B GIO DC V O TO
I HC HU
TRNG I HC Y - DC
Vế BO DNG
NGHIÊN CứU Sự GIãN MạCH QUA TRUNG GIAN
DòNG CHảY ĐộNG MạCH CáNH TAY Và
Độ DàY LớP NộI TRUNG MạC ĐộNG MạCH
ở BệNH NHÂN ĐáI THáO ĐƯờNG TýP 2 MớI PHáT HIệN
Chuyờn ngnh: NI NI TIT
Mó s: 62 72 20 15
LUN N TIN S Y HC
HU - 2011
MC LC
M u
.......................................................................................................
Tớnh cp thit ca ti nghiờn cu
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU...........................................................
1.1. Đái tháo đường týp 2 và các yếu tố nguy cơ tim mạch..................................
1.2. Cấu tạo và chức năng nội mạc mạch máu....................................................
1.3. Rối loạn chức năng nội mạc và vữa xơ động mạch......................................
1.4. Rối loạn chức năng nội mạc và đái tháo đường týp 2..................................
1.5. Các phương pháp đánh giá chức năng nội mạc ở mạch máu ngoại biên.....
1.6. Độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh..................................................
1.7. Các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan.......................................
phần lớn là đái tháo đường týp 2 [156]. Biến chứng mạch máu là nguyên nhân
hàng đầu gây tử vong và tàn phế ở người đái tháo đường. Người đái tháo
đường có nguy cơ bị các biến chứng mạch máu cao gấp 2 đến 4 lần so với
người không đái tháo đường [70],[112],[140]. Bệnh lý tim mạch chịu trách
nhiệm đến 80% các trường hợp tử vong sớm ở người đái tháo đường [132].
Những thay đổi bệnh lý của mạch máu xảy ra rất sớm ngay ở giai đoạn tiền
đái tháo đường [7]. Vì vậy, một tỷ lệ không nhỏ bệnh nhân đái tháo đường đã
có biến chứng mạch máu ngay từ khi phát hiện bệnh.
Vữa xơ động mạch là nguyên nhân chủ yếu của các biến chứng
mạch máu lớn ở người đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường týp 2 [8],
[16],[49]. Vữa xơ động mạch khi đã lộ rõ trên lâm sàng thường để lại hậu quả
nặng nề rất khó khắc phục như nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, tắc mạch chi
dưới phải cắt cụt chi. Do vậy việc khảo sát vữa xơ động mạch ở giai đoạn tiền
lâm sàng đang rất được quan tâm vì những lợi ích to lớn cho người bệnh nếu
chúng ta ngăn chặn hoặc làm chậm tiến triển của vữa xơ động mạch.
Tăng độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh từ lâu đã được thừa
nhận là dấu hiệu thay đổi sớm về cấu trúc mạch máu do vữa xơ động mạch và
có giá trị dự báo các hậu quả tim mạch trong tương lai [86],[102]. Đo độ dày
lớp nội trung mạc động mạch cảnh bằng siêu âm đã được ứng dụng khá rộng
rãi trên lâm sàng.
Gần đây nhiều nghiên cứu đã chứng minh rối loạn chức năng nội mạc
mạch máu có vai trò quan trọng trong bệnh sinh vữa xơ động mạch và có thể
2
là biểu hiện sớm nhất của tiến trình này [149],[150]. Rối loạn chức năng nội
mạc có liên quan với nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch và là yếu tố dự báo độc
lập các biến chứng tim mạch [92],[151],[161],[162]. Các biện pháp can thiệp
lên các yếu tố nguy cơ cũng giúp cải thiện chức năng nội mạc ở những đối
hiện, có độ tin cậy cao. Giảm FMD động mạch cánh tay là một dấu hiệu của
rối loạn về chức năng của mạch máu, trong khi đó dày IMT là dấu hiệu thay
đổi về cấu trúc mạch máu. Đây là những thay đổi sớm nhất của tiến trình
VXĐM có thể khảo sát được cho đến nay, giúp dự báo các tổn thương mạch
máu trong tương lai.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đo FMD động mạch cánh tay và IMT động mạch cảnh bằng siêu âm là
hai kỹ thuật không quá đắt tiền, phương tiện dễ có, có thể ứng dụng rộng rãi
trên lâm sàng nhằm:
+ Giúp phát hiện các đối tượng ĐTĐ có nguy cơ cao về bệnh mạch máu ở giai
đoạn sớm của tiến trình XVĐM để áp dụng các biện pháp điều trị kịp thời.
+ Các chỉ số này giúp các thầy thuốc lâm sàng theo dõi, đánh giá hiệu quả của
các biện pháp điều trị làm cải thiện rối loạn chức năng và cấu trúc mạch máu,
góp phần ngăn ngừa biến chứng mạch máu, nâng cao tuổi thọ và chất lượng
sống cho người ĐTĐ.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH
1.1.1. Đái tháo đường týp 2
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một nhóm bệnh chuyển hóa với đặc trưng
tăng đường huyết do thiếu hụt insulin và/hoặc do insulin kém tác dụng. Tăng
đường máu mạn tính trong ĐTĐ gây tổn thương ở nhiều cơ quan như mắt,
thận, thần kinh, tim và mạch máu [1]. Tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn thế giới gia
tăng nhanh chóng trong những thập niên qua. Năm 1985 có khoảng 30 triệu
Trong nhiều thập niên qua đã có những nỗ lực nhằm hạn chế tỷ lệ mắc
mới cũng như các biến chứng tim mạch ở người ĐTĐ. Các yếu tố nguy cơ
gây bệnh như tiền sử gia đình, béo phì, lối sống tĩnh tại…đã được quan tâm
điều chỉnh nhằm dự phòng hoặc làm chậm khởi phát của bệnh [6]. Việc chẩn
đoán, điều trị, theo dõi và chăm sóc bệnh nhân ĐTĐ cũng đã có nhiều tiến bộ
vượt bật. Mức đường máu lúc đói trong chẩn đoán đã được hạ thấp hơn (từ
140 mg/dl xuống còn 126 mg/dl), bệnh được khuyến cáo tầm soát ở giai đoạn
sớm hơn (tiền ĐTĐ). Các yếu tố nguy cơ tim mạch kèm theo như tăng huyết
áp, béo phì và rối loạn lipid, hút thuốc lá… được khuyến cáo điều trị chặt chẽ
hơn đã giúp làm giảm tỷ lệ các biến chứng và tử vong sớm ở người ĐTĐ. Tuy
nhiên, tỷ lệ mắc mới của bệnh vẫn không giảm và việc hạn chế các biến
chứng tim mạch vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn [34]. Điều này
có lẽ một phần do điều kiện kinh tế và xã hội của từng quốc gia, một phần do
chúng ta chưa thật sự hiểu biết đầy đủ các rối loạn bệnh sinh phức tạp cũng
như các tác động đa chiều của nhiều yếu tố lên tiến triển của bệnh.
Các yếu tố nguy cơ tim mạch ở người ĐTĐ được quan tâm đặc biệt vì
việc xác định, kiểm soát các yếu tố nguy cơ đem lại lợi ích to lớn cho người
bệnh. Phát hiện càng sớm, can thiệp càng sớm các yếu tố nguy cơ sẽ làm giảm
các biến chứng tim mạch, giảm gánh nặng bệnh tật và tử vong ở người ĐTĐ.
6
1.1.2. Các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
1.1.2.1.Tuổi và giới
Nguy cơ của các biến cố tim mạch gia tăng theo tuổi. Trong nhiều khảo
sát dịch tễ học, tuổi vẫn là yếu tố dự báo mạnh mẽ của bệnh tim mạch. Hơn
một nửa những người có cơn đau tim là ở độ tuổi sau 65, và khoảng 4 trong
số 5 người chết người chết do cơn đau tim là ở độ tuổi trên 65. Ở người ĐTĐ
cũng vậy, tần suất các bệnh tim mạch gia tăng theo tuổi [69]. Các biến chứng
Tăng HA đi kèm với ĐTĐ làm tăng gấp 3 nguy cơ bệnh mạch vành,
gấp đôi nguy cơ đột quỵ và tử vong toàn bộ, và là nguyên nhân của 75% các
biến cố tim mạch [140]. Tăng HA làm gia tăng tiến triển của bệnh thận, bệnh
võng mạc và bệnh thần kinh ĐTĐ.
Kiểm soát tốt HA là một mục tiêu sống còn trong chăm sóc bệnh nhân
ĐTĐ. Kiểm soát chặt chẽ tăng HA làm giảm tử vong chung; tử vong liên
quan ĐTĐ và các biến cố liên quan đến ĐTĐ khác [110]. Hạ thấp HA tâm thu
đến mức tối ưu (< 120 mmHg) có thể có nhiều lợi ích hơn nữa [70]. Kết quả
từ nghiên cứu ĐTĐ tiến cứu ở Anh cho thấy cứ giảm mỗi 10 mmHg HA tâm
thu trung bình có thể làm giảm 12% các biến chứng của ĐTĐ, 15% tử vong
do ĐTĐ, 11% nhồi máu cơ tim và 13% các biến chứng vi mạch [20].
1.1.2.4. Rối loạn lipid máu
Ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2, rối loạn lipid máu thường gặp nhất là tăng
nồng độ triglyceride và giảm nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng cao
(HDL-C), nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) thay đổi
không rõ ràng [93].
Tăng nồng độ cholesterol toàn phần và LDL-C là yếu tố dự báo các
biến cố mạch vành cũng như đột quỵ ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2. Hạ thấp LDL-C
làm giảm 17 - 43% biến cố tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ [70].
Giảm HDL-C là yếu tố nguy cơ đối với bệnh mạch vành. Giảm HDL-C
làm tăng gấp 4 lần nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành và tăng gấp 2 lần
nguy cơ các biến cố mạch vành. Giảm HDL-C cũng là yếu tố dự báo đột quỵ
8
ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2. Nồng độ HDL-C có liên quan nghịch với bệnh mạch
máu ngoại biên ở người ĐTĐ týp 2 cũng như không ĐTĐ [70].
Tăng LDL-C được xác định là mục tiêu tiên phát của liệu pháp hạ thấp
lipid bởi cả Hội ĐTĐ Mỹ (ADA) và Hội Tim mạch Mỹ (AHA). Hạ thấp
thiện 21% các yếu tố nguy cơ tim mạch. Nhóm này cũng đạt mục tiêu HbA1C
< 7% tăng từ 46% lên đến 73%, và tăng gấp đôi về tỉ lệ đạt mục tiêu bộ ba:
kiểm soát đường máu, tăng HA và rối loạn lipid máu [142].
1.1.2.6. Tăng đường máu và HbA1C
Các nghiên cứu dịch tễ học tiến cứu lớn ở bệnh nhân ĐTĐ cho thấy
mức đường máu cao là yếu tố dự báo bệnh tim mạch. HbA1C càng cao thì
nguy cơ bệnh tim mạch càng cao. Tăng mỗi 1% HbA1C làm tăng 18% nguy
cơ bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ [70]. Kiểm soát đường máu trong
khoảng bình thường có thể ngăn ngừa được bệnh tim mạch. Kết quả từ nghiên
cứu của Holman và CS cho thấy kiểm soát đường máu tăng cường bằng thuốc
uống hoặc insulin làm giảm các nguy cơ nhồi máu cơ tim và tử vong ở bệnh
nhân ĐTĐ týp 2 [80].
Ở những người không ĐTĐ, HbA1C là yếu tố nguy cơ của ĐTĐ. So
với đường máu lúc đói, HbA1C có liên quan chặt chẽ hơn với bệnh tim mạch
và nguy cơ tử vong do bất kỳ nguyên nhân nào [128].
Nghiên cứu của Selvin và CS chứng minh có sự liên quan giữa HbA1C
với các yếu tố nguy cơ tim mạch, và HbA1C liên quan độc lập với IMT động
mạch cảnh. Như vậy, tăng đường máu kéo dài thúc đẩy sự phát triển của
VXĐM ở người ĐTĐ, độc lập với các yếu tố nguy cơ khác [129].
Khuyến cáo của ADA 2011 [18]:
- Mục tiêu chung cho tất cả bệnh nhân ĐTĐ là HbA1C < 7%.
- Mục tiêu HbA1C đối với từng cá nhân càng gần bình thường (< 6%) càng
tốt miễn là không gây hạ đường máu đáng kể.
1.1.2.7. Cường insulin/đề kháng insulin
Hội chứng đề kháng insulin (còn gọi là hội chứng chuyển hóa) là một
tập hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch thường liên quan tới béo phì [59]. Các
10
11
ĐTĐ týp 2, các thay đổi về fibrinogen huyết thanh và các yếu tố V, II, VII
đều có liên quan với nguy cơ nhồi máu cơ tim. Gia tăng D-dimer, kháng
nguyên của yếu tố von Willebrand, A-II antiplasmin, và giảm antithrombin III
cũng đã được phát hiện ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2. Như vậy, các bất thường
đông máu có thể làm gia tăng tần suất và độ nặng của các biến cố thuyên tắc
mạch ở bệnh nhân ĐTĐ [59].
1.1.2.9. Viêm và protein phản ứng C
Viêm được xem là có vai trò chính trong bệnh sinh VXĐM [71],[123].
Một vài dấu chỉ điểm viêm đã được sử dụng trong các nghiên cứu, trong đó
protein phản ứng C độ nhạy cao (hs-CRP) có giá trị dự báo nguy cơ các biến
cố tim mạch trong tương lai. Định lượng hs-CRP giúp phát hiện những thay
đổi của các mức CRP trong giới hạn bình thường. Các mức cao trong giới hạn
này đã được chứng minh là yếu tố dự báo các biến cố tim mạch, nguy cơ nhồi
máu cơ tim và đột quỵ [84],[118],[119]. Giảm CRP bằng aspirin làm giảm
nguy cơ nhồi máu cơ tim lần đầu, chứng tỏ các chất kháng viêm có thể có lợi
ích ngăn ngừa bệnh tim mạch [118].
Trong Nghiên cứu Sức khỏe Phụ nữ (Women’s Healthy Study), phụ nữ
có các biến cố tim mạch có mức CRP lúc ban đầu cao hơn so nhóm chứng.
Những người có mức CRP cao nhất lúc ban đầu có gia tăng gấp 5 lần nguy cơ
biến cố mạch máu và gia tăng gấp 7 lần nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc đột
quỵ [120].
1.1.2.10. Vi đạm niệu
Vi đạm niệu được xác định khi sự hiện diện của albumin niệu trên mức
bình thường nhưng dưới ngưỡng phát hiện được bằng phương pháp thử que
thông thường. Ở bệnh nhân ĐTĐ, gọi là có vi đạm niệu khi tốc độ bài xuất
albumin nước tiểu từ 30-300 mg/24 giờ (tương đương với 20 – 200 µg/phút
hoặc 30-300 µg/mg creatinine trên một mẫu nước tiểu nhỏ). Vi đạm niệu là
giữa tăng IMT động mạch cảnh và đề kháng insulin. IMT động mạch cảnh
13
tăng ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 mới chẩn đoán không có bệnh mạch vành rõ.
IMT tăng cao có ý nghĩa ở bệnh nhân có bệnh mạch vành, đột quỵ và có liên
quan đến đột quỵ do nhồi máu não ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 [12],[99].
1.2. CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG NỘI MẠC MẠCH MÁU
Nội mạc mạch máu (sau đây gọi tắt là nội mạc) là một lớp tế bào mỏng
nằm lót ở mặt trong lòng mạch máu, nơi tiếp xúc trực tiếp với dòng máu. Kể
từ khi được phát hiện bằng kính hiển vi cho đến những năm đầu thập niên
1980, nội mạc (NM) chỉ được xem như một hàng rào chắn giữa dòng máu và
thành mạch. Tuy nhiên, trong hơn ba thập niên qua, NM đã được chứng minh
là có vai trò chính trong điều hòa cấu trúc, trương lực mạch máu và đảm bảo
sự hằng định nội môi mạch máu [94],[122].
1.2.1. Cấu tạo của nội mạc
Động mạch trong cơ thể người gồm 3 lớp: lớp ngoại mạc (còn gọi là
áo ngoài), lớp trung mạc (áo giữa) và lớp nội mạc (lớp áo trong).
Ngoạ
Ngoại mạ
mạc
Trung mạ
mạc
Nội mạ
mạc
TB Nội mạ
mạc
Mô liên kế
suốt, đảm bảo sự tưới máu cho các mô trong cơ thể. Hai chất quan trọng nhất
đã được nghiên cứu đầy đủ trong vai trò điều hòa trương lực mạch máu của
nội mạc là nitric oxide (NO) và endothelin (ET).
- Nitric Oxide
Năm 1980 Robert F. Furchgott chứng minh tác dụng giãn tế bào cơ
trơn mạch máu của acetylcholine là do một chất gây giãn có nguồn gốc từ
NM. Bảy năm sau đó, chất này được xác định là chất khí gốc tự do NO [ 22].
Với phát minh này, Robert F Furchgott đã nhận được giải Nobel y học vào
năm 1998.
Ngoài NO, prostacyclin và yếu tố cường phân cực (hyperpolarizing
factor) cũng là những chất gây giãn mạch có nguồn gốc NM. Prostacyclin
được tế bào NM tổng hợp từ arachidonic acid khi đáp ứng với các chất trung
gian viêm như interleukin-1, các yếu tố tăng trưởng. Giống như NO,
prostacyclin gây giãn mạch, ức chế ngưng tập tiểu cầu và đông máu [31],[63].
15
Lực đè
Tế bào nội mạc
Tế bào cơ trơn
Giãn cơ trơn
Hình 1.2. Sơ đồ hình thành NO và tác dụng giãn cơ trơn gây giãn mạch của NO
(Nguồn Behrendt D, Ganz P. Am J Cardiol 2002; 90:40L-48L)
Các kích thích vật lý như lực đè từ dòng máu vào lòng mạch hoặc hóa
học như acetylcholine, bradykinin, serotonin, thrombin…làm gia tăng dòng
vi khuẩn và vi rút gây bệnh làm hỏng chức năng liên kết chặc của NM, gây ra
các rối loạn bệnh lý ở hệ thống mạch máu [63].
1.2.2.3. Chức năng phòng vệ vật chủ (Host defence)
NM có vai trò quan trọng trong phòng vệ vật chủ và viêm. Tế bào NM
sản xuất và tái hoạt phần lớn các cytokine và các chất trung gian khác.
Các loại chemokine của NM bao gồm α chemokine, β chemokine và
fractalkine có tác dụng lên bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa acid, lympho T,
các tế bào diệt tự nhiên và bạch cầu đơn nhân.
Tế bào NM cũng điều hòa sự di chuyển của bạch cầu vào tổ chức thông
qua các phân tử dính. Sự di chuyển của các phân tử dính giữa các tế bào NM
cận kề và vào các mô đến vị trí nhiễm khuẩn hoặc tổn thương được kiểm soát
chặt chẽ, giúp duy trì sự lành lặn của NM và cho phép các tế bào viêm đã
được hoạt hóa di chuyển ra khỏi vòng tuần hoàn đến vị trí viêm hoặc tổn
thương.
Các độc tố của vi khuẩn, tình trạng thiếu oxy máu, và các chất trung
gian khác kích thích tế bào NM sản xuất nhiều cytokine và yếu tố tăng
17
trưởng. Tế bào nội mạc cũng phản ứng với nhiều cytokine, gây ra các đáp ứng
miễn dịch, viêm, huyết khối và tân sinh mạch [63].
1.3.2.4. Chức năng cầm máu và đông máu
Nội mạc và tế bào cơ trơn tiết ra nhiều protein tham gia trực tiếp vào
quá trình cầm máu. Các protein đông máu đã được hoạt hóa gắn lên các thụ
thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào NM làm trình diện các gien liên quan đến
đông máu, tăng sinh mạch máu, kết dính bạch cầu và điều hòa trương lực
thành mạch.
Nội mạc cũng tổng hợp các chất ức chế yếu tố mô. Sự trình diện yếu tố
mô dẫn đến hoạt hóa yếu tố X. Yếu tố X kết hợp với yếu tố Va để chuyển
cầu; kích thích tăng sinh cơ trơn; có đặc tính tiền đông; tiền viêm và oxy hóa
[44],[55],[57],[150],[155].
- Giãn mạch
- Chống đông
- Chống ngưng tập tiểu cầu
- Chống tăng sinh
- Chống viêm
- Chống oxy hóa
- Co mạch
- Tăng đông
- Kết dính các phân tử
- Các yếu tố tăng trưởng
- Viêm
- Oxy hóa
Hình 1.3. Mất cân bằng điều hòa của NM: tăng các đặc tính gây vữa xơ
(bên phải) so với các đặc tính chống vữa xơ (bên trái)
(Nguồn: Esper J R, Nordaby AR. Endothelial dysfunction: a comprehensive appraisal.
Cardiovascular diabetology 2006; 5:4)[55]
Giảm hoạt tính của NO là biểu hiện quan trọng nhất của rối loạn chức
năng nội mạc. Các nghiên cứu về eNOS cho thấy ở những tình trạng có tính
sinh vữa xơ như tăng cholesterol máu, các sản phẩm thoái giáng có khả năng
oxy hóa eNOS gây tổn thương nội mạc và do đó thúc đẩy tiến trình vữa xơ
động mạch [58],[88].
19
Các lipid (đặc biệt là LDL) và stress oxy hóa đóng vai trò chính làm
giảm khả dụng sinh học của NO gây suy giảm chức năng nội mạc. Các tác
động khác như lực đè lên nội mạc do rối loạn phân bố dòng chảy, cũng hoạt
hóa nội mạc làm tăng rối loạn vận mạch và thúc đẩy viêm do kích hoạt các
gien tiền vữa xơ.
1.3.2.2. Rối loạn chức năng nội mạc và tiến trình vữa xơ động mạch
Các tình trạng sinh vữa xơ động mạch như tăng cholesterol máu, tăng
huyết áp, tăng đường máu, hút thuốc lá…có liên quan đến rối loạn chức năng
nội mạc, tạo ra kiểu hình tiền viêm và tiền đông của nội mạc.
Ludmer và cộng sự là những người đầu tiên phát hiện có hiện tượng
suy giảm giãn mạch phụ thuộc nội mạc ở người bị vữa xơ động mạch. Với thử
nghiệm acetylcholine, các nhà nghiên cứu đã quan sát được hiện tượng co thắt
động mạch vành kịch phát ở bệnh nhân bị bệnh động mạch vành mức độ nhẹ
cũng như đang tiến triển [44],[122]. Nhiều nghiên cứu sau đó gợi ý rối loạn
chức năng nội mạc có thể đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển, tiến
triển và các biến chứng lâm sàng của vữa xơ động mạch [53],[65],[97],[159].
Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy rối loạn chức năng nội mạc có từ rất
sớm và tồn tại qua tất cả các giai đoạn tiến triển của vữa xơ động mạch [86],
[149]. Như vậy, rối loạn chức năng nội mạc nhiều khả năng là biểu hiện sớm
nhất của tiến trình này.
Một số nghiên cứu cũng cho thấy có rối loạn chức năng nội mạc ở
những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ tim mạch dù họ chưa có các biểu hiện
lâm sàng của vữa xơ động mạch [33],[44],[45]. Kết hợp với vai trò sinh lý
bệnh của nội mạc đã được mô tả ở trên, kết quả này gợi ý rằng rối loạn chức
năng nội mạc là sợi dây gắn kết về cơ chế giữa các yếu tố nguy cơ tim mạch
và sự phát triển của vữa xơ động mạch.
Có thể tóm tắt vai trò của rối loạn chức năng nội mạc trong tiến trình
vữa xơ động mạch bằng hình sau (hình 1.4)
Hình 1.4. Rối loạn chức năng NM với sự tiến triển của các bệnh lý tim mạch
(Nguồn: Versari D. Endothelial Dysfunction as a Target for Prevention of Cardiovascular
Disease. Diabetes Care 2009; 32: S314-S321)[151]
1.3.2.3. Rối loạn chức năng NM và các yếu tố nguy cơ vữa xơ động mạch
Các yếu tố nguy cơ truyền thống dự báo sự phát triển của VXĐM như
tăng cholesterol máu, tăng huyết áp, hút thuốc lá, đái tháo đường, và tiền sử
gia đình có bệnh mạch vành sớm…có liên quan đến rối loạn chức năng NM
[13],[130],[151]. Việc tính điểm các yếu tố nguy cơ cũng là yếu tố dự báo độc
lập của rối loạn chức năng NM với suy giảm giãn mạch qua trung gian dòng
chảy và thử nghiệm acetylcholine.
Ở những người không có bệnh mạch vành cũng có mối liên quan giữa
rối loạn chức năng NM và các yếu tố nguy cơ VXĐM [40],[75],[96].
Một số biện pháp can thiệp các yếu tố nguy cơ cũng làm hồi phục chức
năng NM. Johnson và cộng sự (2010) nghiên cứu ở 1504 người hút thuốc lá
cho thấy hút thuốc lá có liên quan độc lập với rối loạn chức năng NM. Sau
một năm dừng hút thuốc lá, chức năng NM cải thiện rõ rệt bất chấp việc tăng
cân do bỏ thuốc lá [85].
22
1.3.2.4. Rối loạn chức năng NM dự báo các hậu quả lâm sàng của VXĐM
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rối loạn chức năng nội mạc là yếu tố
dự báo độc lập các biến cố tim mạch ở những bệnh nhân có hay không có
bệnh mạch vành [44]. Nguy cơ các biến cố tim mạch ở nhóm bệnh nhân bị
bệnh mạch vành nhẹ (không tắc nghẽn) có rối loạn chức năng NM mạch vành
cao hơn có ý nghĩa co với nhóm không có hoặc có rối loạn nhẹ chức năng
NM [94].
ĐTĐ
Thuốc lá
Béo phì
LDL
Homocystein
STRESS OXY HÓA
Hình thành
các gốc oxy tự doìnhH
RỐI LOẠN
CHỨC NĂNG NỘI MẠC
Chết
tế bào
Co
mạch
Lắng đọng
lipid
ĐÁP ỨNG
VIÊM