BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN PHI TRINH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA
CÁC NHÂN TỐ THUỘC VỀ QUẢN TRỊ CÔNG
TY ĐẾN TÍNH KỊP THỜI CỦA BÁO CÁO TÀI
CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP. HCM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HUỲNH LỢI
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao
chép của bất kỳ ai. Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu,
thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục
tài liệu của luận văn.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015
Nguyễn Phi Trinh
yết. 20
2.3 Tổng quan lý thuyết về Quản trị công ty ...........................................................22
2.3.1 Khái niệm quản trị công ty ...............................................................................22
2.3.2 Khuôn khổ quản trị công ty ..............................................................................23
2.3.3 Mô hình quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam. ............................................27
2.4 Mô hình nghiên cứu ...........................................................................................31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2..........................................................................................32
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................33
3.1 Thiết kế nghiên cứu. ............................................................................................33
3.1.1 Đo lường tính kịp thời của BCTC ....................................................................33
3.1.2 Giả thuyết về ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về quản trị công ty đến tính
kịp thời của báo cáo tài chính....................................................................................34
3.1.3 Đo lường biến nghiên cứu:...............................................................................39
3.2 Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................42
3.2.1 Quy trình nghiên cứu .......................................................................................42
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu. ...................................................................................43
3.2.3 Thu thập dữ liệu nghiên cứu:............................................................................44
3.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu: .......................................................................45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3..........................................................................................47
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................48
4.1 Phân tích thống kê mô tả .....................................................................................48
4.2 Phân tích hồi quy. ................................................................................................50
4.2.1 Phân tích kết quả các kiểm định. ......................................................................50
4.2.2 Thảo luận kết quả hồi quy ................................................................................55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4..........................................................................................57
CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN.........................................................58
5.1 Các kiến nghị.......................................................................................................58
5.1.1Kiến nghị đối với công ty niêm yết ...................................................................58
Hội đồng quản trị
HNX
Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE
Sở Giao dịch chứng khoán Tp. HCM
IASB
The International Accounting Standards Board
IFC
The International Finance Corporation
OECD
Organization for Economic Cooperation and Development
TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
UBKT
Ủy ban kiểm toán
4.4
Tóm tắt mô hình
4.5
Phân tích phương sai
4.6
Kết quả kiểm định Spearman
Hình vẽ
2.1
Phân biệt quản trị công ty và quản lý công ty
2.2
Cơ cấu quản trị công ty niêm yết
2.3
Mô hình nghiên cứu
3.1
Tóm tắt quy trình nghiên cứu
tin kịp thời theo Thông tư 52/2012/TT-BTC. Tuy nhiên các lỗi vi phạm về chậm
nộp báo cáo tài chính còn khá phổ biến, gây ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của nhà
đầu tư, uy tín và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời giảm tính minh
bạch và sức hút của thị trường vốn trong mắt nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư
nước ngoài. Do đó, chấn chỉnh tính kịp thời của công bố thông tin nói chung và
thông tin báo cáo tài chính nói riêng là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra không chỉ
2
đối với các cơ quan quản lý và nhà làm chính sách mà còn là vấn đề mang tính sống
còn đối với doanh nghiệp. Để làm được điều này, cần phải đánh giá các yếu tố tác
động đến việc chậm công bố thông tin, đề tài nghiên cứu này tuy đã phổ biến ở
nhiều nước trên thế giới nhưng còn khá mới mẻ tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa
và thị trường vốn Việt Nam, nhiều cuộc hội thảo chuyên môn và xếp hạng về quản
trị công ty đã được tổ chức thường xuyên trong những năm gần đây. Tại Hội thảo
Xây dựng lộ trình phát triển quản trị công ty do Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
(HNX) phối hợp với Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tổ chức vào tháng
10/2015 vừa qua, ông Vũ Bằng – Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho rằng
quản trị công ty là vấn đề được nhiều quốc gia chú trọng, nhất là sau kinh nghiệm
rút ra từ các cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á và toàn cầu. Hơn thế nữa, theo ông
Trần Văn Dũng – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc HNX quản trị công ty
không còn là vấn đề cần thiết mà đã trở thành vấn đề cấp thiết (Sở Giao dịch Chứng
khoán Hà Nội, 2015).
Trước nhu cầu cần thiết thực hiện nghiên cứu đánh giá các nhân tố tác động đến
tính kịp thời của báo cáo tài chính và thực tiễn tầm quan trọng của hoạt động quản
trị công ty đối với chất lượng báo cáo tài chính, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu
ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo
tài chính của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh”
tính kịp thời của báo cáo tài chính. Qua đó, nghiên cứu nêu ra các kiến nghị nhằm
tăng cường tính kịp thời của báo cáo tài chính và hiệu quả quản trị công ty.
Mô hình dùng để kiểm định ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về quản trị công
ty được kế thừa từ các nghiên cứu có liên quan.
Các nhân tố tác động trong mô hình nghiên cứu được chọn lọc dựa trên kết quả
nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu đã được công bố và có
liên hệ với thực tiễn quy định về QTCT của Việt Nam cũng như khả năng thu thập,
đo lường biến nghiên cứu nhằm đảm bảo tính khoa học cho đề tài.
4
5.2 Về không gian, thời gian
Về không gian: Các công ty hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính, niêm yết tại
Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. HCM kể từ ngày 31/12/2013 trở về trước.
Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu khảo sát trong năm 2014
6. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu của đề tài, trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu,
nghiên cứu được thực hiện dựa trên cách tiếp cận suy diễn và sử dụng phương pháp
nghiên cứu chủ yếu là phương pháp định lượng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử
dụng phương pháp phân tích, tổng hợp.
Phương pháp phân tích và tổng hợp: khái quát lý thuyết về các vấn đề nghiên
cứu và các nghiên cứu có liên quan, làm cơ sở đề xuất mô hình tác động của các
nhân tố đến tính kịp thời của báo cáo tài chính.
Phương pháp định lượng: được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu nhằm khảo
sát thực trạng các vấn đề cần nghiên cứu và kiểm định chiều hướng tác động, mức
độ tác động của các nhân tố thuộc về quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo
tài chính. Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu.
7. Ý nghĩa của nghiên cứu
Đóng góp về lý thuyết: Tổng quan cơ sở lý thuyết về vấn đề nghiên cứu và mô
nâng cao tính kịp thời của công bố thông tin báo cáo tài chính, đồng thời nâng cao
hiệu quả giám sát của hoạt động quản trị công ty. Ngoài ra, chương này còn đề cập
đến những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai.
6
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.1 Giới thiệu các nghiên cứu liên quan trên thế giới
Vấn đề tính kịp thời của báo cáo tài chính được nghiên cứu đầu tiên ở các nước
phát triển có thị trường chứng khoán tập trung được hình thành lâu đời và hoạt động
mạnh mẽ như nghiên cứu của Dyer and McHugh (1975) và Davies and Whittred
(1980) thực hiện tại Úc; Givoly and Palmon (1982), Bamber et al. (1993),
Henderson and Kaplan (2000) và Abernathy et al. (2014) tại Mỹ; nghiên cứu của
Ashton et al. (1989) tại Canada; Carslaw and Kaplan (1991) tại New Zealand, v.v…
Các nghiên cứu ở các nước đang phát triển được tiến hành muộn hơn, cùng với sự
phát triển của hoạt động kinh doanh quốc tế và thị trường chứng khoán tập trung
như nghiên cứu của Jaggi and Tsui (1999) tại HongKong; Owusu-Ansah (2000) tại
Zimbabwe; Leventis et al. (2005), Owusu-Ansah and Leventis (2006), Afif (2009)
tại Ai Cập; Al-Ajmi (2008) tại Bahrain; Abdulla (2006), Mahamad – Nor et al.
(2010), Hashim and Abdul Rahman (2010), Nelson and Shukeri (2011), WanHussin and Bamahros (2013) tại Malaysia; Tauringana et al. (2008) tại Kenya. Tất
cả các nghiên cứu đều ghi nhận tính kịp thời của báo cáo tài chính là đặc điểm chất
lượng quan trọng của báo cáo tài chính, phản ánh sự minh bạch về công bố thông
tin tài chính.
Givoly and Panman (1982) cho rằng sự biến đổi trong chiều dài của kỳ kiểm
toán độc lập hằng năm là một nhân tố giải thích sự biến đổi của chậm trễ báo cáo;
nghiên cứu nhấn mạnh chiều dài kỳ kiểm toán là nhân tố quan trọng nhất quyết định
tính kịp thời của báo cáo tài chính. Theo Ashton et al. (1989), độ trễ báo cáo đo
lường bởi khoảng cách thời gian từ khi kết thúc năm tài chính cho tới khi công bố
báo cáo và độ trễ kiểm toán đo lường bởi khoảng cách thời gian từ ngày kết thúc
chuẩn lần đầu vào năm 1999. Các nghiên cứu chủ yếu đánh giá ảnh hưởng của ba
khía cạnh thuộc cơ cấu quản trị công ty: Ủy ban kiểm toán (UBKT), Hội đồng quản
trị (HĐQT) và cấu trúc sở hữu lên tính kịp thời của báo cáo kiểm toán độc lập.
Thứ nhất, Ủy ban kiểm toán công ty niêm yết
Ủy ban kiểm toán là thành phần quan trọng trong cơ cấu quản trị của công ty
niêm yết, liên quan tới chất lượng kiểm toán và giám sát báo cáo tài chính (Ika and
8
Ghazali, 2012). Trong thực tế, nhiều điều lệ Ủy ban kiểm toán quy định rõ ràng tính
kịp thời của báo cáo tài chính là trách nhiệm của Ủy ban kiểm toán (Abernathy et
al., 2015). Đây là nhân tố được quan tâm nhiều nhất khi khảo sát tác động của quản
trị công ty đến chất lượng công bố thông tin nói chung và tính kịp thời của báo cáo
tài chính nói riêng. Dựa trên kết quả phân tích hồi quy đa biến trên dữ liệu chéo thu
thập từ 85 công ty niêm yết tại Ai Cập trong năm 2008, Afif (2009) kết luận sự hiện
diện của Ủy ban kiểm toán giúp cải thiện tính kịp thời của báo cáo tài chính của các
công ty niêm yết tại Ai Cập. Kết quả phân tích hồi quy của Ika and Ghazali (2012)
thực hiện tại Indonesia cho thấy hiệu quả của Ủy ban kiểm toán công ty tác động
thuận chiều tới tính kịp thời của báo cáo tài chính, rút ngắn thời hạn nộp báo cáo tài
chính đã kiểm toán cho Sở Giao dịch chứng khoán. Trong nghiên cứu này, chỉ số đo
lường hiệu quả của Úy ban kiểm toán được các tác giả phát triển dựa trên khung lý
thuyết của DeZoort et al. (2002). Đa số các nghiên cứu còn lại khảo sát mối liên hệ
giữa từng đặc điểm riêng biệt của Ủy ban kiểm toán công ty như quy mô, tính độc
lập, trình độ chuyên môn về tài chính và số lượng các cuộc họp của thành viên Ủy
ban kiểm toán với tính kịp thời của báo cáo tài chính. Theo Mohamad – Nor et al.
(2010), Nelson and Shukeri (2011) và Apadore and Noor (2013) thì các công ty có
số lượng thành viên Ủy ban kiểm toán càng lớn thì càng kịp thời trong việc công bố
thông tin báo cáo tài chính. Các nghiên cứu này lập luận rằng với sự đa dạng hơn về
kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, sự hiểu biết và các mối quan hệ thì Ủy ban
Vai trò chi phối của Hội đồng quản trị công ty đối với chất lượng báo cáo tài
chính nói chung và tính kịp thời của báo cáo tài chính nói riêng cũng quan trọng
tương tự như vai trò của của Ủy ban kiểm toán (Mohamad – Nor et al., 2010). Ảnh
hưởng của các nhân tố thuộc về Hội đồng quản trị công ty cũng được xem xét trong
nhiều nghiên cứu với các kết luận trái chiều nhau. Sử dụng phương pháp hồi quy
cho dữ liệu bảng, Abdulla (2006) phát hiện tác động tích cực của hội đồng quản trị
độc lập và sự tách biệt hai vị trí chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành
lên tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công ty Malaysia trong giai đoạn
khủng hoảng tài chính (1998); trong giai đoạn sau khủng hoảng (năm 2000) tác giả
chỉ tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ giữa nhân tố sự độc lập của hội đồng quản
trị và tính kịp thời của báo cáo tài chính. Afif (2009) củng cố kết quả nghiên cứu
của Abdulla về ảnh hưởng của hai nhân tố này lên thời hạn phát hành báo cáo kiểm
10
toán của các công ty niêm yết tại Ai Cập. Trong khi đó, Tauringana et al. (2008),
Hashim and Abdul Rahman (2010), Nelson and Shukeri (2011) và Al daoud et al.
(2014) không tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ giữa tỷ lệ thành viên độc lập
không điều hành trong hội đồng quản trị và độ trễ của báo cáo kiểm toán. Mohamad
– Nor et al. (2010) phản ánh mối tương quan thuận yếu giữa tỷ lệ thành viên độc lập
không điều hành trong hội đồng quản trị và độ trễ báo cáo kiểm toán của các công
ty niêm yết tại Malaysia; đồng thời nghiên cứu này cũng không tìm thấy bằng
chứng mối liên hệ giữa quy mô hội đồng quản trị, sự kiêm nhiệm vị trí chủ tịch hội
đồng quản trị lên tính kịp thời của báo cáo tài chính, tương tự với kết quả của các
nghiên cứu Abernathy et al. (2014) và Sultana et al. (2014). Theo Abernathy et al.
(2014), sự tách biệt giữa vị trí chủ tịch hội đồng quản trị và CEO không ảnh hưởng
đến tính kịp thời của công bố thông tin lợi nhuận và báo cáo kiểm toán độc lập của
các công ty niêm yết ở Mỹ. Tuy nhiên, đặc điểm quản trị công ty này có liên quan
đến sự chậm nộp các báo cáo được yêu cầu cho Ủy Ban chứng khoán Mỹ. Ngoài ra,
hữu từ 5% cổ phần của công ty niêm yết trở lên cũng được xem xét trong các
nghiên cứu về công bố thông tin. Theo Al –Ajmi (2008), số lượng cổ đông lớn của
công ty niêm yết tỷ lệ nghịch với thời hạn công bố báo cáo tài chính đã kiểm toán
trên phương tiện báo chí hay trang web của Sở Giao dịch chứng khoán tính từ ngày
kí báo cáo kiểm toán, nhưng không ảnh hưởng đến thời hạn hoàn thành báo cáo
kiểm toán của công ty niêm yết. Ngược lại, căn cứ trên kết quả phân tích thực
nghiệm Apadore and Noor (2013) cho rằng các cổ đông lớn đòi hỏi yêu cầu cao về
chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính cho nên các kiểm toán viên độc lập phải làm
việc nhiều hơn khiến cho thời gian hoàn thành báo cáo kiểm toán bị kéo dài.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả nhận thấy các nghiên cứu thực nghiệm về
ảnh hưởng của quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính đều sử dụng
phương pháp phân tích hồi quy đa biến để kiểm định tác động của các nhân tố thuộc
về quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính. Các biến liên quan đến
đặc điểm liên quan đến công ty niêm yết như tổng tài sản, tình hình tài chính, ngành
nghề hoạt động, loại báo cáo tài chính, loại công ty kiểm toán và loại ý kiến kiểm
toán đóng vai trò biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu. Bên cạnh đó, tuy chứng
minh được mối quan hệ giữa quản trị công ty và tính kịp thời của báo cáo tài chính,
nhưng các nghiên cứu trên còn mắc phải một số điểm hạn chế như: mức độ giải
12
thích của mô hình nghiên cứu đề xuất thấp, tiêu biểu như nghiên cứu của Abdulla
(2006) là 15%, Mohamad – Nor et al (2010) là 19%, Ika and Ghazali (2012) là
22,5%; các biến đại diện cho đặc điểm quản trị công ty chưa toàn diện vì chịu sự chi
phối của việc mức độ công bố thông tin liên quan về quản trị công ty (Al-Ajmi,
2008), thời gian khảo sát của nghiên cứu còn ngắn chỉ trong vòng 1 năm tài chính
(Al-Ajmi, 2008; Afif, 2009; Mohamad – Nor et al., 2010; Nelson and Shukeri,
2011; Ika and Ghazali, 2012), v.v…
1.2 Giới thiệu các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam
báo cáo tài chính.
Nguyễn Trọng Nguyên (2015), trong luận án tiến sĩ “Tác động của quản trị
công ty đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt
Nam” đã đo lường chất lượng thông tin báo cáo tài chính dựa trên 5 đặc tính: thích
hợp, sự trình bày trung thực, có thể hiểu được, có thể so sánh và kịp thời. Trong đó,
tính kịp thời được đo lường bởi thời gian từ khi kết thúc năm tài chính cho đến ngày
công bố báo cáo thường niên, thời gian phát hành báo cáo thường niên càng ngắn
thì tính kịp thời của thông tin càng cao và chất lượng thông tin BCTC càng cao; các
đặc tính còn lại được đo lường theo thang đo Likert 5 điểm. Kết quả thống kê dữ
liệu thu thập của 195 công ty niêm yết trong năm 2012 cho thấy có 58 công ty chậm
nộp báo cáo thường niên chiếm tỷ lệ 29,5%. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho
thấy tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT, thành viên HĐQT độc lập có trình độ về
kế toán, tần suất cuộc họp HĐQT, số lượng thành viên BKS có trình độ chuyên môn
và kinh nghiệm về kế toán tài chính, sự hiện diện của bộ phận kiểm toán nội bộ có
tác động tích cực đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các công ty niêm
yết tại Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày khá đầy đủ về kết quả của các nghiên cứu liên quan trong
nước và trên thế giới liên quan đến đề tài nghiên cứu. Các bài báo và công trình
nghiên cứu được giới thiệu đều đáng tin cậy về mặt khoa học, được đăng tải trên
các tạp chí uy tín hoặc được thẩm định về mặt chuyên môn bởi các chuyên gia trong
lĩnh vực nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên đã chứng
14
minh được ảnh hưởng của Ủy ban kiểm toán, Hội đồng quản trị và cấu trúc sở hữu
công ty đến thời hạn phát hành báo cáo tài chính. Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn
còn tồn tại một số hạn chế về mặt phương pháp nghiên cứu, biến nghiên cứu và kết
luận trái chiều về một số nhân tố ảnh hưởng.
chính, Jaggi and Tsui (1999), Al-Ajmi (2008), vận dụng lý thuyết ủy nhiệm để giải
thích ảnh hưởng cấu trúc sở hữu cổ phần công ty đến tính kịp thời của báo cáo kiểm
toán; Sultana et al. (2014) vận dụng lý thuyết ủy nhiệm để giải thích ảnh hưởng của
các nhân tố thuộc về ủy ban kiểm toán gồm: trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, quy
mô ban kiểm toán đến tính kịp thời của báo cáo tài chính; Abdelsalam and El-Masry
(2008) vận dụng lý thuyết ủy nhiệm để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố sự
kiêm nhiệm vị trí chủ tịch hội đồng quản trị công ty và giám đốc điều hành, cấu trúc
sở hữu cổ phần lên tính kịp thời công bố thông tin tài chính qua mạng internet,
v.v…
2.1.2 Lý thuyết các bên liên quan (stakeholders theory)
Lý thuyết các bên liên quan được khởi xưởng bởi Freeman (1984). Các bên liên
quan phân chia gồm các đối tượng bên ngoài công ty và các đối tượng bên trong
công ty. Các bên liên quan bên ngoài bao gồm cổ đông, nhà cung cấp tín dụng, chủ
nợ, khách hàng và các cơ quan quản lý. Các bên liên quan bên trong bao gồm ban
giám đốc, ban giám sát và nhân viên. Tất cả các bên liên quan đều tham gia vào quá
16
trình điều hành và giám sát thành quả hoạt động của doanh nghiệp nhưng mức độ
ảnh hưởng và mục tiêu của các bên liên quan khác nhau là khác nhau (Dao and
Hoang, 2012). Al-Ajmi (2008) trích dẫn lập luận của Watts and Zimmerman (1990),
lý thuyết các bên liên quan cho rằng, trong trường hợp không có một cơ hội để che
giấu thông tin xấu vì các yêu cầu bắt buộc về công bố thông tin thì yêu cầu công bố
thông tin bắt buộc thì các nhà quản lý có động lực để trì hoãn phát hành. Khi đó, các
nhà quản lý cung cấp cho các nhà đầu tư một "tín hiệu im lặng" và tìm cơ hội để
bán cổ phần trước khi tin tức xấu đến thị trường
2.1.3 Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên (resource dependence theory)
Lý thuyết phụ thuộc tài nguyên được phát triển bởi Pfeffer and Salancik’s
(1978) và là một trong các lý thuyết có ảnh hưởng nhất đến lý thuyết tổ chức và
cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một
doanh nghiệp về: Tài sản; Nợ phải trả; Vốn chủ sở hữu; Doanh thu, thu nhập khác,
chi phí, lãi và lỗ và các luồng tiền thông qua hệ thống báo cáo tài chính gồm: Bảng
cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản
thuyết minh báo cáo tài chính (VAS 21, đoạn 7). Khác với khuôn mẫu về báo cáo
tài chính của Chuẩn mực kế toán quốc tế, thông tin về thay đổi vốn chủ sở hữu được
trình bày chung trong bản thuyết minh báo cáo tài chính.
2.2.1.2 Mục đích của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là sản phẩm của công tác hạch toán kế toán của doanh
nghiệp, nhằm cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, thành quả kinh doanh và
các dòng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin trong việc
ra quyết định kinh tế cho người sử dụng (IASB, 2010; BTC, 2003); đồng thời báo
cáo tài chính là công cụ báo cáo thành quả quản lý của nhà quản trị về những nguồn
lực được ủy thác cho họ (IASB, 2010).
18
2.2.2 Tổng quan về tính kịp thời của báo cáo tài chính
Tính kịp thời là một trong những đặc điểm chất lượng thiết yếu của báo cáo tài
chính (BCTC), được trình bày rõ trong các quy định kế toán và các nghiên cứu kinh
tế đáng tin cậy.
2.2.2.1 Khái niệm tính kịp thời của báo cáo tài chính
Khuôn mẫu lý thuyết kế toán do IASB ban hành năm 2010 phân loại đặc điểm
chất lượng của thông tin kế toán hữu ích bao gồm đặc điểm chất lượng cơ bản (thích
hợp, trình bày trung thực) và đặc điểm chất lượng nâng cao (có thể so sánh, có thể
kiểm tra, kịp thời và có thể hiểu được). Trong đó, tính kịp thời được định nghĩa là
sự có sẵn thông tin cho những người ra quyết định vào thời điểm thông tin có khả
năng ảnh hưởng tới quyết định của họ. Theo đó, các thông tin cũ thì ít hữu ích hơn.
Kịp thời
Có thể hiểu được
Sơ đồ 2.1 : Đặc điểm chất lượng BCTC theo khuôn mẫu của IASB (2010)
(Nguồn: Vũ Hữu Đức, 2012)