HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
V NGC HONG
LàNG NGHề TRUYềN THốNG ở TỉNH NAM ĐịNH
TRONG HộI NHậP QUốC Tế
TểM TT LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: KINH T CHNH TR
Mó s: 62 31 01 02
H NI - 2016
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. NGÔ TUẤN NGHĨA
2. PGS. TS. ĐOÀN XUÂN THỦY
Phản biên 1:
Phản biên 2:
Phản biên 3:
Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi……giờ……ngày……tháng ……năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và
truyền thống Nam Định sẽ phải cạnh tranh gay gắt với sản phẩm cùng loại
tại thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị trường quốc tế.
- Sức ép của xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa trong điều kiện cách
mạng khoa học và công nghệ có thể bóp chết làng nghề truyền thống …
- Không những thế vấn, đề bảo tồn và phát triển làng nghề truyền
thống chưa được quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền nên một số
nghề, làng nghề đang có nguy cơ mai một, thất truyền khi các nghệ nhân
cao tuổi không còn nữa.
Nếu những hạn chế nêu trên tiếp tục kéo dài, các làng nghề truyền
thống ở tỉnh Nam Định sẽ không những không phát huy được tiềm năng,
thế mạnh, mà thậm chí còn làm cho các nghề truyền thống bị mai một, nếu
điều này xảy ra sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế, chính trị, xã hội
của địa phương nhất là khu vực nông thôn. Vì thế nghiên cứu, đánh giá tìm
ra câu trả lời về xu hướng mới cho phát triển làng nghề truyền thống ở
Nam Định là vấn đề cấp thiết hiện nay. Với ý nghĩa đó, chủ đề: "Làng
nghề truyền thống ở tỉnh Nam Định trong hội nhập quốc tế" được chọn
làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận cơ
bản về làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế, đánh giá thực trạng
làng nghề truyền thống tỉnh Nam Định thời gian qua và đề xuất giải pháp
phát triển trong xu thế hội nhập quốc tế thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về làng nghề
truyền thống trong hội nhập quốc tế, đặc biệt nêu bật những vai trò, nhân
tố tác động mới của các làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế.
Thứ hai: Nghiên cứu kinh nghiệm một số địa phương ở Việt Nam về
Đề tài luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, đồng thời tiếp thu, kế thừa phương pháp luận nghiên cứu kinh
tế hiện đại.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như trừu tượng
hoá khoa học, phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, thống kê. Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng phương pháp
khảo sát thực tế, phỏng vấn sâu trong quá trình nghiên cứu làm rõ chủ đề
chính của luận án.
Chương 1: Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích để đánh giá
quan điểm của các học giả và trường phái lý luận về vấn đề nghiên cứu, từ
đó rút ra những vấn đề đã được nghiên cứu đầy đủ và các vấn đề cần
nghiên cứu bổ sung và nghiên cứu mới.
Chương 2: Sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để rút ra
những khái niệm cơ bản như làng nghề, làng nghề truyền thống và luận
giải những vấn đề lý luận cơ bản về đặc điểm, vai trò, nhân tố ảnh hưởng
đến làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế. Đồng thời sử dụng
phương pháp nghiên cứu đánh giá thực tiễn phát triển làng nghề truyền
thống của một số địa phương để rút ra bài học cho tỉnh Nam Định.
Chương 3: Sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, tổng
hợp, nhằm làm rõ thực trạng làng nghề truyền thống tỉnh Nam Định
trong hội nhập quốc tế, rút ra những kết quả tích cực, hạn chế chủ yếu và
nguyên nhân.
Chương 4: Sử dụng phương pháp khái quát hóa những vấn đề đã
nghiên cứu ở chương hai và chương ba cùng với đánh giá dự báo về bối
cảnh và nhu cầu thị trường quốc tế về sản phẩm làng nghề truyền thống để
rút ra những phương hướng và giải pháp phát triển làng nghề truyền thống
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Với chủ chương mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay của Đảng và nhà
nước ta thì việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống
(LNTT) đã có nhiều nhà khoa học tiến hành nghiên cứu, nhiều vấn
nhiều liên quan đến LNTT và có đóng góp nhất định cả về mặt lý luận
và thực tiễn và liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án NCS đã
tìm hiểu một số công trình khoa học ở các quốc gia có điều kiện phát
triển LNTT tương đồng với Việt Nam như Trung Quốc, Indonesia để
có thể vận dụng được kết quả vào lĩnh vực nghiên cứu. Nhìn chung các
công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh đến lịch sử truyền thống của làng
nghề, phát triển làng nghề gắn với nông nghiệp nông thôn và LNTT với
du lịch sinh thái…
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Các công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án ở trong
nước có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ và cách tiếp
cận khác nhau và hướng giải quyết các mục tiêu khác nhau đối với làng
nghề truyền thống nói chung ở Việt Nam được chia thành các nhóm cụ thể
như sau:
- Các công trình nghiên cứu về thủ công nghiệp, nghề cổ truyền và vấn
đề môi trường gắn với các làng nghề.
- Đề tài về các giải pháp phát triển thủ công nghiệp theo hướng CNH,
HĐH (công nghiệp hóa, hiện đại hóa) ở vùng đồng bằng sông Hồng.
- Công trình Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo
hướng công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam.
với định hướng và phương pháp về phát triển làng nghề truyền thống có
liên quan mật thiết đến đề tài của tác giả luận án. Nội dung các nghiên cứu
có thể chia thành 3 lĩnh vực sau đây:
Thứ nhất, đã phân tích khái quát một số vai trò của làng nghề truyền
thống trong phát triển kinh tế xã hội nông thôn, trong giải quyết việc làm,
nâng cao thu nhập cho người lao động ở các làng nghề truyền thống.
Thứ hai, nghiên cứu về tình hình phát triển thủ công nghiệp và những
vấn đề lớn về môi trường tác động đến làng nghề. Cụ thể là đã đi sâu phân
tích sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần. Ngoài ra, nhiều công trình còn nghiên cứu thực trạng về
các mặt hàng thủ công, thủ công mỹ nghệ, vấn đề ô nhiễm môi trường
trong các làng nghề. Các công trình này giúp tác giả luận án nhận biết một
cách tổng quan về năng lực của ngành tiểu thủ công nghiệp và năng lực
sản xuất kinh doanh trên lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp. Giúp cho tác giả
nắm được tổng quát mức độ ô nhiễm trong các làng nghề hiện nay.
Thứ ba, các công trình đã nghiên cứu về tình hình sản xuất và kinh
doanh đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề truyền thống từ lao động,
công nghệ, vốn, thị trường tiêu thụ sản phẩm đã giúp cho tác giả luận án
đánh giá được phần nào về thực trạng của làng nghề truyền thống khi bước
vào kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế với bên ngoài.
1.3.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả
về lý luận và thực tiễn về các lĩnh vực phát triển của LNTT, song các công
trình trên chưa đề cập đến các vấn đề.
Một là, chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề phát triển
LNTT trên 3 nội dung: kinh tế - xã hội - môi trường gắn với các yếu tố của
sự liên kết và cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế, về vai trò mới, các nhân
tố ảnh hưởng đến làng nghề truyền thống. Đặc biệt chưa có công trình
- Khái niệm nghề truyền thống: Là nghề đã được hình thành từ lâu đời,
tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát
triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.”
- Khái niệm về làng nghề truyền thống: Là làng nghề có nghề truyền
thống được hình thành từ lâu đời.
- Khái niệm về làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế được
hiểu là một làng nghề truyền thống được xem xét với tư cách là một hình
thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở đó có
nhiều sản phẩm hoặc dịch vụ gắn với thị trường khu vực, quốc tế đồng
thời chịu sự tác động của quá trình hội nhập quốc tế.
2.1.2. Đặc điểm của làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế
Luận án phân tích các đặc điểm của làng nghề truyền thống trong hội
nhập quốc tế trên các góc độ sau đây:
Thứ nhất: Làng nghề truyền thống có quan hệ gắn bó với nông nghiệp
và nông thôn trong hội nhập quốc tế.
Thứ hai: Về lao động của LNTT với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.
Thứ ba: Về thị trường của LNTT trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.
Thứ tư: Về sản phẩm của LNTT trong hội nhập quốc tế.
Thứ năm: Về hình thức tổ chức kinh doanh của LNTT trong hội nhập
quốc tế.
Thứ sáu: Về công nghệ của LNTT trong hội nhập quốc tế.
2.1.3. Vai trò của làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế
Thứ nhất: Góp phần khai thác và phát huy những nguồn lực sẵn có của
đất nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong hội nhập quốc tế.
Thứ hai: Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Thứ ba: Thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn.
Thứ tư: Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động ở nông thôn trong hội nhập quốc tế.
Thứ năm: Góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, vừa thúc đẩy xuất
thách thức không nhỏ đối với sự tồn tại và phát triển của LNTT.
- Những cơ hội mới chủ yếu cho LNTT của Việt Nam do hội nhập
quốc tế tạo ra bao gồm: khả năng mở rộng thị trường, khắc phục hạn chế về
không gian, thời gian và những khó khăn trở ngại khác trong tiếp cận thị
trường thế giới, thu hút vốn, công nghệ, học hỏi tiếp thu kinh nghiệm quản
lý, kinh nghiệm kinh doanh, phát triển nhân lực để phát huy lợi thế so sánh.
- Những thách thức chính đối với các làng nghề truyền thống trong
hội nhập quốc tế bao gồm:Thị trường biến động khó lường, yêu cầu về
chất lượng, thiết kế mẫu mã sản phẩm của thị trường thế giới ngày càng
cao,Cạnh tranh ngày càng gay gắt, những yếu kém của các chủ thể LNTT
trong việc tiếp cận thông tin thị trường, công nghệ sản xuất tiên tiến và sự
thiếu hụt nguồn nguyên liệu tại chỗ.
Thứ ba, xu hướng vận động và phát triển của làng nghề truyền thống
trong quá trình hội nhập quốc tế.
- Các làng nghề truyền thống sẽ dần dần có sự đan xen sở hữu đa dạng.
- Các làng nghề truyền thống gắn bó chặt chẽ hơn với thị trường khu
vực và quốc tế.
- Các làng nghề truyền thống sẽ có sự đan xen lợi ích giữa các chủ thể
dẫn đến xu hướng thất truyền:
2.3. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA MỘT SỐ TỈNH VÀ BÀI HỌC CHO TỈNH
NAM ĐỊNH
2.3.1. Kinh nghiệm phát triển làng nghề truyền thống trong hội
nhập quốc tế của một số tỉnh mà tỉnh Nam Định cần quan tâm
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm phát triển LNTT trong hội nhập quốc
tế của các địa phương sau đây:
Thứ nhất, kinh nghiệm phát triển LNTT trong hội nhập quốc tế của
mối thu gom tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu.
Bảy là, phân loại những ngành nghề truyền thống có khả năng tồn
tại phát triển, lựa chọn những sản phẩm đặc trưng để đầu tư, những ngành
hoạt động cầm chừng hoặc có nguy cơ mai một để có chính sách phù hợp.
Chú trọng phát triển các làng nghề truyền thống và có sản phẩm xuất khẩu
thu ngoại tệ cao.
Tám là, đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng (giao thông, điện, mặt
bằng sản xuất...) tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất phát triển. Triển khai
các giải pháp phát triển bền vững.
Chương 3
THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
Ở TỈNH NAM ĐỊNH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
3.1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG TỚI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỈNH NAM ĐỊNH TRONG
HỘI NHẬP QUỐC TẾ
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Tỉnh Nam Định có diện tích tự nhiên 1.676km2, được quy hoạch là
trung tâm của nam đồng bằng sông Hồng, dân số khoảng 2 triệu người
với 9 huyện, 1 thành phố, hình thành rõ nét ba vùng kinh tế: Vùng kinh
tế đồng bằng thấp trũng gồm: huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam
Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, đây là vùng có nhiều khả năng thâm
canh phát triển công nghiệp dệt, chế biến, công nghiệp chế biến, công
nghiệp cơ khí và các ngành nghề truyền thống phát triển.
3.1.2. Những nhân tố thuận lợi tác động đến sự phát triển làng
nghề truyền thống ở tỉnh Nam Định trong hội nhập quốc tế
- Nguồn nguyên liệu sản xuất cho các làng nghề truyền thống Nam Định.
- Nam Định có truyền thống sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.
- Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hoá dẫn tới việc giảm lực lượng
lao động trong làng nghề truyền thống.
- Một số thị trường có xu hướng nhập khẩu sản phẩm được sản xuất
hàng loạt bằng máy móc của một số nước.
3.2. THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỈNH NAM ĐỊNH
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
3.2.1. Thực trạng về số lượng và sự phân bố làng nghề truyền
thống trên địa bàn tỉnh Nam Định
Số lượng và sự phân bố LNTT có mối quan hệ chặt chẽ với các nghề
truyền thống hiện có trên địa bàn tỉnh. Tính đến năm 2015, Nam Định là
địa phương có nhiều nghề truyền thống đa dạng, được bảo tồn, phát triển
với quy mô khác nhau. Những nhóm nghề truyền thống tiêu biểu trên địa
bàn tỉnh Nam Định bao gồm:
Một là, nghề thủ công, mỹ nghệ như đồ gỗ. Những nghề này đang tồn
tại và phát triển ở La Xuyên Ý Yên, tre nứa ghép ở Huyện Ý Yên... Đó là
những nghề có sự hình thành, phát triển lâu đời và thăng trầm theo các thời
kỳ phát triển kinh tế của tỉnh và đất nước.
Hai là, nghề chế biến nông, lâm, hải sản. Đây là nhóm nghề truyền
thống mà Nam Định có tiềm năng lợi thế phát triển so với tỉnh khác.
Ba là, nghề sửa chữa, dịch vụ cơ khí. Đây là nhóm nghề phục vụ nhu
cầu về nông cụ sản xuất nông nghiệp và hàng cơ khí tiêu dùng.
Bốn là, nghề dệt, nghề may, nghề thêu thủ công. Nhóm nghề này bao
gồm các nghề truyền thống như dệt lụa tơ tằm, dệt vải, dệt chiếu đã và đang
được khôi phục và mở rộng phát triển tại nhiều địa phương trong tỉnh.
Năm là, nghề sản xuất vật liệu xây dựng như : Gạch nung, ngói nung.
Nhóm nghề này chủ yếu tồn tại theo hình thức tự cung tự cấp trong dân cư.
3.2.2. Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề
+ Nếu như vào năm 2010, thị trường xuất khẩu hàng TCMN của
LNTT của Nam Định bao gồm 31 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó
xuất khẩu chủ yếu là vào các nước EU, thị trường này chiếm trên 50%
tổng kim ngạch xuất khẩu hàng LNTT TCMN của; tiếp đến là Nhật Bản,
Hàn Quốc,... Thì đến năm 2015, thị trường xuất khẩu đă tăng lên 42 nước
và vùng lãnh thổ, trong đó có các thị trường mới ở châu Phi, Trung Cận
Đông, Úc.
3.2.3. Thực trạng nguồn nhân lực của làng nghề truyền thống tỉnh
Nam Định trong hội nhập quốc tế
Sự phát triển của LNTT tỉnh Nam Định trong những năm qua còn
được thể hiện thông qua sự phát triển của nguồn nhân lực của LNTT.
Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015.
- Chất lượng lao động nhìn chung còn thấp, thợ giỏi lao động lành
nghề còn thấp. Bên cạnh đó, cơ cấu lao động mất cân đối, phản ánh tình
trạng chậm phát triển về mặt xã hội của làng nghề truyền thống khi lao
động trí óc chỉ chiếm 0,44% (lao động có kỹ thuật) còn lại là lao động
chân tay.
- Về nhân lực quản lý; trong các làng nghề truyền thống tỉnh Nam
Định hầu hết là sản xuất theo hộ gia đình.
- Số lượng thợ lành nghề tập trung chủ yếu ở làng La Xuyên, và
Tống Xá - Ý Yên bởi nơi đây có các làng nghề truyền thống gỗ mỹ nghệ
và đúc đồng mỹ nghệ đã xuất hiện cách đây trên dưới một ngàn năm.
3.2.4. Thực trạng một số làng nghề truyền thống điển hình
Luận án phân tích thực trạng một số LNTT điển hình sau đây:
- Làng nghề gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh - xã Điền Xá
huyện Nam Trực.
- Làng nghề mộc huyện Hải Hậu: Làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ
nghệ Hải Minh.
trấn (bằng 79,42%) có giá trị sản xuất CN-TTCN chiếm tỷ trọng trên 10%
trong cơ cấu kinh tế; có 78/96 xã xây dựng NTM giai đoạn I (bằng
81,25%) có giá trị sản xuất CN-TTCN chiếm tỷ trọng trên 15% cơ cấu
kinh tế toàn xã. Nhiều xã xây dựng NTM đã đạt giá trị sản xuất CN-TTCN
từ 50-80% tổng giá trị sản xuất toàn xã.
- Góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng ở nông thôn bảo tồn
văn hoá.
Cùng với sự phát triển của các làng nghề truyền thống, kết cấu hạ
tầng ở nông thôn cũng từng bước được tăng cường. Các trục đường giao
thông chính được nhựa và bê tông hoá, giao thông nông thôn được nâng
cấp và cải tạo. Tỷ lệ đường bộ được nhựa và bê tông hoá từ 50,% năm
2010, lên gần 90% năm 2014.
Thứ hai: Thành tựu về xã hội
- Góp phần bảo tồn và phát huy tinh hoa, bản sắc văn hóa dân tộc địa phương.
- Sự phát triển của LNTT đã tạo thêm việc làm, thu nhập cho dân cư
nông thôn, góp phần tích cực vào xóa đói giảm nghèo.
Thứ ba: Thành tựu về môi trường
Nếu như trước đây, đặc biệt là từ khi VN gia nhập tổ chức thương
mại thế giới(WTO) hầu như các LN và LNTT chưa chú trọng tới việc bảo
vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm, thì ngày nay, đòi hỏi các
LNTT phải tuân thủ các quy định của WTO, các yêu cầu vệ sinh an toàn
thực phẩm, các tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh môi trường.
3.3.1.2. Nguyên nhân của thành tựu
- Do sự đổi mới về tư duy, hay sự thay đổi về nhận thức, từ chỗ cấm
kinh tế tư nhân, sang thừa nhận họ, khuyến khích họ tồn tại và phát triển.
- Những nỗ lực của bản thân người dân trong việc năm bắt thời cơ,
nỗ lực phấn đấu làm nghề tự nuôi sống mình.
- Trong những năm qua, hệ thống chính sách về phát triển LNTT
nộp thuế với Nhà nước.
- Nghệ nhân, thợ giỏi của các làng nghề chưa được quan tâm đúng
mức, thiếu sự động viên kịp thời để khuyến khích họ sáng tạo.
- Về ảnh hưởng của hội nhập quốc tế đối với các làng nghề truyền
thống của Nam Định.
3.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
- Các làng nghề phát triển mang tính tự phát, nhỏ lẻ…
- Việc ban hành các chính sách và thực hiện chính sách chưa đồng bộ
còn chồng chéo…
- Trình độ quản lý và tổ chức sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu
thị trường...
- Lao động thủ công được đào tạo chủ yếu qua lao động trực tiếp
hoặc truyền nghề, rất ít được đào tạo qua trường lớp.
- Chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm còn đơn điệu, nặng về
sản xuất số lượng nên sản phẩm chất lượng thấp…
- Các nguồn cung cấp nguyên liệu khó khăn...
Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH NAM ĐỊNH
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
4.1. DỰ BÁO CÁC NHÂN TỐ MỚI TÁC ĐỘNG ĐẾN LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH NAM ĐỊNH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Thứ nhất: Các nhân tố trong nước.
- Dự báo tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam và tỉnh Nam Định đến
năm 2035.
- Nhân tố thị trường trong nước cho sản phẩm làng nghê truyền thống.
- Nhân tố khoa học công nghệ.
hương”. Do vậy, phục hồi và phát triển các làng nghề giải quyết không chỉ
các vấn đề kinh tế mà cả vấn đề xã hội rất bức xúc đang đặt ra ở nông thôn
Nam Định.
Thứ tư: Phát triển làng nghề truyền thống phải đạt được những kết
quả kinh tế, văn hoá, an sinh xã hội và môi trường.
Cùng với việc phát triển kinh tế, văn hoá thì phát triển làng nghề,
cụm công nghiệp làng nghề phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường. Vì
rõ ràng sự phát triển kinh tế nói chung, phát triển làng nghề nói riêng có
quan hệ tỷ lệ thuận với ô nhiễm môi trường. Nếu không xử lý chất thải,
bảo vệ môi trường thì sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái,
tới đời sống sản xuất, sinh hoạt và sức khoẻ của người dân làng nghề và
của cộng đồng. Vì vậy, vấn đề đảm bảo môi trường phải được coi là mục
tiêu quan trọng trong quá trình phát triển làng nghề truyền thống , là một
yếu tố quan trọng trong sự phát triển bền vững đối với nông thôn nói
chung và các làng nghề truyền thống nói riêng.
4.3. GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THỐNG Ở TỈNH NAM ĐỊNH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Thứ nhất: Hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch phát triển LNTT của Nam
Định trong hội nhập quốc tế.
Thứ hai: Tạo nguồn vốn cho phát triển sản xuất ở LNTT trong hội
nhập quốc tế.
Thứ ba: Khuyến khích mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm của các LNTT trong hội nhập quốc tế.
Thứ tư: Kết hợp các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh ở LNTT
cả trong và ngoài tỉnh trong hội nhập quốc tế.
Thứ năm: Khuyến khích và hỗ trợ làng nghề truyền thống đổi mới
công nghệ trong sản xuất kinh doanh đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Thứ sáu: Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho việc phát triển làng
nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế.
của một số tỉnh như Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, luận án đã rút ra được