bàn nghiên cứu của luận án), qua đó rút ra
những bài học kinh nghiệm cho tỉnh Đồng Tháp.
- Về thực tiễn:
+ Phân tích ảnh hưởng qua lại (tích cực và tiêu cực) giữa phát triển KTNT
và BVMT ở tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2010-2015; rút ra những vấn đề cần giải
quyết trong quan hệ giữa phát triển KTNT và BVMT ở tỉnh Đồng Tháp.
+ Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu để giải quyết hài hòa
quan hệ giữa phát triển KTNT và BVMT ở tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới nhằm
phát triển KTNT của tỉnh Đồng Tháp nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung một cách
bền vững.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết.
6
Chương 1
TỔN G QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG THÔN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜ NG
1.1. C ÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA C ÁC TÁC G IẢ NƯỚ C NGO ÀI
VÀ TỔ C HỨC Q UỐC TẾ LIÊN Q UAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1. Những bàn luận về vai trò của nông nghiệp, mối quan hệ giữa con
thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng
giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể
mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại
[50, tr.135]. Qua đó có thể thấy, C.Mác đã đề cập đến mối quan hệ giữa con người
và môi trường tự nhiên, con người sống và tồn tại phải dựa vào tự nhiên, môi
trường. Vì thế, con người không thể tách khỏi giới tự nhiên. C.Mác còn chỉ rõ, đời
sống của con người không những được duy trì nhờ vào giới tự nhiên mà giới tự
nhiên còn là nguồn gốc của đời sống con người. Do đó, mọi tác động lên giới tự
nhiên - môi trường đều có nghĩa là tác động đến thân thể con người. Con người làm
tổn hại giới tự nhiên nghĩa là làm tổn hại chính bản thân mình [50, tr.180].
- Tác phẩm "Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn
thành người" của Ph.Ăngghen [51, tr.641-658], đã cho chúng ta thấy quan điểm của
ông về quan hệ giữa lao động sản xuất và môi trường tự nhiên. Với một tác phẩm
nhỏ nhưng đã để lại cho chúng ta những bài học rất lớn và có ý nghĩa thiết thực.
Trong tác phẩm, Ph.Ăngghen gọi môi trường tự nhiên là giới tự nhiên và nhấn
mạnh đến vai trò của giới tự nhiên đối với con người. Để tiến hành lao động, con
người không thể không nhờ đến môi trường tự nhiên. "Lao động bắt đầu cùng với
việc chế tạo ra công cụ" [51, tr.648]. Công cụ đầu tiên là những công cụ săn bắt,
đánh cá đến những công cụ hiện đại sau này cũng từ giới tự nhiên. Từ đó, con người
ngày càng thống trị giới tự nhiên và "bắt giới tự nhiên phải phục vụ những mục đích
của mình" [51, tr.654]. Ông cho rằng việc cải tạo tự nhiên để phục vụ con người là
một tiến bộ xã hội nhưng nếu không theo quy luật thì sẽ bị tự nhiên trả thù, gây
những tác dụng phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên.
Có thể thấy, con người là một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh
ra được và con người cũng tác động trở lại tự nhiên, cải biến tự nhiên. Trong giới tự
nhiên, không có cái gì xảy ra một cách đơn độc, hiện tượng này tác động đến hiện
tượng khác và ngược lại. Ông cho rằng, chúng ta cũng không nên quá tự hào về những
8
tự nhiên một cách thô bạo. Con người phải BVMT tự nhiên; áp dụng những tiến bộ
9
khoa học, công nghệ vào việc BVMT theo hướng đáp ứng yêu cầu của hiện tại và
tính đến yếu tố lợi ích lâu dài. Nếu vì lợi ích trước mắt mà tác động xấu đến giới tự
nhiên - môi trường, thì tất yếu con người sẽ chịu sự tác động ngược trở lại, phải
gánh chịu hậu quả nặng nề từ sự "trả thù" của môi trường tự nhiên.
Đây là những nghiên cứu rất bổ ích mà nghiên cứu sinh có thể tham khảo
trong quá trình thực hiện luận án.
1.1.2. Những bàn luận về mô hình phát triển nông nghiệp nhằm hướng
tới thích ứng với các mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
- Tác giả Andy Hall và Kumuda Dorai với nghiên cứu "The greening of
agriculture - agricultural innovation and sustainable growth" (Nông nghiệp xanh Đổi mới và phát triển nông nghiệp bền vững) [112] đã đề cập về vai trò của nông
nghiệp trong một thời đại với những thách thức về môi trường và nhu cầu mới đang
đặt ra là trong phát triển nông nghiệp phải bảo vệ đa dạng sinh học, giảm nhẹ
BĐKH,… Tác giả cho rằng công nghệ là một yếu tố quan trọng trong việc hình
thành các tiêu chí xanh trong nông nghiệp. Sự thay đổi kỹ thuật liên quan đến vấn
đề thâm canh trong nông nghiệp sẽ có những thách thức về môi trường, nhưng nó
cũng sẽ là một yếu tố chính của chiến lược để giải quyết những vấn đề phát triển
bền vững. Thay đổi công nghệ là động lực chính đằng sau tăng năng suất nông
nghiệp trên toàn thế giới. Đồng thời, các tổ chức xã hội và thị trường là lực lượng
lớn trong việc thúc đẩy nền nông nghiệp xanh. Sự hợp tác giữa khu vực công và tư
nhân đang là vấn đề quan trọng trong việc theo đuổi một chương trình nông nghiệp
xanh. Cần học hỏi phát triển nền nông nghiệp xanh từ nhiều nước và quốc tế hóa
chuỗi giá trị nông nghiệp.
- Trong báo cáo của Candice Stevens (Cựu Cố vấn Phát triển bền vững
OECD) về "Agriculture and Green Growth" (Nông nghiệp và tăng trưởng xanh)
[113], ông đã nêu về tầm quan trọng của tăng trưởng xanh cho khu vực nông nghiệp
và những cân nhắc quan trọng trong việc giải quyết những thách thức về môi trường
Các mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng gắn với BVM T như: nông
nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ sẽ là những giải pháp hữu hiệu để giải quyết hài
hòa quan hệ giữa phát triển KTNT và BVMT nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển
NN, NT bền vững. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích mà luận án quan tâm.
1.2. C ÁC C Ô NG TRÌNH NGHIÊN C ỨU C ỦA CÁC TÁC G IẢ TRONG
NƯỚ C C Ó LIÊN Q UAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Nông nghiệp, nông thôn và môi trường là những vấn đề lớn được Đảng và
Nhà nước quan tâm. Vì vậy, trên lĩnh vực này đã có nhiều cơ quan, nhiều tổ chức và
11
nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và có nhiều công trình liên quan được
công bố. Nhìn chung, các công trình tập trung vào hai hướng chính. Một là, bàn về
NN, NT hay BVMT; Hai là, bàn về phát triển NN, NT bền vững trong đó có đề cập
đến tác động qua lại giữa phát triển KTNT và BVM T. Sau đây là tổng quan tình
hình nghiên cứu trên các hướng đó.
1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp, nông
thôn và bảo bệ môi trường
Cuốn: "Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay" của
Đoàn Xuân Thủy và các cộng sự [95] đã phân tích, đánh giá mức độ phù hợp của
các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở nước ta thời gian qua so với y êu cầu
của thông lệ quốc tế, đặc biệt là các quy định của WTO và đề xuất các giải p háp để
vừa tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp theo hướng phù
hợp với các cam kết quốc tế, vừa thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp hiện đại, tạo
cơ sở bền vững cho giải quyết vấn đề nông dân và nông thôn trong thời gian tới.
Cuốn: "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam - Hôm nay và mai sau"
của Đặng Kim Sơn [87] đã nêu bật thực trạng các vấn đề nông nghiệp, nông dân,
nông thôn với những thành tựu cũng như những khó khăn vướng mắc còn tồn tại; từ
đó, đề xuất những định hướng và kiến nghị chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông
Thơm, An Như Hải [92], đã khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu lực
quản lý nhà nước về môi trường; quan tâm phân tích kinh nghiệm của một số quốc
gia như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapor, M alaysia, Phillipin về sử dụng chế tài
xử phạt vi phạm pháp luật BVM T, xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà
nước về môi trường, sử dụng biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức
và huy động cộng đồng tham gia và BVMT để rút ra bài học cho Việt Nam; từ đó,
đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách BVMT, tăng
cường chế tài xử phạt vi phạm pháp luật BVMT, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ
máy quản lý nhà nước về môi trường các cấp,… nhằm nâng cao hiệu lực quản lý
nhà nước về môi trường ở Việt Nam trong thời gian tới.
Bài: "Thực trạng và các giải pháp chủ động ứng phó với BĐKH; đẩy mạnh
công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường" của Trần Quốc Toản [96, tr.7-26] đã nhìn
nhận tổng quát về công tác ứng phó với BĐKH và bảo vệ tài nguyên, môi trường để
đưa ra những vấn đề lớn đang đặt ra và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, thực hiện
đồng bộ giữa các lĩnh vực và nhiệm vụ, giải pháp riêng cho từng lĩnh vực ứng phó
với BĐK H, BVMT và tài nguyên.
13
Cuốn: "Một số vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi trường trong bối cảnh
BĐKH ở nước ta" của Nguyễn Danh Sơn [88, tr.131-154] đã tập trung chỉ ra một số
nhận thức mới về BVMT: tăng trưởng xanh, kinh tế xanh, xã hội cacbon thấp, chất
lượng tăng trưởng xanh, an ninh môi trường, an ninh sinh thái,…; định nghĩa về vốn
tự nhiên là đất đai, không khí, nước, các sinh vật sống trong sinh quyển cung cấp
cho con người các hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái cần thiết để tồn tại và khẳng
định, phát triển với tính chất xanh không thay thế cho phát triển bền vững mà là một
cách thức thực hiện PTBV trong đó nhấn mạnh nhiều hơn đến khía cạnh TN&M T.
Cuốn: "Những tác động của yếu tố văn hóa - xã hội trong quản lý nhà nước
đối với tài nguyên, môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của
Hoàng Hữu Bình và các cộng sự [9] đã tập trung phân tích những tác động tích cực
thời gian qua; đồng thời, trong đánh giá nguyên nhân của những yếu kém, hạn chế
của ngành nông nghiệp nước ta trong hội nhập, tác giả đã đề cập một trong những
nguyên nhân là: thiên tai, dịch bệnh tăng nhưng năng lực phòng chống, giảm nhẹ
thiên tai còn hạn chế nên gây ảnh hưởng trên diện rộng và thiệt hại lớn cho nền kinh
tế, trong đó thiệt hại đến nông nghiệp, nông dân chiếm tỷ lệ đáng kể. Tác giả cũng
cho rằng do đặc điểm của nông nghiệp gắn liền với cây trồng, vật nuôi, đất đai, khí
hậu, thời tiết nên mang tính chất vùng rất lớn, vì thế, sự chỉ đạo của Nhà nước p hải
phù hợp với đặc điểm của từng vùng nông nghiệp. Từ đó, tác giả đã nêu lên quan
điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nền nông nghiệp Việt Nam trong thời
gian tới.
Cuốn: "Quan hệ quốc tế về môi trường" của Trần Thanh Lâm [45], đã khái
quát về các khái niệm liên quan đến quan hệ quốc tế về môi trường, chính sách môi
trường ở một số nước trên thế giới; phân tích về phát triển kinh tế và môi trường;
môi trường toàn cầu và các hiệp định, công ước quốc tế về môi trường.
Cuốn: "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta" của Hoàng Ngọc Hòa [32], đã nghiên cứu, tổng
kết và làm sáng tỏ những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; tìm ra nguyên nhân của những thành công và
hạn chế nhằm đề xuất những kiến nghị và giải pháp tiếp tục đưa nông nghiệp, nông
dân, nông thôn Việt Nam phát triển lên trình độ mới.
Đề tài: "Phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Quảng Bình trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Nguyễn Cao Chương [24] đã khái quát cơ sở lý luận
và thực tiễn về phát triển KTNT; phân tích thực trạng phát triển KTNT tỉnh Quảng
15
Bình trong 5 năm (2006-2010); Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển
KTNT ở Quảng Bình trong thời gian tới dưới góc độ quản lý kinh tế.
Đề tài: "Xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở Bắc
Ninh" của Nguyễn Văn Hùng [39], dưới góc độ Kinh tế chính trị, tác giả đã tập
cơ, vai trò tham gia của người dân.
Cuốn: "Quản lý rừng và đất rừng bền vững ở Việt Nam: Một số phân tích và
gợi ý chính sách" của Trần Đại Nghĩa và các cộng sự [57], đã tập trung nghiên cứu
và phân tích sâu hiện trạng và các vấn đề quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo 3
khía cạnh: xã hội, kinh tế và môi trường; qua đó, khuyến nghị các giải pháp chính
sách để quản lý rừng và đất lâm nghiệp hiệu quả, bền vững hơn. Các tác giả đã đưa
ra những dẫn chứng thực tiễn để xây dựng khung pháp lý cho việc quản lý rừng và
đất lâm nghiệp bền vững và p hát triển một nền kinh tế dựa vào rừng tại Việt Nam.
Cuốn: "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Từ lý luận
đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay" của Phạm Ngọc Dũng [28], đã tiếp cận CNH,
HĐH NN, NT dưới góc độ phát triển bền vững. Tác giả đã nêu ra những vấn đề lý
luận CNH, HĐH NN, NT trong phát triển bền vững; đánh giá thực trạng và nguyên
nhân nảy sinh vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc trong thực hiện CNH, HĐH NN. NT ở
hiện nay và đưa ra các giải pháp hợp lý có tính thực tiễn cao góp phần khắc phục
tình hình kinh tế xã hội bức xức ở nông thôn Việt Nam trong phát triển bền vững.
Tác giả đã nhấn mạnh đến hai nhân tố quan trọng nhất chi phối đến khả năng khắc
phục, phát triển kinh tế, xã hội bền vững ở nông thôn là cơ chế chất lượng cao với
các luật chơi gồm những thể lệ có tính cách pháp lý hoặc những chủ trương, chính
sách, những quy định của nhà nước làm nền tảng cho hoạt động của các tác nhân
trong nền kinh tế và bình đẳng trong phân phối thu nhập. Khi đề cập đến những vấn
đề kinh tế, xã hội bức xúc nảy sinh trong thực hiện CNH ở nông thôn Việt Nam, tác
giả đã chú ý đến vấn đề môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng
với mức độ ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuât nông nghiệp, KCN, khu
chế xuất, CCN tập trung và ô nhiễm môi trường ở các làng nghề. Từ đó, đưa ra một
số giải pháp khắc p hục ô nhiễm và BVM T như: bồi thường thiệt hại cho các vùng bị
thiệt hại theo luật định; phối hợp liên vùng trong khắc phục tình trạng ô nhiễm môi
trường; lồng ghép quy hoạch sử dụng đất với các yếu tố BVM T; xây dựng hương
ước BVM T góp phần thúc đẩy nhân dân địa phương tích cực xây dựng thôn, xóm
kỹ thuật sản xuất, công nghệ chế biến và bảo quản; phong tục tập quán của người
tiêu dùng và các chính sách hỗ trợ và quy định của nhà nước.
18
Thứ hai, phân tích thực trạng PTBV hàng nông sản xuất khẩu của VN trong
điều kiện hiện nay. Tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề BVM T như: duy trì và cải
thiện tài nguyên đa dạng sinh học; giữ gìn môi trường sinh thái và khằng định nhờ
lợi ích thu được từ xuất khẩu các sản phẩm sạch, có giá trị gia tăng cao đã góp phần
bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học; áp lực cạnh tranh trên thị trường hàng nông
sản xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ và áp dụng
phương thức canh tác, chế biến thân thiện với môi trường; xuất khẩu góp phần tạo
thêm kinh phí để p hục hồi và tái tạo môi trường.
Thứ ba, đề xuất giải pháp PTBV hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
trong điều kiện hiện nay với giải pháp đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển hàng nông
sản xuất khẩu với BVM T sinh thái. Tác giả nhấn mạnh, do hệ thống pháp luật BVM T
còn nhiều chổ bất hợp lý, mức độ xử phạt không thích đáng và nghiêm minh, không
đủ răn đe đã cản trở công tác quản lý và bức xúc trong toàn xã hội; một bộ phận cán
bộ chính quyền các cấp chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức về PTBV và
BVMT đã buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong công tác kiểm tra, giám sát về
môi trường. Vì thế, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVM T phục vụ cho mục
tiêu PTBV của đất nước; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về hàng nông sản
xuất khẩu theo hướng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh
tra, giám sát và tăng cường hợp tác quốc tế về BVM T.
Cuốn: "Một số vấn đề về ô nhiễm và suy thoái đất đai ở Việt Nam hiện nay"
của Nguyễn Quốc Hùng [38], đã phân tích một số nhận biết về ô nhiễm và suy thoái
môi trường đất; quan hệ của ô nhiễm và suy thoái đất đai với thiên nhiên, đặc biệt là
trong mối quan hệ với hiện tượng BĐKH toàn cầu hiện nay mà Việt Nam là một
trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Từ đó, tác giả đi sâu nghiên cứu
rằng phát triển nông nghiệp là tiền đề khởi động công nghiệp hóa và đưa những số
liệu chứng minh trong lịch sử phát triển thế giới, việc tăng năng suất nông nghiệp
đủ mức tạo ra thặng dư nông phẩm đã đóng góp để đầu tư phát triển công nghiệp,
ngay cả trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa ở Tây Âu, M ỹ, Nhật Bản và sau này là
Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc. Tác giả cũng đề cập trong NN, NT Việt Nam đã
xuất hiện một số nghịch lý và mâu thuẫn: tài nguyên (đất, nước, lao động,…) vừa
thiếu vừa lãng phí; sản xuất nông nghiệp hiệu quả thấp và cạnh tranh kém; phát
triển nông thôn chưa vững bền. Từ đó, đi vào đặt vấn đề: NN, NT, nông dân Việt
Nam ngày mai sẽ ra sao? và dự báo tình hình theo hướng nếu Việt Nam tiếp tục
20
phát triển theo xu thế hiện nay thì ở nông thôn, cuộc sống vật chất có thể cao hơn
nhưng vẫn kém xa đô thị, tệ nạn xã hội và hủ tục tăng, ô nhiễm môi trường, văn hóa
dân tộc bị xoái mòn.
Sách chuyên khảo: "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Vấn đề và giải pháp" của Lê Quốc Lý và các cộng sự [49], đã tập trung vào một số
nội dung chính: cách thức tiếp cận mới về CNH, HĐH NN, NT trên cơ sở thực tiễn
sinh động của nền nông nghiệp Việt Nam; các vấn đề đặt ra đối với chính sách nông
nghiệp, cơ cấu công - nông nghiệp trong nền kinh tế, vấn đề quy hoạch các vùng
phát triển kinh tế, những chuyển hóa xã hội và đô thị hóa do tiến trình CNH, HĐH
nông thôn trên các mặt như kinh tế, chính trị, xã hội, nhận thức, tư duy, thói
quen,…; đánh giá những mặt được và chưa được của CNH, HĐH NN, NT trong
thời gian qua và kiến giải những vấn đề cần thay đổi trong nhận thức, chính sách,
chủ trương và giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH NN, NT trong điều kiện mới; nhận
thức mới về quan hệ sản xuất mới do CNH, HĐH NN, NT đưa đến, tìm những triết
lý phát triển mới đối với NN, NT Việt Nam hiện nay và tương lai. Trong đó, tác giả
đã nhấn mạnh đến tính bền vững trong đẩy mạnh CNH, HĐH NN, NT và khẳng
định đối với NN, NT thì môi trường sinh thái không chỉ là điều kiện sản xuất cơ bản
của chính mình mà còn là điều kiện phát triển cho các lĩnh vực khác (cung cấp