(TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ) THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG CHƯA NIÊM YẾT - Pdf 40

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NGỌC KỲ

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÁC
CÔNG TY ĐẠI CHÚNG CHƯA NIÊM YẾT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ


2

HÀ NỘI - 2016


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH
TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Ngưới hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Quốc Trung

Phản biện 1: .........................................................
................................................................
Phản biện 2:...........................................................
...............................................................
Phản biện 3:..........................................................
............................................................
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp
tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Vào hội.....giời.....ngày.....tháng.....năm 2016


quy định nghiêm ngặt để quản lý thị trường OTC trên cơ sở tôn trọng các quy
luật kinh tế thị trường.
Mặc dù đóng vai trò quan trọng và có sức tăng trưởng lớn như vậy, nhưng
tại Việt Nam, chỉ đến năm 2009 thị trường UPCoM - Unlisted public companies
Market (hay còn gọi là thị trường chứng khoán các công ty đại chúng chưa
niêm yết) mới chính thức được đưa vào hoạt động tại SGDCK Hà Nội. Thị
trường UPCoM của Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 3567/QĐBTC ngày 08/11/2007 của Bộ Tài chính và đi vào hoạt động chính thức ngày
24/6/2009 tại SGDCK Hà Nội. Đây là một dấu mốc quan trọng của TTCK Việt
Nam. Sự ra đời của thị trường UPCoM thể hiện nỗ lực của Chính phủ, Bộ Tài
chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu đưa thị
trường tự do vào khuôn khổ quản lý của Nhà nước thông qua việc điều chỉnh
một phân đoạn tương đối của thị trường tự do, thị trường dành cho chứng khoán
của các CTĐC chưa niêm yết.
Đối với Việt Nam, việc đưa vào vận hành TTCK chính thức dành cho các
công ty niêm yết quy mô lớn trên Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK) thành
phố Hồ Chí Minh vào năm 2000 và SGDCK Hà Nội năm 2005, và cuối cùng là
năm 2009 đưa vào hoạt động thị trường cổ phiếu đăng ký giao dịch hay còn gọi


2

là thị trường chứng khoán các công ty đại chúng (CTĐC) chưa niêm yết (thị
trường UPCoM - Unlisted Public Companies Market), bước đầu đã hoàn thiện
hệ thống tổ chức thị trường thứ cấp cho các giao dịch cổ phiếu.
Thực tiễn vận hành hơn 06 năm qua của thị trường UPCoM được tổ chức
tại SGDCK Hà Nội cho thấy bước đầu đã tổ chức được một thị trường giao dịch
cổ phiếu cho khoảng 250 doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, không đủ điều kiện
niêm yết với tổng mức vốn hóa thị trường khoảng 54.000 tỷ đồng, hoạt động
của thị trường UPCoM đã góp phần thu hẹp thị trường tự do, đưa vào quỹ đạo
quản lý nhà nước để minh bạch và công khai, góp phần ổn định thị trường vốn

ra một số bài học cho thị trường UPCoM Hà Nội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thị trường UPCoM Hà Nội từ năm 2009


3

đến năm 2015; làm rõ những kết quả đã đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn
chế, bất cập và tìm ra nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế về thị trường
UPCoM Hà Nội.
- Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường
UPCoM Hà Nội đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là thị
trường chứng khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết Hà Nội (UPCoM).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu thị trường giao dịch cổ phiếu của
CTĐC chưa niêm yết (thị trường thứ cấp).
- Về không gian: Tổ chức hoạt động tại SGDCK Hà Nội, Việt Nam.
- Về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu thị trường UPCoM Hà Nội từ khi
thành lập đến năm 2015 (2009 - 2015).
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận án
4.1. Cơ sở lý luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở những lý luận,
quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối
của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam về TTCK, TTCK phi tập trung, thị trường UPCoM.

4.2. Các phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu
đã nêu, luận án sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu của Kinh tế chính trị
là phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử và một số phương pháp khác như: phân tích lý luận, so sánh, tổng

- Cơ cấu của thị trường chứng khoán: Căn cứ vào sự luân chuyển các
nguồn vốn, TTCK được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp; Căn
cứ vào phương thức giao dịch, TTCK được chia thành thị trường tập trung và
thị trường phi tập trung; Căn cứ vào hàng hoá, TTCK chia thành thị trường cổ
phiếu, thị trường trái phiếu và thị trường các chứng khoán phái sinh.
- Các hình thức cơ bản của thị trường chứng khoán: Hiện nay, phổ biến
có 04 hình thức TTCK cơ bản.
2.1.2. Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC)
- Khái niệm: Thị trường OTC là thị trường không có trung tâm giao dịch
chứng khoán tập trung, đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh
chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tư, các hoạt động giao dịch
của thị trường OTC được diễn ra tại các quầy (sàn giao dịch) của các ngân hàng
và công ty chứng khoán.
- Những đặc điểm cơ bản của thị trường phi tập trung (OTC): Được xét
trên khía cạnh hàng hóa, cơ chế vận hành, các chủ thể tham gia, phương thức
xác lập giá, hình thức thanh toán, cấp quản lý.
- Vai trò của thị trường OTC: Hỗ trợ và thúc đẩy thị trường chứng khoán
tập trung phát triển; Tạo thị trường cho chứng khoán của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, các chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết; Hạn chế, thu hẹp thị
trường tự do, góp phần đảm bảo sự ổn định và lành mạnh của TTCK; Tạo môi
trường đầu tư linh hoạt, thuận lợi cho các nhà đầu tư.
- Phân biệt thị trường OTC với một số thị trường chứng khoán khác
2.1.3. Thị trường chứng khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết
(UPCoM)
- Khái niệm: Thị trường UPCoM là thị trường được tổ chức trên nguyên
tắc thị trường OTC có quản lý và được tổ chức giao dịch thông qua các công ty
chứng khoán, hoặc các nhà tạo lập thị trường (market maker) thông qua một hệ
thống điện tử hoặc tại các SGDCK.
- Đặc điểm của thị trường chứng khoán các công ty đại chúng chưa niêm


toán của chứng khoán đăng ký giao dịch tuân thủ theo quy định về
hình thức và thời hạn thanh toán chứng khoán được quy định tại
Quy chế do Trung tâm Lưu ký chứng khoán ban hành.
- Quy định về công bố thông tin trên thị trường UPCoM.
2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG CHƯA
NIÊM YẾT
2.3.1. Các nhân tố khách quan
- Môi trường pháp lý;


9

- Mức độ sẵn sàng tham gia thị trường của các chủ thể;
- Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định;
- Mức độ minh bạch kinh tế (transparency);
- Chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước gắn với đưa vào giao
dịch tập trung.
2.3.2. Các nhân tố chủ quan
- Cơ chế vận hành;
- Nguyên tắc hoạt động;
- Hệ thống quản lý, điều hành;
- Các yêu cầu và cơ sở pháp lý tương ứng;
- Hình thức tổ chức, hệ thống dịch vụ và thông tin;
- Các chỉ báo thị trường (chỉ số UPCoM Index).
2.4. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG CHƯA NIÊM YẾT Ở MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Ở mục này, luận án trình bày những nghiên cứu kinh nghiệm của Hoa Kỳ,
Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc). Trên cơ sở đó, luận án đã trình

triệu tỷ đồng và thu hút khoảng 15 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài; Giá
trị dư nợ trái phiếu khoảng 22% GDP, mức vốn hóa thị trường cổ phiếu khoảng
32% GDP.
3.1.2. Cơ sở pháp lý hình thành và p hát triển thị trường UPCoM
Hà Nội
- Các văn bản do Quốc hội ban hành: Luật Chứng khoán số 70/2006/QH
11 ngày 29/6/2006 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam
và Luật Chứng khoán số 62/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Chứng khoán.
- Các văn bản do Chính phủ, Bộ và Cơ quan ngang Bộ ban hành.
- Những quy định do SGDCK Hà Nội và Trung tâm Lưu ký chứng khoán
ban hành.
3.1.3. Những thuận lợi và khó khăn trong hình thành và phát triển
thị trường chứng khoán các CTĐC chưa niêm yết Hà Nội:
- Thuận lợi:
+ Sự ổn định chính trị- xã hội
+ Nền kinh tế phát triển theo hướng kinh tế thị trường
+ Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp tạo nguồn cung cho thị
trường UPCoM
+ Môi trường pháp lý minh bạch


11

+ Có nhiều chủ thể đầu tư tham gia TTCK
+ Có sự quan tâm của các công ty và nhà đầu tư
+ Môi trường giao dịch công khai, minh bạch
+ Sự phát triển đồng bộ của các thị trường vốn trong thị trường tài
chính

sự tăng kỷ lục.
3.2.3. Tình hình diễn biến giá cả trên thị trường chứng khoán các
CTĐC chưa niêm yết


12

Diễn biến giá cả và khối lượng giao dịch trên TTCK các CTĐC chưa niêm
yết đã phản ánh tương đối chính xác nhu cầu thị trường của nhà đầu tư. Từ khi
thành lập năm 2009, UPCoM Index liên tục giảm điểm, cho thấy nhà đầu tư chưa
quan tâm đúng mức với thị trường UPCoM. Bắt đầu triển khai với UPCoM Index
xuất phát từ 100 điểm. Tuy nhiên, đóng cửa phiên ngày 28/4/2010, UPCoM Index
chỉ còn 45,41 điểm với 945.232 cổ phiếu khớp lệnh thành công, trị giá hơn 16,4 tỉ
đồng; đến ngày 31/12/2015 là 51,27 điểm.
Dễ dàng nhận thấy trong hơn 6 năm hoạt động, UPCoM Index liên tục
giảm điểm, tuy mức giảm mỗi năm khác nhau và giao động với biên động lớn.
3.2.4. Tình hình giao dịch trên thị trường chứng khoán các công ty
đại chúng chưa niêm yết
Từ khi chính thức khai trương đến hết năm 2009, khối lượng giao dịch bình
quân phiên chỉ đạt mức 293.219 cổ phiếu/phiên. Tháng 9/2010, SGDCK Hà Nội
quyết định bổ sung phương thức khớp lệnh liên tục cùng với phương thức giao
dịch thỏa thuận là hai phương thức giao dịch trên sàn UPCoM, tương tự như đối
với TTCK niêm yết. Việc thay đổi phương thức giao dịch đã gián tiếp góp phần
nâng cao tính thanh khoản của thị trường so với thời gian trước đó.
Đến ngày 31/12/2014, có 169 công ty đăng ký giao dịch với giá trị đăng
ký giao dịch đạt 23.300 tỷ đồng, thanh khoản trên thị trường tăng 90% so với
năm trước (đạt 21,3 tỷ đồng/phiên). Đồ thị 3.12 cho thấy rõ biến động đối
nghịch về chỉ số và khối lượng giao dịch trong 2 năm 2013 và 2014.
Năm 2015, nhờ những chính sách mới của Nhà nước về cổ phần hóa gắn
với niêm yết/giao dịch trên TTCK, thay đổi biên độ dao động giá từ ±10% lên

xây dựng hệ thống tiêu chí giám sát và phần mềm giám sát giao dịch áp dụng
riêng cho thị trường UPCoM. Cơ chế giao dịch, thông tin trên thị trường
UPCoM luôn được nghiên cứu, nâng cấp để trong tương lai có những cải cách,
tạo thuận lợi cho các CTĐC, để thị trường này phát triển và hỗ trợ về mặt cấu
trúc cho TTCK.
Tóm lại, tại thời điểm hiện tại thị trường UPCoM Hà Nội chưa phải là thị
trường OTC (theo đúng nghĩa) thực sự, chưa có được nhà tạo lập thị trường
đúng nghĩa. Ở một số thị trường phát triển, một cổ phiếu tham gia thị trường
OTC phải có ít nhất ba (03) công ty chứng khoán tạo lập thị trường và công ty
chứng khoán muốn tạo lập thị trường cho cổ phiếu nào thì phải đăng ký. Tại bất
kỳ thời điểm nào, công ty chứng khoán cũng phải đưa ra mức giá chào mua và
chào bán với loại cổ phiếu mà họ tạo lập thị trường. So sánh với thị trường
OTC theo thông lệ thế giới thì thị trường UPCoM Việt Nam mới đạt khoảng
một nửa tiêu chuẩn, đó là có các công ty chứng khoán môi giới cho khách hàng
và hưởng phí giao dịch. Chưa có quy định về việc công ty chứng khoán đóng
vai trò là nhà tạo lập thị trường, một điều kiện quan trọng để hình thành thị
trường OTC chuẩn.
3.3. ĐÁNH GIÁ VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÁC CÔNG
TY ĐẠI CHÚNG CHƯA NIÊM YẾT HÀ NỘI
3.3.1. Những kết quả đạt được của thị trường chứng khoán các công
ty đại chúng chưa niêm yết Hà Nội
- Đối với Nhà nước và cơ quan quản lý: Hoạt động của thị trường
UPCoM đã góp phần tăng cường quản lý Nhà nước đối với thị trường giao dịch
chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết.
- Đối với nhà đầu tư (cổ đông): Thị trường UPCoM ra đời, tạo thêm
một sân chơi cho nhà đầu tư đối với các chứng khoán chưa niêm
yết, góp phần thực hiện mục tiêu thu hẹp thị trường tự do, mở rộng


14

CTĐC đã đăng ký với UBCKNN, chỉ
có 256 CTĐC đăng ký giao dịch trên
thị trường UPCoM, 685 CTĐC chính
thức niêm yết cổ phiếu trên TTCK
niêm yết, số còn lại vẫn đang giao
dịch cổ phiếu trên thị trường tự do.
Điều đó cho thấy, mức độ hấp dẫn,
cũng như tính tuân thủ đối với doanh
nghiệp chưa cao, chưa bảo vệ đầy đủ


15

quyền và lợi ích cổ đông, nhà đầu tư
thông qua cơ chế báo cáo và công bố
thông tin công khai, minh bạch.
Thứ hai: Hiện tại, với các công ty đại
chúng đã đăng ký với Trung tâm Lưu
ký chứng khoán, nhưng không đăng
ký và giao dịch trên TTCK các công
ty đại chúng chưa niêm yết, hiện nay
các nhu cầu giao dịch chuyển nhượng
được thực hiện theo quy định tại
Quyết định số 56/QĐ-UBCK của
UBCKNN. Mặc dù cơ chế này, bước
đầu đã tạo điều kiện cho các cổ đông
trong việc chuyển nhượng cổ phiếu có
sự kiểm soát, giám sát của nhà nước
và kiểm soát thu thuế giao dịch, nhưng
vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định,

đại chúng và nhà đầu tư đều có tâm lý
e ngại, thăm dò, chưa nhiệt tình tham
gia thị trường.
Thứ năm: Chưa tìm thấy vai trò của các nhà tạo lập thị trường do
tính thanh khoản chưa cao của thị trường hiện đại nên công ty
chứng khoán chưa thực hiện vai trò của nhà tạo lập thị trường.
3.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế thị trường các công ty
đại chúng chưa niêm yết
- Nguyên nhân khách quan
+ Diễn biến TTCK và kinh tế vĩ mô không thuận lợi: TTCK Việt Nam
nói chung và thị trường UPCoM Hà Nội nói riêng mới được hình thành, còn
nhiều yếu tố sơ khai.
+ Quy mô công ty đại chúng nhỏ: Đa phần các công ty đại chúng Việt
Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa đủ điều kiện tham gia huy động vốn trực
tiếp trên TTCK. Trong đó, phần lớn các doanh nghiệp nhỏ chủ yếu là DNNN cổ
phần hóa hoạt động trong các lĩnh vực không phải là thế mạnh của nền kinh tế,
lao động nhiều, hiệu quả kinh doanh không cao, không thu hút được sự quan tâm
của nhà đầu tư. Tính minh bạch về công bố thông tin và quản trị công ty không
tốt nên chưa thay đổi được diện mạo hoạt động để thu hút nhà đầu tư.
+ Thiếu hiểu biết, quan tâm của các doanh nghiệp và nhà đầu tư về thị
trường UPCoM. Do đặc thù là các công ty nhỏ, hoạt động trong các lĩnh vực
không hiệu quả nên chưa nhận được sự quan tâm của các định chế tài chính
trung gian.
+ Chưa hiểu rõ hết về tầm quan trọng của thị trường UPCoM đối với sự
phát triển của công ty đại chúng nên nhiều công ty đại chúng còn có tâm lý e
ngại khi tham gia thị trường UPCoM. Nhà đầu tư còn chưa biết cách tự bảo vệ
quyền lợi của mình.
- Nguyên nhân chủ quan
+ Văn bản pháp lý để đảm bảo Nhà nước quản lý thống nhất chứng khoán
của các CTĐC chưa niêm yết trên thị trường có tổ chức chưa đồng bộ.

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG CHƯA NIÊM YẾT
HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020

4.1.

MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH

HƯỚNG

PHÁT TRIỂN

THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG CHƯA
NIÊM YẾT HÀ NỘI
4.1.1. Mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán các công ty
đại chúng chưa niêm yết
Định hướng chiến lược phát triển TTCK giai đoạn 2011 - 2020
(theo Quyết định số 252/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ), đặt ra
mục tiêu: Bảo đảm duy trì sự ổn định và bền vững của TTCK; tiếp


18

tục triển khai hiệu quả công tác phát triển và tái cấu trúc TTCK,
hướng tới các giải pháp dài hạn; xây dựng cơ chế, chính sách và
giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và TTCK; tăng cường
hội nhập quốc tế và bảo đảm triển khai, thực thi hiệu quả các cam
kết quốc tế đã tham gia.

thị trường UPCoM, phục vụ cho nhu cầu đầu tư đa dạng của nhà đầu tư và việc
ra đời các sản phẩm tài chính chuyên nghiệp như chứng chỉ quỹ đầu tư hoặc các
sản phẩm phái sinh.


19

- Nâng cao kiến thức và nhận thức cho các nhà quản lý tài chính tại các
doanh nghiệp và các nhà đầu tư về lợi ích của TTCK nói chung và thị trường
UPCoM nói riêng.
4.2. NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG CHƯA NIÊM YẾT HÀ NỘI
4.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp lý, chính sách cho thị trường chứng
khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết
Cần hoàn thiện hệ thống luật và chính sách theo hướng: Ban hành thêm
một số Luật còn thiếu nhằm đảm bảo bình đẳng trong cạnh tranh; đồng thời hệ
thống các chính sách phải phù hợp với thực tiễn. Khuôn khổ pháp lý phải bảo
đảm: nhất quán, đồng bộ, ổn định và đặc biệt phải đảm bảo thực thi trong thực
tế. Khuôn khổ pháp lý phải nhất quán với đường lối, quan điểm của Đảng.
Khung pháp lý phải đồng bộ giữa các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh,
giữa các cơ quan quản lý, khắc phục tình trạng các văn bản của các cơ quan
quản lý mâu thuẫn, chồng chéo nhau.
4.2.2. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về thị trường chứng
khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết
Để khắc phục và tránh khỏi thất bại
thị trường, Nhà nước cần tham gia
quản lý, điều tiết sự vận hành nền
kinh tế nhưng ở mức độ nhất định với
ba chức năng, bao gồm: Quản lý, định
hướng và hỗ trợ phát triển; phân phối

chẽ trong chỉ đạo, phản hồi thông tin thị trường giữa UBCKNN với các
SGDCK và nhà đầu tư.
+ Để nâng cao năng lực quản lý, yếu tố con người cần được coi trọng,
phát triển từ tất cả các khâu tuyển dụng, sắp xếp cán bộ đúng vị trí và năng lực
sở trường. Trước hết cần chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ điều hành, quản lý
của UBCKNN, SGDCK Hà Nội. Đặc biệt là đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ
giảng viên giảng dạy về chứng khoán. Song song với vấn đề này là bồi dưỡng
đội ngũ những người trực tiếp tham gia tác nghiệp tại SGDCK, đào tạo theo
hướng chuyên môn hóa cao.
- SGDCK Hà Nội là cơ quan vận hành thị trường UPCoM, có trách nhiệm:
Lập dự án xây dựng hạ tầng cơ sở và kỹ thuật, trang bị máy móc thiết bị cho thị
trường UPCoM hoạt động với phương châm từ đơn giản đến hiện đại, hệ thống
giao dịch mở để từng bước hoàn chỉnh và phát triển; Kiện toàn bộ máy các
phòng nghiệp vụ và chức năng hoạt động của từng bộ phận; Có chương trình đào
tạo cán bộ thích hợp, tập huấn nghiệp vụ để có thể đáp ứng hoạt động của thị
trường UPCoM.
4.2.3. Tăng cường thu hút các chủ thể tham gia thị trường chứng
khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết
- Công tác tuyên truyền: TTCK là một lĩnh vực mới, phức tạp. Trong điều
kiện TTCK Việt Nam mới ra đời nói chung và sự hình thành thị trường UPCoM
Hà Nội, tất cả các đối tượng tham gia thị trường như: công ty chứng khoán,
công ty đăng ký niêm yết, các định chế tài chính, nhà đầu tư cần được tuyên
truyền, đào tạo và khuyến khích.
- Khuyến khích các chủ thể tham gia UPCoM tại SGDCK Hà Nội. Cần
được quan tâm khuyến khích đặc biệt là hai loại đối tượng CTĐC đăng ký giao
dịch và nhà đầu tư.
+ Đối với các CTĐC đăng ký giao dịch: Là đối tượng tạo cung hàng hóa


21

4.2.6. Hoàn thiện cách thức tổ chức và vận hành thị trường chứng
khoán các công ty đại chúng chưa niêm yết
- Về cách thức tổ chức thị trường: Để có thể phân tầng các chứng khoán
đăng ký giao dịch, cần phải xây dựng hệ thống các tiêu chí về những thông tin cần
công khai, minh bạch cũng như các điều kiện gia nhập thị trường (đối với các
CTĐC đăng ký giao dịch) theo hai định hướng cơ bản: Từng bước mở rộng hơn
nữa biên độ phù hợp với khả năng quản lý chứng khoán và sự phát triển của nền
kinh tế; Chấp nhận sự khác biệt giữa các tầng của thị trường, không thể áp đặt các
hệ tiêu chí chung cho toàn bộ thị trường.


22

- Hình thành và phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm: Để sớm đưa
dịch vụ định mức tín nhiệm tại Việt Nam đi vào hoạt động và phát triển nhằm
hoàn thiện và thúc đẩy hoạt động TTCK nói chung và thị trường UPCoM Hà
Nội nói riêng, cần nghiên cứu và triển khai một số công việc sau đây:
+ Xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy tạo khung pháp lý phù
hợp cho loại hình dịch vụ định mức tín nhiệm.
+ Nghiên cứu thành lập thí điểm công ty định mức tín nhiệm cổ phần có
vốn góp của Nhà nước và một số tổ chức tài chính, ngân hàng lớn. Cho phép
thành lập công ty định mức tín nhiệm liên doanh với một số công ty định mức
tín nhiệm có uy tín nước ngoài cũng như cho phép các công ty định mức tín
nhiệm có uy tín của nước ngoài mở chi nhánh tại Việt Nam.
+ Sớm hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán và chế độ công
bố thông tin hợp lý; xây dựng các tiêu chuẩn xếp hạng doanh nghiệp, đào tạo
nguồn nhân lực, đội ngũ chuyên gia đánh giá mức độ tín nhiệm để đảm bảo
mức độ tin cậy của các đánh giá.
+ Mở rộng và phát triển thị trường nợ năng động và đa dạng, bao gồm cả
thị trường phát hành lẫn thị trường giao dịch các công cụ nợ, đa dạng hóa các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status