Đánh giá chế định xác định cha, mẹ, con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 - Pdf 40

MỤC LỤC

A-

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, việc quan tâm, chăm sóc và bảo vệ trẻ em được coi là nhiệm vụ
trọng tâm trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Trẻ em sẽ được
phát triển một cách tốt nhất cả về mặt vật chất và tinh thần trong một môi trường
gia đình tốt, có đầy đủ cha, mẹ. Quyền làm cha, làm mẹ và quyền làm con là những
quyền thiêng liêng, vì vậy mà việc xác định cha, mẹ, con nhằm xác định thân phận
và quan hệ huyết thống giữa các chủ thể là việc làm hết sức quan trọng, góp phần
ổn định các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội. Tuy nhiên, trong đời sống
xã hội hiện nay, do sự hội nhập kinh tế và văn hóa toàn cầu, nên đã nảy sinh nhiều
mặt trái của xã hội, trong đó có hiện tượng nam nữ quan hệ tình dục trước hôn
nhân, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng hay “sống thử” , dẫn đến các
trường hợp trẻ em được sinh ra nhưng không biết cha, mẹ đẻ là ai, hoặc bị chính
cha, mẹ đẻ chối bỏ, không công nhận. Do vậy nhóm em xin được chọn đề tài
“Đánh giá chế định xác định cha, mẹ, con theo Luật hôn nhân và gia đình năm
2014” cho bài tập nhóm.
B-

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Khái quát về chế định xác định cha, mẹ, con
Dưới góc độ sinh học – xã hội: Xác định cha, mẹ cho con là việc nghiên cứu,
tìm kiếm, nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông
qua sự kiện sinh đẻ.
I-

1

1.1.
Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên
Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên : con được sinh ra trong
trường hợp này có thể là sinh ra do cha, mẹ là vợ chồng hợp pháp, cũng có thể
không.
a. Xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp cha mẹ là vợ chồng (con
trong giá thú)
Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp cha, mẹ là vợ chồng là dựa theo
nguyên tắc suy đoán pháp lý được quy định ở Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014. Cũng giống như Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, các nhà làm luật
đã quy định nội dung nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con trong
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 khác với pháp luật dưới chế độ cũ. Các nhà
làm luật dưới chế độ cũ đã quy định về « thời kỳ thụ thai pháp định » là cơ sở cho
2


việc suy đoán quan hệ cha-con, mẹ-con, với nội dung cụ thể : « Đứa trẻ thành thai
trong thời kỳ giá thú có cha là chồng người mẹ. Được coi là thụ thai trong thời kỳ
giá thú trẻ nào sinh quá 180 ngày kể từ khi kết hôn hoặc không quá 300 ngày sau
khi hôn thú đoạn tiêu ». Còn Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, trên cơ sở kế
thừa quy định tại Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và có sự sửa đổi,
bổ sung thêm. Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014quy định :
« 1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn
nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân
được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung
của vợ chồng .
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải
được Tòa án xác định. »

thể là do người vợ đã có thai từ trước thời kì hôn nhân, cũng có thể là khoảng thời
gian người vợ có thai và sinh con đều trong khoảng thời gian của thời kỳ hôn nhân.
Về nguyên tắc, đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ này sẽ được xác định là con
chung của vợ chồng : « Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân … là con chung của vợ
chồng », dù cho đứa trẻ do người vợ đã có quan hệ với người chồng mà có thai
hoặc do người vợ có quan hệ với người đàn ông khác mà có thai và sinh ra. Đồng
nghĩa rằng, với đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ này thì người chồng của mẹ đứa trẻ sẽ
được xác định là cha của đứa trẻ đó. Quy định này kế thừa quy định của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000. Nhiều ý kiến cho rằng, việc quy định như vậy với
những trường hợp người vợ do có quan hệ ngoại tình với người khác rồi có thai và
đứa trẻ được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, đứa trẻ được suy đoán là con của
người chồng của mẹ đứa trẻ thì mặc nhiên đã phủ định quyền làm cha đứa trẻ của
người đàn ông mà người mẹ đã có quan hệ sinh lý nhưng không phải chồng người
mẹ. Ngược lại, người chồng hợp pháp của người mẹ lại phải gánh những nghĩa vụ
pháp lý với người mà thực tế không phải là con ruột của mình, mà đáng nhẽ ra,
nghĩa vụ đó phải thuộc về người đàn ông đã có quan hệ thông gian, ngoại tình với
người vợ của người chồng đó.
Trên thực tế còn có những trường hợp người vợ sau khi đã chấm dứt hôn
nhân với người chồng rồi mới sinh con. Do đó, trên cơ sở Điều 63 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có sự sửa đổi, bổ sung
thêm quy định : « Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm
dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân ».
Theo đó, đứa trẻ được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm hôn
nhân chấm dứt cũng được xác định là con chung của hai vợ chồng, người chồng
của mẹ đứa trẻ đã chết, hoặc đã ly hôn được suy đoán là cha của đứa trẻ đó. Con
sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là
con chung trong giá thú của hai vợ chồng. Quy định này đảm bảo ổn định quan hệ
cha mẹ và con, đồng thời giúp cho người phụ nữa yên tâm thực hiện thiên chức
làm mẹ của mình.
Tuy nhiên, có những trường hợp quan hệ hôn nhân chấm dứt trước pháp

thể người chồng chứng minh mình đã đi công tác xa trong khoảng thời gian người
vợ có khả năng thụ thai đứa con đó, hoặc có trường hợp người chồng mặc bệnh vô
sinh, bị bất lực về sinh lý, cũng có thể trưng cầu giám định về gen…….. nếu người
chồng có đầy đủ bằng chứng để chứng minh đứa trẻ do người vợ sinh ra không
phải con mình thì có quyền không thừa nhận đứa trẻ đó là con. Cũng có trường hợp
người mẹ không thừa nhận đứa trẻ là con mình vì nghi ngờ đứa trẻ đã bị tráo đổi,
thì người vợ cũng phải đưa ra được những chứng cứ xác thực để chứng minh điều
đó. Ngược lại, nếu chỉ vì nghi ngờ, người chồng hoặc người vợ không chứng minh
được thì Tòa án vẫn buộc họ phải thừa nhận đứa trẻ mà người vợ đã sinh ra là con
chung của hai vợ chồng. Và Tòa án phải hết sức thận trọng trong việc điều tra,
đánh giá chính xác trước khi có kết luận để giải quyết các trường hợp này.
Với quy định tại Khoản 2 này đã lí giải cho sự thắc mắc của một số ý kiến
khi nói đến quyền và nghĩa vụ của người chồng được xác định là cha của đứa trẻ
do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân.
Ngoài ra, với người con, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có những quy định
đảm bảo quyền lợi cho họ trong việc được nhận cha, mẹ của mình. Điều 90 quy
định :
«1. Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.
2.Con đã thành niên nhận cha không cần phải có sự đồng ý của mẹ ; nhận mẹ,
không cần phải có sự đồng ý của cha . »
5


b. Xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp cha, mẹ không phải là vợ chồng
(con ngoài giá thú)
Con ngoài giá thú là con mà cha, mẹ không phải là vợ chồng hợp pháp, hoặc
tuy cha, mẹ ăn ở, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật
thừa nhận là vợ chồng. Bao gồm các trường hợp sau:
+ Người mẹ không có chồng mà sinh con ;
+ Người mẹ có chồng nhưng ngoại tình có con với người khác ;

đứa con;
+ Sau khi sinh đứa con, người này đã thăm nom, chăm sóc đứa con như là con của
mình;
6


+ Có những thư từ mà người này viết xác nhận đứa con do người phụ nữ đó sinh ra
là con của họ.
Với các chứng cứ nêu trên cho thấy, hiện nay luật chủ yếu chỉ căn cứ vào thời
gian người phụ nữ có thể thụ thai, người phụ nữ đó có quan hệ với người đàn ông
bị nghi vấn là cha của đứa trẻ hay không. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
chưa có điều luật nào quy định cụ thể việc xác định cha mẹ cho con khi cha mẹ
đứa trẻ không phải vợ chồng. Vì vậy, có thể quy định thêm các biện pháp y học cần
thiết, điều này sẽ làm tăng độ chính xác trong việc xác định quan hệ cha mẹ và con
nói chung, đặc biệt là xác định quan hệ cha con đối với con ngoài giá thú. Thực tế
giải quyết các tranh chấp về xác định cha, mẹ và con ngoài giá thú rất phức tạp,
gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Người thẩm phán giải quyết vụ việc đòi hỏi phải
là người có trình độ pháp luật, vốn sống, kinh nghiệm thực tế, am hiểu và nắm
được các đặc tính về tâm lý của đương sự. Đồng thời trong quá trình điều tra, thu
thập chứng cứ, cần kết hợp với các biện pháp khác như giám định y học: thử máu,
khả năng sinh lý và đặc biệt là giám định về gen khi có yêu cầu…
1.2.
Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai bằng kĩ thuật hỗ trợ
sinh sản
Các cặp vợ chồng hiếm muộn ngày nay, thay vì xin con nuôi, có xu hướng nhờ
y học hỗ trợ sinh con. Điều này phát sinh những vấn đề pháp lý gây tranh cãi, như
việc xác định cha mẹ cho con, giải quyết tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp
đồng mang thai hộ. Xuất phát từ thực tế và kế thừa Luật hôn nhân và gia đình năm
2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có những thay đổi và tiến bộ khi đã
thừa nhận cũng như quy định cụ thể về việc xác định cha mẹ cho con trong trường

5. Việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải tuân theo quy trình kỹ
thuật; quy định tiêu chuẩn sức khỏe của người được thực hiện kỹ thuật thụ tinh
trong ống nghiệm, mang thai và sinh con do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.”
Như vậy, theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP thì đã quy định rõ điều kiện để
áp dụng các biện pháp sinh sản bằng kĩ thuật sinh sản. Việc sinh con bằng phương
pháp hỗ trợ sinh sản sẽ phát sinh một số vấn đề sau:
Đối với trường hợp vợ chồng sử dụng noãn và tinh trùng của hai người để
thực hiện việc sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản, thì đứa trẻ sinh ra sẽ chính là
con của họ.
Đối với trường hợp, vợ chồng thực hiện việc sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ
sinh sản mà phải sử dụng noãn hoặc tinh trùng hoặc phôi của người khác, thì việc
xác định cha mẹ của đứa trẻ như sau: Trẻ ra đời do thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ
sống độc thân. Người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh hoặc người phụ nữ sống độc
thân sinh ra đứa trẻ do thực hiện kĩ thuật hỗ trợ sinh sản được xác định là mẹ của
đứa con được sinh ra.
Như vậy, trường hợp hai vợ chồng (nhận tinh trùng, hoặc nhận noãn) để
thực hiện sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản, thì đứa trẻ phải được sinh
được xác định là con của họ (pháp luật không công nhận người cho tinh trùng,
hoặc cho noãn là cha, mẹ của đứa trẻ).
Khác với trường hợp sinh con trong trường hợp sinh đẻ tự nhiên thì đứa con
sinh ra trong trường hợp sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản có thể không
cùng huyết thống với cha mẹ nó. Việc sinh con theo phương pháp khoa học không
chỉ áp dụng trong nội bộ cặp vợ chồng vô sinh mà còn liên quan đến người thứ ba.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định cha, mẹ, con. Việc thực hiện các
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có sự tham gia của các yếu tố sinh học bên ngoài chỉ được
thực hiện khi không thực hiện sinh sản được bằng các hỗ trợ thông thường, do vậy
đứa con sinh ra có thể mang mã gen của bố hoặc mẹ hoặc của cả hai người. Đây là
một vấn đề hất sức phức tạp vì vậy thủ tục phải thật rõ ràng.
8

năm 2014 của nước ta đã bổ sung về vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ,
ấm no hạnh phúc ở Việt Nam, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân,
đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Như
vậy, Luật Hôn nhân và gia đình đã chính thức thừa nhận và cho phép mang thai
hộ với mục đích nhân đạo (cụ thể từ Điều 93 đến Điều 98), song phải được thực
hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.
Luật được thông qua dựa trên nguyên tắc “người mang thai hộ phải là người
thân thích cùng hàng để ngăn ngừa tình trạng thương mại hóa việc mang thai
hộ”. Theo Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người được nhờ
mang thai hộ phải có đủ điều kiện sau:
“1. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự
nguyện của các bên và được lập thành văn bản.
9


2. Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang
thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
b) Vợ chồng đang không có con chung;
c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;
b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;
c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng
mang thai hộ;
d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng
văn bản của người chồng;
đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
4. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp

Để hạn chế những tranh chấp có thể phát sinh trong việc mang thai hộ, dự
luật cũng quy định về quyền và nghĩa vụ của người mang thai hộ, trong đó đáng
chú ý là các quy định như không có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ hỗ trợ tài
sản hoặc thu nhập cho việc mang thai, kể cả hỗ trợ cho việc chăm sóc thai; phải
thực hiện đúng cam kết về việc giao con cho bên nhờ mang thai hộ; có nghĩa vụ
tôn trọng bí mật đời tư, các quyền riêng tư khác, danh dự, nhân phẩm, uy tín của
bên nhờ mang thai hộ...Luật cũng quy định rõ về Quyền, nghĩa vụ của bên mang
thai hộ vì mục đích nhân đạo và Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục
đích nhân đạo tại Điều 97 và Điều 98 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi cũng có các điều khoản để giải
quyết những rắc rối phát sinh. Đáng chú ý là việc sinh con do mang thai hộ không
tính vào số con (của người mang thai hộ) theo chính sách dân số kế hoạch hóa gia
đình. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con, thì bên mang thai
hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con. Trong trường
hợp bên mang thai hộ từ chối giao con, thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu
Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ
chết, thì con được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang
thai hộ…
Giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản,
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ. Trong
trường hợp bên nhờ mang thai hộ không còn mà bên mang thai hộ không nhận
nuôi đứa trẻ, thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho đứa trẻ theo quy định của Bộ
luật dân sự. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không nhận con và bên mang
thai hộ không tự nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ, thì Tòa án chỉ định người
giám hộ cho đứa trẻ, bên nhờ mang thai hộ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng cho con.
Việc bổ sung quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thể hiện tính nhân
văn sâu sắc, đáp ứng nhu cầu làm cha mẹ chính đáng của các cặp vợ chồng mà
người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh

nhân và gia đình năm 2000 việc xác định quan hệ cha, mẹ, con do Tòa án tiến
hành. Theo thẩm quyền giải quyết của ủy ban nhân dân theo thủ tục đăng ký về hộ
tịch khi không có tranh chấp về việc xác định cha, mẹ, con: “Uỷ ban nhân dân cấp
xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện
việc đăng ký việc nhận cha, mẹ, con nếu bên nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con
còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con và việc nhận cha, mẹ, con là tự
nguyện và không có tranh chấp” (Điều 32, 33 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày
27/12/2005 của Chính Phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch). Và theo Điều 8 Nghị
định Số: 06/2012/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ
tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực: “Điều 32. Điều kiện đăng ký việc nhận
cha, mẹ, con
1. Việc nhận cha, mẹ, con theo quy định tại Mục này được thực hiện, nếu bên
nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha,
mẹ, con và việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp giữa
những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc nhận cha, mẹ, con.
2. Người con đã thành niên hoặc người giám hộ của người con chưa thành niên
hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự cũng được làm thủ tục
nhận cha, mẹ theo quy định tại Mục này, trong trường hợp cha, mẹ đã chết; nếu
12


việc nhận cha, mẹ là tự nguyện và không có tranh chấp giữa những người có
quyền và lợi ích liên quan đến việc nhận cha, mẹ.”
Thủ tục đăng kí việc nhận cha, mẹ con được quy định tại Điều 34 Nghị định
158/2005/NĐ-CP:
“1. Người nhận cha, mẹ, con phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường
hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện
đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực
hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Kèm theo Tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.
13


2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có
tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường
hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.
Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng
ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ
xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự.”
Như vậy, dựa trên tính chất của quan hệ xác định cha, mẹ, con có tranh chấp
hay không có tranh chấp là cơ sở để xác định cơ quan có thẩm quyền xác định cha,
mẹ, con. Tuy nhiên, việc xác định thẩm quyền giải quyết loại việc này từ góc độ
thực tiễn đã và đang phản ánh những bất cập và khó khăn liên quan đến cách hiểu
và vận dụng điều luật cũng như những quy định còn “bỏ ngỏ” trong Luật dẫn đến
những lúng túng nhất định trong việc xác định thẩm quyền, thủ tục tố tụng và
nghĩa vụ chứng minh…
3. Hậu quả pháp lí của việc xác định cha, mẹ, con
Việc xác định cha, mẹ, con là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm song lại rất cần
thiết, việc xác định đó không chỉ có ý nghĩa đối với cá nhân từng chủ thể mà còn
mang ý nghĩa pháp luật và xã hội sâu sắc. Quyền làm cha, làm mẹ và quyền làm
con là vô cùng thiêng liêng và quan trọng, vì vậy việc xác định cha, mẹ, con nhằm
xác định thân phận của các chủ thể, góp phần ổn định các mối quan hệ trong gia
đình nói riêng và các mối quan hệ ngoài xã hội nói chung. Việc xác định cha, mẹ,
con sẽ đảm bảo cho trẻ em một mái ấm gia đình thực sự, được chăm sóc, nuôi
dưỡng và giáo dục một cách tốt nhất, được đảm bảo cả về mặt vật chất lẫn tinh
thần giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực.
Việc xác định cha, mẹ, con một cách chính xác cũng là cơ sở cho việc tuân thủ
Hiến góp phần xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, xóa bỏ sự kì thị, phân biệt đối với


Bên trên là toàn bộ đánh giá của nhóm em về chê định xác nhận cha mẹ con theo
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bài làm không tránh khỏi những thiếu xót
nhất định, mong thầy cô bổ sung và giúp đỡ nhóm em.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
-

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, NXB Lao động
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, NXB Lao động
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình , NXB
Công an nhân dân, năm 2009.
Nghị định của Chính phủ số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng kí
và quản lí hộ tịch;
15


-

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Nghị định Số: 06/2012/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị
định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực
http://danluat.thuvienphapluat.vn/thuc-tien-xac-dinh-cha-me-con-va-nhungvan-de-can-trao-doi-106374.aspx
http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/213927/mang-thai-ho--cua-da-mo-nhung-moi--he--.html
http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?
co_id=28340784&cn_id=694825
http://doc.edu.vn/tai-lieu/tieu-luan-xac-dinh-quan-he-cha-me-con-ly-luanva-thuc-tien-ap-dung-tai-dia-ban-tinh-nghe-an-37575/

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status