HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ XUÂN
C¤NG T¸C X¢Y DùNG §¶NG CñA §¶NG Bé LI£N KHU III
Tõ N¡M 1948 §ÕN N¡M 1954
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 62 22 03 15
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2015
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Ngư ờ i hư ớ ng dẫ n khoa họ c: 1. PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà
2. TS Nguyễn Bình
Phả n biệ n 1:.........................................................
.........................................................
Phả n biệ n 2:.........................................................
.........................................................
Phả n biệ n 3:.........................................................
.........................................................
Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954; tổng kết, đúc rút những
kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu nhằm
phục vụ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
2.2. Nhiệ m vụ
Sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu về công tác xây dựng Đảng của Đảng
bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954; phân tích làm rõ chủ trương
của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói
chung và đối với công tác xây dựng Đảng trên địa bàn Liên khu III nói
riêng; tái hiện quá trình Đảng bộ Liên khu III lãnh đạo, thực hiện công tác
2
xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức; nêu bật những kết
quả đạt được; chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân của những
hạn chế, khuyết điểm; đúc kết những kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận, thực
tiễn qua thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm
1948 đến năm 1954.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đố i tư ợ ng nghiên cứ u
Luận án nghiên cứu hoạt động xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu
III: chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ.
3.2. Phạ m vi nghiên cứ u
Về nội dung: Luận án nghiên cứu chủ trương xây dựng Đảng của
Trung ương Đảng và quá trình Đảng bộ Liên khu III triển khai thực hiện
công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Về không gian:
Từ tháng 2-1948 đến tháng 5-1952, gồm địa bàn 11 tỉnh, thành phố:
Hải Kiến, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà
Đông, Sơn Tây, Ninh Bình, Hòa Bình và Hà Nội. (Tháng 12-1948, tỉnh Hải
1954, trong đó có nhiều sử liệu mới.
5.2.Về nộ i dung
Kết quả nghiên cứu của luận án giúp cho người đọc thấy rõ quá trình
Đảng bộ Liên khu III lãnh đạo, thực hiện công tác xây dựng Đảng từ năm
1948 đến năm 1954 và ý nghĩa của công tác xây dựng Đảng đối với sự
nghiệp lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc của Đảng bộ Liên khu; góp phần
làm phong phú, toàn diện và sâu sắc hơn công tác nghiên cứu, giảng dạy
lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; cung cấp thêm những luận cứ khoa học
phục vụ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công
bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án gồm 3 chương, 6 tiết.
4
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Cho đến nay, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ
năm 1948 đến năm 1954 được đề cập ở những mức độ, phạm vi, góc độ
khác nhau trong một số công trình lịch sử sau:
1.1. Những công trình, bài viết nghiên cứu chung về Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam và công tác xây dựng Đảng
Một số công trình, bài viết cơ bản như: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam, sơ thảo, tập 1 (1920-1954), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981 (tái bản năm
1984; Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử
Đảng, Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III Đảng lãnh đạo
kháng chiến và kiến quốc (1945-1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
Phòng: Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng, tập I (1925-1955), Nhà xuất bản Hải
Phòng, 1991; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định: Lịch sử Đảng bộ
tỉnh Nam Định 1930-1975, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001;
Tỉnh uỷ Hà Tây: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tây, tập II 1945-1954, 1994 v.v.
đã phản ánh một vài khía cạnh về công tác xây dựng Đảng của các địa
phương trên địa bàn Liên khu.
2. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ
thống công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến
năm 1954. Trong hầu hết các công trình đã công bố, nội dung liên quan đến
đề tài của luận án chỉ được phản ánh một cách đơn lẻ, tản mạn, mang tính
minh họa trong diễn biến chung của cuộc kháng chiến. Công tác xây dựng
Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954 chưa bao giờ
được coi là đối tượng nghiên cứu độc lập. Đảng bộ Liên khu III tiến hành
xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức như thế nào? Kết quả đạt
được, hạn chế, khuyết điểm; nguyên nhân của những kết quả, hạn chế đó;
6
những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ
Liên khu trong cuộc kháng chiến ra sao? Chừng nào những vấn đề đó chưa
được làm sáng tỏ và luận giải thấu đáo thì những đánh giá, kiến giải về quá
trình xây dựng Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược vẫn chưa đầy đủ, sâu sắc và toàn diện.
3. NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT
- Phân tích các yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng của Đảng
bộ Liên khu III từ tháng 2-1948 đến tháng 7-1954.
Trung ương Đảng, ngày 20-1-1948 và Sắc lệnh số 120-SL ngày 25-1-1948
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đầu tháng 2-1948, Liên khu III được thành lập,
trên cơ sở sáp nhập Khu II, Khu III và Khu XI. Địa bàn Liên khu III gồm
11 tỉnh, thành phố: Hải Kiến, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam
Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình, Hòa Bình và Hà Nội.
Ngay sau khi Liên khu III được thành lập, để kịp thời lãnh đạo, điều
hành quân và dân Liên khu kháng chiến, Trung ương Đảng chỉ định Ban
Thường vụ Liên khu ủy gồm các đồng chí: Lê Quang Hòa, Nguyễn Văn
Lộc, Lê Quang Đạo, Trần Quang Bình, Văn Tiến Dũng, Đỗ Mười, Vũ
Oanh, Đặng Tính, Nguyễn Khai..., đồng chí Nguyễn Văn Trân làm Bí thư
Liên khu ủy, kiêm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Liên khu;
đồng chí Lê Thanh Nghị làm Phó Bí thư.
Trước tình hình các tỉnh Tả ngạn bị chiếm đóng, cô lập, để thuận lợi
cho việc điều hành kháng chiến, ngày 24-5-1952, Trung ương Đảng ra
Nghị quyết số 08/NQ-TU tách 5 tỉnh phía Bắc sông Hồng của Liên khu III
gồm Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên thành lập
Khu Tả ngạn sông Hồng. Liên khu III từ thời điểm đó đến khi kết thúc
cuộc kháng chiến gồm 6 tỉnh, thành phố còn lại ở Hữu ngạn sông Hồng là
Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Sơn Tây và Hòa Bình.
8
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, từ ngày 20-5 đến 2-61952, Liên khu ủy họp Hội nghị lần thứ 3 ra Nghị quyết về tổ chức và
phân công nhiệm vụ cho các đồng chí tham gia Ban Chấp hành Liên khu
ủy mới. Liên khu ủy mới gồm 15 đồng chí, đồng chí Lê Thanh Nghị làm
Bí thư kiêm Chính ủy.
1.1.2. Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng ở Liên
khu III
1.1.2.1. Điề u kiệ n tự nhiên, kinh tế - xã hộ i
1.1.2.2. Tình hình xây dự ng Đả ng trên đị a bàn Liên khu III trư ớ c
tháng 2-1948
Từ năm 1930 đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh
đạo của Trung ương Đảng, của Xứ ủy Bắc Kỳ, các địa phương trên địa bàn
Liên khu tập trung xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, phát triển đảng viên,
lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Thời gian này,
các địa phương đã phát triển được một số ít đảng viên và xây dựng được
một số chi bộ Đảng.
Sau Cách mạng Tháng Tám đến trước khi Liên khu III ra đời (21948), các cấp bộ Đảng trên địa bàn Liên khu (lúc này gồm Khu ủy II, III,
XI) tiếp tục tiến hành xây dựng Đảng bộ về mọi mặt, đạt được nhiều kết
quả và có một số hạn chế. Thời gian này, hệ thống tổ chức Đảng các cấp
từng bước được hình thành; số lượng cán bộ, đảng viên và chi bộ Đảng
tăng ở hầu khắp các tỉnh, thành phố. Đến tháng 12-1947, số lượng đảng
viên toàn Khu III có 9.256 đồng chí [190], là khu có số lượng đảng viên
lớn nhất Bắc Bộ.
1.1.2.3. Chủ trư ơ ng củ a Trung ư ơ ng Đả ng và Chủ tị ch Hồ Chí
Minh về xây dự ng Đả ng
Sau thất bại ở Việt Bắc, thực dân Pháp quyết định chuyển sang đánh
kéo dài, bình định các vùng đồng bằng đông dân, nhiều của để vơ vét sức
người, sức của phục vụ cuộc tranh xâm lược, dùng chiến tranh tổng lực
hòng đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.
Đáp ứng yêu cầu lãnh đạo kháng chiến trong tình hình mới, Trung
ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đẩy mạnh công tác xây
10
dựng Đảng, tập trung vào phát triển đảng viên; giáo dục quan điểm, đường
lối, tình hình, nhiệm vụ, ý thức của người đảng viên và củng cố tổ chức.
1.2. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ LIÊN KHU
bằng Bắc Bộ và chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng
người Việt đánh người Việt” của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến
chuyển sang thế sẵn sàng phản công và tiến công.
1.2.2. Đảng bộ Liên khu III đẩy mạnh giáo dục tư tưởng
Nội dung giáo dục tư tưởng của Đảng bộ Liên khu chủ yếu nhằm vào
giáo dục lập trường giai cấp, niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, ý
thức kháng chiến lâu dài, tự lực cánh sinh, chịu đựng gian khổ, không sợ
hy sinh; giúp cán bộ, đảng viên nhận rõ bạn, thù; chống tư tưởng ỷ lại, dao
động, sợ Mỹ, thân Mỹ, đánh giá cao thực dân Pháp; động viên tinh thần, ý
chí chiến đấu trước những chiến dịch lớn (Chiến dịch Biên Giới)...
Với chủ trương đúng đắn và bằng những biện pháp giáo dục thiết
thực, công tác giáo dục tư tưởng thời kỳ này đã giúp cho cán bộ, đảng viên
của Đảng bộ nâng cao nhận thức, củng cố lập trường giai cấp, quan điểm
quần chúng; quan điểm, đường lối kháng chiến; tình hình, nhiệm vụ.
Những tư tưởng sai lệch như: bi quan, dao động, cầu an, lánh giặc, đầu
hàng hoặc “lạc quan tếu”, chủ quan, khinh địch, ỷ lại, nóng vội, đoản kỳ
kháng chiến được khắc phục. Cán bộ, đảng viên phân biệt rõ bạn, thù…
Trên cơ sở đó, xác định rõ ý thức, trách nhiệm đối với cuộc kháng chiến,
nêu cao ý thức hoàn thành nhiệm vụ.
1.2.3. Đảng bộ Liên khu III tích cực xây dựng, củng cố tổ chức
Công tác tổ chức tập trung vào xây dựng, kiện toàn bộ máy Đảng các
cấp theo hướng “tinh, gọn, hiệu quả”; tăng cường công tác đào tạo, bổ
sung, đề bạt cán bộ; sửa đổi lề lối làm việc; chống chủ nghĩa cá nhân; đẩy
mạnh phát triển Đảng, chú trọng xây dựng chi bộ tự động công tác. Năm
1948, 1949, chủ trương “thi đua xây dựng Hội” của Trung ương Đảng đã
chi phối mạnh mẽ công tác phát triển Đảng của Liên khu. Do đó, Liên khu
đã phát triển Đảng ồ ạt, không đảm bảo về chất lượng và trở thành địa
phương phát triển Đảng mạnh nhất cả nước với 15 vạn đồng chí vào cuối
13
Xuân 1951-1952, thế và lực của ta ngày càng lớn mạnh, quân và dân cả
nước có điều kiện tiếp tục mở những chiến dịch lớn tiêu diệt địch, tiến tới
kết thúc chiến tranh.
Để nâng cao sức chiến đấu cho Đảng, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đẩy
mạnh kháng chiến, từ nửa đầu năm 1952 đến khi kết thúc cuộc kháng
chiến, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục xác định công
tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, trong đó, chỉnh huấn, chỉnh
Đảng là nhiệm vụ trọng tâm. Đồng thời, đẩy mạnh học tập, bồi dưỡng
nâng cao trình độ lý luận, năng lực công tác cho cán bộ, đảng viên, kết hợp
với chỉnh đốn tổ chức. Tất cả nhằm làm cho toàn Đảng thống nhất về tư
tưởng, vững mạnh về tổ chức, đủ sức lãnh đạo kháng chiến trong giai đoạn
quyết định.
2.2. ĐẢNG BỘ LIÊN KHU III TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG ĐẢNG
VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TỔ CHỨC (5/1952-7/1954)
2.2.1. Đảng bộ Liên khu III xác định nhiệm vụ chính trị trong
giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến
Sau chiến dịch Hòa Bình, cuộc kháng chiến trên địa bàn Liên khu
ngày càng có nhiều thuận lợi, mở ra khả năng chủ động tấn công tiêu diệt
địch. Đảng bộ ngày càng trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo.
Bên cạnh đó, một số cán bộ, đảng viên còn vi phạm nhiều khuyết điểm:
tư tưởng, lập trường giai cấp, quan điểm kháng chiến sai lệch; tinh thần, ý
chí chiến đấu chưa cao; chủ nghĩa cá nhân, bênh quan liêu, mệnh lệnh...
còn nặng.
Ngược lại, sau chiến dịch Hòa Bình, thực dân Pháp càng lún sâu vào
thế bị động, ra sức tăng cường lực lượng, đẩy mạnh càn quét, đánh phá,
hình, nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm, ý chí chiến đấu; chỉnh đốn, uốn nắn
những tư tưởng, nhận thức sai lệch; chống chủ nghĩa cá nhân; xây dựng tư
tưởng đúng đắn, nâng cao nhận thức, trình độ mọi mặt cho cán bộ, đảng
viên. Đảng bộ đặc biệt chú ý giáo dục, động viên trong những thời điểm
quan trọng của cuộc kháng chiến (trước những chiến dịch lớn).
15
Nhờ chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, cán bộ, đảng viên trong Đảng
bộ ngày càng nâng cao được nhận thức, tư tưởng; nâng cao cao ý thức
và tinh thần trách nhiệm trong thực hiện chủ trương, chính sách của
Đảng; tích cực lãnh đạo quân và dân Liên khu kháng chiến. Những
khuynh hướng tư tưởng hữu khuynh, “tả” khuynh được khắc phục; giải
quyết cơ bản tình trạng cán bộ, đảng viên vùng địch hậu cầu an, xin ra
vùng tự do. Toàn Đảng bộ đoàn kết, thống nhất, quyết tâm lãnh đạo
nhân dân kháng chiến.
2.2.3. Đảng bộ Liên khu III xây dựng, củng cố tổ chức
Sau khi Trung ương tách Khu Tả ngạn khỏi địa bàn Liên khu III,
Đảng bộ Liên khu đã tập trung sắp xếp, củng cố lại bộ máy lãnh đạo từ
Liên khu tới cơ sở; tăng cường công tác cán bộ; sửa đổi lề lối làm việc,
chống bệnh “3 nhiều” (khai Hội, chỉ thị, báo cáo nhiều), “3 ít” (ít điều tra
nghiên cứu, kiểm tra, theo dõi; ít học tập chính sách, ít rút kinh nghiệm và
tổng kết kinh nghiệm), thực hiện đúng nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách”.
Đồng thời, tiến hành chỉnh huấn, chỉnh Đảng, chỉnh đốn chi bộ.
Công tác phát triển Đảng được Liên khu ủy quan tâm nhưng hầu như
không đạt kết quả. Số lượng đảng viên, chi bộ Đảng giảm nhanh, đầu năm
1954, Đảng bộ Liên khu chỉ có 20.000 đảng viên.
Để nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên, Đảng bộ Liên khu đã tiến
và dân liên khu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kháng chiến, góp phần đánh
bại thực dân Pháp xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
Chương 3
NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
3.1. NHẬN XÉT
3.1.1. Thành tựu, nguyên nhân
Trải qua 6 năm không ngừng phấn đấu, công tác xây dựng Đảng của
Đảng bộ Liên khu III đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Những
thành tựu đó là:
17
Về chính trị
Đảng bộ đã đề ra những chủ trương, nhiệm vụ chính trị đúng đắn,
phù hợp với thực tiễn địa phương, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến
thắng lợi.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ Liên khu III
đã tuân thủ đúng nguyên tắc trong xác định nhiệm vụ chính trị của Đảng,
đó là, quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng, căn cứ vào hoàn cảnh
cụ thể của địa phương để đề ra nhiệm vụ chính trị phù hợp.
Xuất phát là một địa bàn trọng điểm bình định của địch ở Bắc Bộ,
trên tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
nhiệm vụ chính trị chính yếu mà Đảng Bộ Liên khu xác định là kháng
chiến, mọi nhiệm vụ khác đều nhằm phục vụ nhiệm vụ kháng chiến. Trên
tinh thần đó, mỗi vùng, căn cứ vào đặc điểm riêng, đề ra nhiệm vụ chủ
yếu bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên. Vùng địch tạm chiếm đóng,
nhiệm vụ chủ yếu là các hoạt động quân sự đa dạng bên cạnh nhiệm vụ
thường xuyên là sản xuất, xây dựng lực lượng, đấu tranh chính trị, kinh
từ năm 1948 đến năm 1954, Đảng bộ Liên khu luôn đề cao công tác giáo
dục tư tưởng, trong đó, một mặt tập trung quán triệt trong cán bộ, đảng
viên về quan điểm, đường lối, phương châm, chủ trương kháng chiến của
Đảng; về tình hình, nhiệm vụ từng thời kỳ; tình hình Liên khu và chủ
trương của Đảng bộ Liên khu. Vì vậy, cán bộ, đảng viên trong Liên khu
luôn nhận thức rõ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà quân và dân
ta đang tiến hành là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa
vào sức mình là chính; phương châm của cuộc kháng chiến là “vừa kháng
chiến, vừa kiến quốc”. Từ đó, cán bộ, đảng viên củng cố được lập trường
tư tưởng; tinh thần, ý chí chiến đấu; ý thức, trách nhiệm đối với Đảng và
sự nghiệp kháng chiến. Ở vùng sau lưng địch cũng như vùng tự do, cán
bộ, đảng viên luôn chấp hành đúng chủ trương, chính sách của Đảng và
Chính phủ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trở thành tấm gương cổ vũ
mạnh mẽ nhân dân tham gia kháng chiến.
Trong một vài thời đoạn, do một số nguyên nhân, trong một bộ phận
cán bộ, đảng viên nảy sinh những khuynh hướng tư tưởng sai lệch “tả”
khuynh, hữu khuynh; chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, bè
phái…, ảnh hưởng đến sức chiến đấu của Đảng bộ. Đảng bộ Liên khu đã
tiến hành nhiều biện pháp khắc phục: chỉnh huấn, chỉnh Đảng, tổ chức học
tập, bồi dưỡng… Nhờ đó, cán bộ, đảng viên của Đảng bộ đã kiên định lập
trưởng tư tưởng; thống nhất ý chí và hành động, sức chiến đấu của Đảng
bộ được nâng cao. Những khuynh hướng tư tưởng sai lệch, những “căn
bệnh” có hại cho Đảng được khắc phục. Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh
19
đạo của Đảng bộ, tích cực tham gia kháng chiến. Thực tiễn kháng chiến
đầy gian khổ trên địa bàn dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu với
những thắng lợi ngày càng to lớn là minh chứng cho thành công của Đảng
trong mọi hoàn cảnh, đưa phong trào kháng chiến của Liên khu tiến lên.
Thực tiễn lãnh đạo kháng chiến trong vùng sau lưng địch, không sợ
gian khổ, hy sinh, cán bộ, đảng viên và các chi bộ tự động được công tác
đã dũng cảm bám địa bàn lãnh đạo kháng chiến. Phong trào kháng chiến
Liên khu, do đó, từng bước vượt qua thời kỳ khó khăn, đen tối những năm
1950-1951. Cũng nhờ đó, Đông - Xuân 1953-1954, mặc dù chỉ với khoảng
20.000 đảng viên nhưng Đảng bộ Liên khu đã lãnh đạo quân và dân trên
địa bàn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị, chống lại có hiệu quả
hàng loạt những trận càn quét lớn, nhỏ, làm phá sản âm mưu chiếm đóng
đồng bằng của địch, góp phần cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến tới
thắng lợi.
3.1.2. Hạn chế, nguyên nhân
Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong lãnh đạo thực hiện công
tác xây dựng Đảng trong cuộc kháng chiến từ năm 1948-1954, Đảng bộ
Liên khu còn một số khuyết điểm, hạn chế.
Về chính trị
Một số chủ trương đề ra chậm, không sát với tình hình thực tiễn.
“Tả” khuynh trong xác định và chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ
chính trị.
Về tư tư ở ng
Lập trường tư tưởng, tinh thần kháng chiến của một bộ phận không
nhỏ cán bộ, đảng viên sai lệch, thiếu vững vàng.
Về tổ chứ c
Phát triển đảng viên không chú trọng chất lượng, có biểu hiện “tả”
khuynh và hữu khuynh
Công tác đào tạo, sử dụng, bố trí cán bộ còn nhiều bất cập, có lúc, có
nơi chưa đánh giá đúng năng lực, nặng về chủ nghĩa thành phần.
21
công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Nhờ đó, Đảng
ngày càng trưởng thành, vững mạnh về chính trị, thống nhất và vững vàng
về tư tưởng, thống nhất về tổ chức, xác lập đường lối cách mạnh đúng đắn,
phương pháp lãnh đạo khoa học, sáng tạo. Do đó, Đảng đã lãnh đạo cách
mạng thành công.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, căn cứ vào yêu cầu và tình hình
thực tiễn, Đảng luôn đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng ở
những địa bàn chiến lược quan trọng. Là chiến trường trọng điểm trên chiến
trường chính Bắc Bộ, Liên khu III có vai trò quan trọng đối với cuộc kháng
chiến của ta và có ý nghĩa sống còn đối với cuộc chiến tranh xâm lược của
địch. Để hoàn thành nhiệm vụ của chiến trường chính, đánh bại mọi âm
mưu đánh chiếm, bình định của thực dân Pháp, Trung ương Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập các Liên khu, trong đó có Liên
khu III và Đảng bộ Liên khu vào tháng 2-1948. Việc thành lập Đảng bộ
Liên khu III là chủ trương đúng đắn của Đảng, phù hợp với yêu cầu của
cuộc kháng chiến.
Lãnh đạo một địa bàn trọng yếu, từ năm 1948 đến năm 1954, Đảng
bộ Liên khu III luôn quan tâm thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng và đạt
được nhiều thành quả quan trọng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức;
góp phần vào công tác xây dựng Đảng nói chung.
Quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng ở Liên khu III vừa trên
cơ sở tuân thủ nguyên tắc tổ chức hoạt động của chính Đảng vô sản theo
chủ nghĩa Mác - Lênin, chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo của Trung ương
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh; vừa căn cứ vào đặc điểm của địa bàn được
phân công phụ trách là vùng tạm bị địch chiếm, là địa bàn trọng điểm trong
chính sách đánh chiếm, bình định của thực dân Pháp, là trung tâm của đồng
bằng Bắc Bộ, nơi tụ cư đa số là nông dân, một phần là công nhân, ngoài ra
23
Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến
năm 1954 có nhiều hạn chế, cả trong nhận thức, xác định nhiệm vụ chính