ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
LÊ VĂN CƢỜNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA ĐỘ ẨM NGÔ TRONG CHẾ BIẾN
THỨC ĂN CHĂN NUÔI ĐẾN TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY
CỦA LỢN TỪ 21 - 60 NGÀY TUỔI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIÊN HỢP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Lớp: K43 - TY
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Nguyễn Hƣ̃u Hòa
Thái Nguyên, năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa
Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn và sự nhất chí của ban lãnh đạo công
ty CP Thiên Hợp, em thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của độ ẩm ngô trong chế biến thức ăn chăn nuôi đến tình hình mắc hội chứng
tiêu chảy của lợn từ 21-60 ngày tuổi tại công ty CP Thiên Hợp”
Qua sáu tháng thực tập tại cơ sở cũng như trong suốt thời gian học tập tại
sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn thầy giáo Th.s Nguyễn Hữu Hòa tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm ngô trong chế
biến thức ăn chăn nuôi đến tình hình mắc hội chứng tiêu chảy của lợn từ 21-60
ngày tuổi tại công ty CP Thiên Hợp”
Do thời gian và trình độ còn hạn chế, bước đầu còn bỡ ngỡ với công tác
nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để bản khóa luận
được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Sơ đồ bố theo dõi thí nghiệm.......................................................... 28
Bảng 4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 32
Bảng 4.2. Tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn sử dụng thức ăn sau 15 ngày
sản xuất ............................................................................................ 33
Bảng 4.3. Tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn sử dụng thức ăn sau 30 ngày
sản xuất ............................................................................................ 33
Bảng 4.4. Tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn sử dụng thức ăn sau 45 ngày
sản xuất ............................................................................................ 35
Bảng 4.5. Tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn sử dụng thức ăn sau 15 ngày
sản xuất ............................................................................................ 37
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn sử dụng thức ăn sau 30 ngày
sản xuất ............................................................................................ 39
Bảng 4.7. Tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn sử dụng thức ăn sau 45 ngày
sản xuất ............................................................................................ 40
Cs:
Cộng sự
Nxb:
Nhà xuất bản
STT:
Số thứ tự
vi
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài......................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn .............................................. 3
2.1.2. Đặc điểm tiêu hóa ở lợn .......................................................................... 9
2.1.3 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy............................................... 13
2.1.4. Cơ chế sinh bệnh ................................................................................... 22
2.1.5.Triệu chứng ............................................................................................ 23
5.2 Đề nghị ...................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đã và đang phát triển mạnh
mẽ, góp phần không nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế chung của cả nước.
Đặc biệt, ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí rất quan trọng, nó không chỉ
cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao mà còn cung cấp nguồn
phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt. Ngoài ra các sản phẩm phụ như da, mỡ
lợn là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Lợn là loài động vật có khả năng thích ứng với mọi hoàn cảnh chăn
nuôi, khả năng sản xuất tốt, thịt lợn là thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng
cao và hợp với khẩu vị của đại đa số người tiêu dùng.
Việc phát triển chăn nuôi lợn đã đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội,
giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân giúp xoá đói giảm nghèo,
nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, để cung cấp con giống tốt cho nhu
cầu chăn nuôi của các nông hộ và các trang trại, cũng như để tăng khả năng
cạnh tranh của sản phẩm thịt lợn trên thị trường nội địa hay xuất khẩu ra nước
ngoài đáp ứng các tiêu chuẩn chung vế chất lượng thì việc nghiên cứu tìm ra
các biện pháp chăn nuôi khoa học hạn chế dịch bệnh là rất cần thiết.
Hiện nay, trên thị trường các loại thức ăn chăn nuôi được bày bán một
cách tràn lan. Nhiều loại thức ăn đã hết hạn sử dụng hoặc có những loại thức
ăn chất lượng kém, hàm lượng chất dinh dưỡng không đúng như in trên bao bì
nhưng vẫn được bày bán một cách công khai trên thị trường.
Mặt khác, các nguyên kiệu để sản xuất thức ăn cũng luôn biến động về
3
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn
Mục đích cuối cùng của người chăn nuôi là hiệu quả kinh tế. Để xây
dựng được khẩu phần ăn tiêu chuẩn cho lợn ở từng giai đoạn sinh trưởng khác
nhau, phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của con vật. Ta cần nghiên cứu các
đặc điểm sinh trưởng của lợn, từ đó có cơ sở khoa học để tác động vào quá
trình sinh trưởng của chúng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Khái niệm sinh trưởng:
Theo Chambers (1990) [18], sinh trưởng là quá trình sinh lý sinh hóa
phức tạp duy trì từ phôi thai được hình thành cho đến khi con vật thành thục
về tính. Như vậy, ngay từ khi còn là phôi thai, quá trình sinh trưởng đã được
khởi động.
Theo Johansson (1972) [9], đã đưa ra khái niệm: Về mặt sinh học sinh
trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta lấy việc
tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng. Tuy nhiên cũng có khi
tăng khối lượng không phải là sinh trưởng (ví dụ như tăng khối lượng không
phải là sinh trưởng mà là tăng mỡ và nước chứ không phải là sự phát triển của
mô cơ), ông cho rằng cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn
sau khi sinh có ảnh hưởng đến sự phát triển của con vật.
Khái niệm phát dục:
Khi nghiên cứu về sinh trưởng, ta không thể không đề cập đến quá trình
phát dục. Đây là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm, hoàn thiện thêm
về tính chất, chức năng của các bộ phận cơ thể.
5
Giai đoạn tiền thai tính từ ngày 23 - 39 hình thành hầu hết cơ quan bộ
phận trong cơ thể. Giai đoạn thai từ ngày 40 - đẻ là giai đoạn phát triển nhanh
về kích thước và khối lượng của thai.
+ Giai đoạn ngoài thai được chia thành các thời kỳ: bú sữa, thành thục,
trưởng thành và già cỗi. Lợn con mới sinh ra chưa thành thục về sinh lý và thể
vóc, có rất nhiều sự thay đổi diễn ra trong thời kỳ đầu tiên sau khi sinh để phù
hợp với cuộc sống của chúngsau này. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi
đó là: khối lượng sơ sinh và số con đẻ ra trên ổ, hàm lượng đường glucoza
trong máu, vấn đề điều tiết thân nhiệt, khả năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn,
sự thay đổi về thành phần hóa học của cơ thể theo tuổi… đây là những thay
đổi quan trọng trong những ngày đầu tiên của lợn sau khi sinh, cần phải được
nghiên cứu đầy đủ và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng của
lợn. Đối với lợn nái chúng ta phải tìm cách kéo dài thời kỳ trưởng thành để
lợn cho nhiều sản phẩm nhất.
Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều:
Không đồng đều về khả năng tăng khối lượng: lúc còn non khả năng
tăng khối lượng của lợn chậm. Sau đó khối lượng tăng dần, tùy theo từng
giống lợn khác nhau mà tốc độ tăng trưởng khác nhau. Điều quan trọng nhất
là các nhà chăn nuôi phải biết thời điểm lợn sinh trưởng nhanh nhất để kết
thúc vỗ béo thích hợp, giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi.
Không đồng đều về sự phát triển của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể:
Trong quá trình sinh trưởng và phát dục của cơ thể, lợn có những cơ quan
phát triển nhanh, có những cơ quan phát triển chậm hơn. Ví dụ đối với lợn
con thì hệ tiêu hóa, hệ cơ xương phát triển nhanh hơn hệ sinh dục.
Không đồng đều về sự tích lũy của các tổ chức mỡ, nạc, xương: sự phát
triển của bộ xương có xu hướng giảm dần theo tuổi (tính theo sinh trưởng
tương đối) của lợn giữ ở mức độ bình thường trong giai đoạn đầu sau khi
Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng ảnh
hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn.
7
Quá trình sinh trưởng phát dục tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu
ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau. Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và
hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau đó. Sự khác nhau này không
những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình
thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống lợn
có hướng sản xuất khác nhau như giống lợn hướng nạc, lợn hướng mỡ.
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục là quá trình trao
đổi chất trong cơ thể. Qúa trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của
các hormone. Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế
bào và giữ cân bằng các chất trong máu. Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình
sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của
tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng. Về sau quá trình sinh trưởng
có sự tham gia của tuyến yên. Hormon của thùy trước tuyến yên STH là loại
hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể. Khi thiếu hoặc thừa loại
hormon này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé hoặc quá to. Thùy giữa tuyến yên
cũng tiết ra các hormon tham gia vào quá trình chuyển hóa trong cơ thể, chủ
yếu là chuyển hóa mỡ và sự chuyển hóa glycogen ở trong gan. Ngoài ra các
loại hormon của tuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia vào sự điều
tiết của bộ xương và cơ.
Các yếu tố bên ngoài: Thức ăn dinh dưỡng, nhiệt độ và ẩm độ môi
trường, ánh sáng, các yếu tố khác. Trong đó thức ăn đóng vai trò quan trọng.
+ Thức ăn dinh dưỡng
Trong chăn nuôi thức ăn ảnh hưởng đến toàn bộ sự sống và sức sản
xuất của vật nuôi, sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi chịu tác động trực
con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng
sẽ giảm từ 8,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9%, so với lợn con được vận động
dưới ánh sáng mặt trời (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [13].
9
Đối với lợn vỗ béo nhu cầu về ánh sáng thấp hơn, đặc biệt sau khi lợn ăn
xong. Trong thực tế ở một số trang trại người ta đã giảm cường độ chiếu sáng
xuống mức tối thiểu cho lợn vỗ béo, đặc biệt cho các giống lợn cao sản và cũng
không có phát hiện nào về ảnh hưởng của thiếu ánh sáng đối với lợn vỗ béo.
+ Các yếu tố khác:
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn đã nêu
trên còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng,
tiểu khí hậu chuồng nuôi như tốc độ gió lùa, không khí, nồng độ các khí
thải… nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại
lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn đạt mức tối đa.
2.1.2. Đặc điểm tiêu hóa ở lợn
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], chức năng tiêu hóa của lợn con
mới sinh ra chưa có hiệu lực cao. Trong giai đoạn theo mẹ, chức năng tiêu hóa
được hoàn thiện dần. Quá trình tiêu hóa ở lợn được biểu hiện như sau:
* Tiêu hóa ở miệng
Ở miệng của lợn quá trình tiêu hóa diễn ra chủ yếu dưới hai hình thức:
cơ học (quá trình nhai thức ăn) và hóa học (do tác dụng của men tiêu hóa
trong nước bọt).
Động tác ăn của lợn là dùng mõm lấy thức ăn, vừa ăn vừa nhai và vừa
nuốt liên tục. Khi ăn thức ăn dạng bột, khô động tác ăn chậm hơn vì phải nhai
để tẩm ướt thức ăn mới nuốt được.
Tác dụng của nước bọt là dễ nhai dễ nuốt thức ăn, các men trong nước
bọt (amilaza và maltaza) có ý nghĩa quan trọng trong tiêu hóa tinh bột. Dưới
dịch vị là men pepsin, chymosin, lipaza và HCl.
HCl có hai dạng: dạng tự do và dạng liên kết với dịch nhầy, nhưng chỉ
có HCl tự do mới có tác dụng trong quá trình tiêu hóa. HCl có tác dụng hoạt
hóa men pepsin không hoạt động thành dạng hoạt động.
11
Sự phân tiết HCl nhiều hay ít có ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa của
lợn. Khi lợn còn nhỏ HCl chủ yếu dưới dạng liên kết, lợn càng lớn HCl ở
dạng tự do tăng càng nhanh. Ngoài ra HCl còn có tác dụng:
+ HCl làm trương nở protein thuận lợi cho pepsin tác dụng.
+ Làm tan collagen trong mô liên kết bao bọc quanh các mô cơ tạo điều
kiện cho emzyme phân giải protein cơ.
+ Tạo pH cần thiết cho pepsin hoạt động, pepsin hoạt động tốt trong
môi trường axit với pH = 1,5 - 2,5.
+ Diệt khuẩn: Nhờ tác dụng này mà các vi khuẩn lẫn trong thức ăn bị
tiêu diệt, bình thường môi trường dạ dày là vô khuẩn.
+ Kích thích tiết dịch tụy thông qua cơ chế làm tăng tiết secretin ở niêm
mạc tá tràng, chất này ngấm vào máu đi tới tuyến tụy gây tăng tiết.
+ Kích thích đóng mở cơ vòng hạ vị: Ở hạ vị thức ăn có độ axit cao do
thấm HCl kích thích làm mở cơ vòng, thức ăn xuống tá tràng HCl lại kích
thích lên cơ vòng hạ vị làm nó đóng lại một cách phản xạ.
Mem pepsin là men chủ yếu của dịch vị. Khi mới tiết ở dạng không
hoạt động gọi là pepsinogen. Dưới tác dụng của HCl mới chuyển thành pepsin
hoạt động.
Men chymosin: Có tác dụng làm ngưng kết sữa. Ở lợn con đang bú sữa
men chymosin nhiều hơn pepsin vì nó liên quan đến dinh dưỡng sữa.
Men lipaza dạ dày hoạt động yếu, phân giải mỡ trung tínhthành axit
béo và glixerin.
hàng trăm lần. Lợn trưởng thành có thể đạt tới 150 m2 các vi nhung mao.
Sau 1 tháng tuổi, tiêu hóa hấp thu các chất dinh dưỡng tiến hành chủ
yếu ở dạ dày, ruột non trong một ngày đêm phân giải 45% gluxit, 50% protit,
20 - 25% đường. Ruột già chủ yếu tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh
tràng phân giải (Từ Quang Hiển, 2003) [4].
13
2.1.3 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy
2.1.3.1. Do vi khuẩn
Khi nghiên cứu về nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy nhiều tác giả
đã kết luận rằng trong bất cứ trường hợp nào của bệnh cũng có vai trò tác
động của vi khuẩn. Trong đường ruột của gia súc nói chung và c ủa lợn nói
riêng, có rất nhiều loài vi sinh vật sinh sống. Vi sinh vật trong đường ruột tồn
tại dưới dạng hệ sinh thái. Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân
bằng động theo hướng có lợi cho cơ thể vật chủ. Hoạt động sinh lý của gia
súc chỉ diễn ra bình thường khi mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái
cân bằng. Sự cân bằng này biểu hiện ở sự ổn định của môi trường đường tiêu
hóa của con vật và quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật với nhau trong
hệ vi sinh vật đường ruột. Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái
cân bằng này bị phá vỡ dẫn đến loạn khuẩn và hậu quả là lợn bị tiêu chảy .
Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng khi gặp
những điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hóa sẽ
tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh.
- Các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy chủ yếu là:
+ Escherichia coli (thường được viết tắt là E. coli) hay còn được gọi
là vi khuẩn đại tràng là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong
đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm chim và động vật có vú). Vi
khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn và là thành phần
Nhiệt độ phát triển từ 5-45oC, thích hợp ở 37oC, pH thích hợp = 7,6
nhưng nó có thể phát triển được ở pH từ 6-9 . Với pH >9 hoặc < 4,5 vi khuẩn
có thể bị tiêu diệt, khả năng chịu nhiệt của vi khuẩn kém: ở 50oC trong 1 giờ,
ở 70o C trong 15 phút và 100o C trong 5 phút.
Ở nồng độ muối 6-8% vi khuẩn phát triển chậm và ở nồng độ muối là
8-19% sự phát triển của vi khuẩn bị ngừng lại. (Nguyễn Như Thanh và cs,
2004) [25].
15
Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [17] cho biết, bệnh tiêu chảy ở lợn do vi
khuẩn chủ yếu có những bệnh sau:
* Nguyên nhân do vi khuẩn E.coli
E.coli thuộc họ trực khuẩn Enterobacteriaceae, giống Escherichia.
E.coli là một trực khuẩn hình gậy ngắn, bắt màu Gram âm, sống trong điều
kiện hiếu khí, yếm khí , phần lớn di động. Chúng phát triển dễ dàng trên các
môi trường nuôi cấy thông thường.
Các yếu tố gây bệnh của E.coli: Yếu tố bám dính, khả năng dung huyết,
độc tố đường ruột (Enterotoxin).
+ Yếu tố bám dính: Kháng nguyên (yếu tố) bám dính K88 (F4) là một
trong những yếu tố gây bệnh đầu tiên, quan trọng của các chủng E.coli độc.
+ Khả năng dung huyết: Dung huyết là một yếu tố độc lực quan trọng
của các chủng E.coli gây tiêu chảy ở lợn.
+ Độc tố đường ruột: Enterotoxin của E.coli quyết định mức độ tiêu
chảy của lợn (Trương Quang và Cs, 2007) [21].
*Nguyên nhân do Salmonella
Salmonella thuộc họ trực khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, là một
loại vi khuẩn có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, không hình thành nha bào, giáp mô.
Đa số Salmonella có khả năng di động, bắt màu Gram âm, vừa hiếu khí vừa kỵ
Lan, 1987... (Niconxki, 1986 [36], Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [9]) Virut TGE
gây bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm ở lợn, là một bệnh có tính chất
truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng.
Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh. Ở
lợn, virus nhân lên mạnh nhất trong niêm mạc của không tràng và tá tràng rồi
đến hồi tràng.
b. Bệnh tiêu chảy truyền nhiễm ở lợn (PED)
- Bệnh PED do một loại Coronavirus có tên CV777 gây ra. Bệnh xảy ra
với lợn mọi lứa tuổi. Đặc tính kháng nguyên của loại virus này hoàn toàn
17
khác kháng nguyên của virus gây bệnh TGE. Thể bệnh PED giống như thể
bệnh TGE, nhưng nhẹ hơn vì bệnh PED chỉ gây chết khoảng 60% lợn con
dưới 21 ngày tuổi, 15% lợn vỗ béo (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [9].
- Lợn mắc PED thường có triệu chứng nôn mửa, con vật có biểu hiện
đau bụng. Virus phá huỷ lông nhung của ruột (đặc biệt là không tràng và hồi
tràng). Lợn bỏ ăn uống nhiều nước, thích nằm chúi đầu vào nhau.
- Mổ khám thấy ruột non mỏng, ruột bị căng phồng chứa nhiều
nước màu vàng.
c. Bệnh do Rotavirus
- Bệnh tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra ở lợn đang bú từ 1 tới 6
tuần tuổi và cao nhất ở lợn khoảng 3 tuần tuổi.
- Nguyên nhân có thể do lúc 3 tuần tuổi lượng kháng thể ở sữa mẹ
giảm, cùng với lợn vừa tập ăn đã tạo điều kiện cho bệnh xảy ra.
- Biểu hiện đặc trưng của bệnh là lợn đi ỉa phân màu trắng hoặc vàng,
lúc bị bệnh phân lợn lỏng như nước, sau đó vài giờ hoặc 1 ngày phân sẽ đặc
hơn và có dạng như kem rồi keo quánh trước khi trở lại bình thường.
- Lợn tiêu chảy gầy sút rõ rệt, lông xù. Sau khi khỏi bệnh lợn còi cọc,