ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN LÊ PHÚC THỊNH

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ
ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI
CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT
TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Tài chính – Ngân hàng
Mã số ngành: 52340201

12 - 2013

i


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN LÊ PHÚC THỊNH
MSSV: 4104471

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ
ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI
CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT
TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ
luận văn cùng cấp nào khác.
Cần Thơ, ngày 2 tháng 12 năm 2013
Người thực hiện

Nguyễn Lê Phúc Thịnh

ii


MỤC LỤC
Trang

Mục lục……………………………………...….....
Danh mục bảng…………………………...…..…...
Danh mục hình.........................................................
Chương 1 GIỚI THIỆU............................................................................
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu………………………………...…
1.2 Mục tiêu nghiên cứu..........................................................
1.2.1 Mục tiêu chung…………………………………….
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.........................................................
1.3 Phạm vi nghiên cứu……………………………………...
1.3.1 Phạm vi không gian……………………….……….
1.3.2 Phạm vi thời gian………………………………….
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu……………………………..
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.....
2.1 Cơ sở lý luận………………………………………….....
2.1.1 Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và mô hình
chỉ số đơn (SIM).......................................................
2.1.2 Lý thuyết chênh lệch giá (Arbitrage Pricing Theory).

2
2
2
3
3
3
7
9
9
12
12
13
15
17
17
17
20
24
31
31
32


3.2.3 Một số thành tựu và hạn chế của thị trường chứng
khoán Việt Nam……………………..…………….
Chương 4 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN TỶ SUẤT
SINH LỜI CỦA CÁC CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN HOSE
4.1 Ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lời của
cổ phiếu công ty cổ phần sữa Việt Nam…………………
4.1.1 Tổng quan về công ty và cổ phiếu VNM………….

4.8.1 Tổng quan về ngân hàng và cổ phiếu STB………..
4.8.2 Kết quả nghiên cứu cổ phiếu STB………………...
4.9 Ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lời của cổ
phiếu ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu
Việt Nam..............................................................................
4.9.1 Tổng quan về công ty và cổ phiếu EIB………...….

iv

38
40
40
40
40
41
41
41

46
46
46

47
47
48
50
50
50

53

62
63
67
67
68
69
71


DANH MỤC BẢNG

STT
2.1
4.1
4.2
4.3

4.4
4.5
4.6
4.7
4.8
4.9
4.10
4.11
4.12
4.13
4.14
4.15
4.16


vi


DANH MỤC HÌNH
STT

Tên hình

2.1

Quan hệ giữa lợi nhuận cổ phiếu và hệ số β biểu diễn bằng
đường thị trường chứng khoán………………………………....
Tăng trưởng GDP ở Việt Nam giai đoạn 2002 – 2012................
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở Việt Nam giai đoạn 2002 – 2012...
Thay đổi giá vàng và tỷ giá VND/USD ở Việt Nam giai đoạn
2002 -2012.....…………………………………………………..
Diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn
01/2001 - 06/2013………………………………………………

3.1
3.2
3.3
3.4

vii

Trang
6
16

chưa được quan tâm đúng mức. Với những lý do trên, em quyết định chọn đề
tài: “Ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu
niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” cho
việc nghiên cứu với mục tiêu mang đến cho các nhà đầu tư một cái nhìn mới
hơn về việc tiếp nhận thông tin vĩ mô để có những quyết định đúng đắn khi
tham gia thị trường, tạo tiền đề cho việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt
động của thị trường trong tương lai.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài này là đo lường ảnh hưởng của các yếu tố vĩ
mô đến tỉ suất sinh lời của một số cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng
1


khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), trên cơ sở đó cung cấp cho nhà đầu tư
một cái nhìn toàn diện về xu thế thị trường dựa vào biến động của các yếu tố
vĩ mô đồng thời đề xuất ra một số giải pháp nhằm hỗ trợ cho việc đầu tư tốt
hơn trong tương lai.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mô tả tổng quan về tình hình kinh tế vĩ mô ở Việt Nam và sự phát triển
của HOSE trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2002 đến tháng 6 năm 2013.
- Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lời của
một số cổ phiếu trên HOSE.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các nhà đầu tư tiếp cận thị trường
tốt hơn.
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện dựa trên số liệu của Sở Giao dịch Chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh tại Việt Nam.
1.3.2 Phạm vi thời gian

đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro hệ thống của chứng khoán đó. Còn rủi ro phi
hệ thống không được xem xét trong mô hình do nhà đầu tư có thể xây dựng
danh mục đầu tư đa dạng hóa để giảm thiểu rủi ro này.
 Mô hình định giá tài sản vốn được xây dựng dựa trên các giả định:
(1) Nhà đầu tư nắm giữ danh mục đầu tư đa dạng
Giả định này có nghĩa là nhà đầu tư sẽ chỉ mong muốn có được lợi nhuận
cho rủi ro hệ thống của danh mục đầu tư mà họ nắm giữ, bởi vì rủi ro phi hệ
thống được loại trừ.
(2) Nhà đầu tư ra quyết định đầu tư trong cùng một khoảng thời gian.
Tiêu chuẩn về thời gian nắm giữ là một giả định của mô hình để có thể so sánh
lợi nhuận của các chứng khoán khác nhau. Chẳng hạn, lợi nhuận 6 tháng
không thể so sánh với lợi nhuận 12 tháng.
(3) Nhà đầu tư có thể vay và cho vay ở mức tỷ suất lợi nhuận phi rủi ro
Đây là một giả định của lý thuyết danh mục đầu tư mà mô hình đã được
phát triển từ lý thuyết này và đưa ra mức lợi nhuận kỳ vọng tối thiểu bởi nhà

3


đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận phi rủi ro tương ứng với điểm cắt của đường thị
trường chứng khoán (SML) với trục y là trục biểu diễn lợi nhuận.
(4) Thị trường vốn là hoàn hảo
Giả định này có nghĩa là tất cả các chứng khoán đều được đánh giá đúng.
Một thị trường vốn hoàn hảo đòi hỏi:
- Không có thuế và chi phí giao dịch.
- Thông tin hoàn hảo được cung cấp sẵn có và miễn phí cho tất cả các
nhà đầu tư, kết quả là các nhà đầu tư có sự kỳ vọng như nhau.
- Nhà đầu tư không thích rủi ro và với mong muốn tối đa hóa hữu dụng
của họ.
- Có nhiều người mua và người bán trên thị trường và không có nhà đầu

đầu tư thị trường (Market portfolio). Danh mục đầu tư thị trường là danh mục
đại diện cho các cơ hội đầu tư trên thị trường vốn.
Hệ số β được định nghĩa như là hệ số đo lường mức độ biến động lợi
nhuận cổ phiếu cá biệt so với mức độ biến động lợi nhuận danh mục thị
trường. Cho nên β có thể được xem như là hệ số đo lường rủi ro của chứng
khoán.
(3) Quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro
Giả định của mô hình là nhà đầu tư ngại rủi ro. Vì vậy, khi quyết định
đầu tư, nhà đầu tư luôn cân nhắc sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Gọi i là
tài sản nhà đầu tư xem xét đầu tư và Ri là tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng khi nhà
đầu tư quyết định đầu tư vào tài sản i.
- Nếu đầu tư vào tài sản phi rủi ro, tức tài sản đầu tư i chính là tín phiếu
kho bạc thì nhà đầu tư kỳ vọng thu được tỷ suất lợi nhuận phi rủi ro Rf. Khi
đó, tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư là E(Ri)= Rf.
- Tuy nhiên việc đầu tư vào tài sản phi rủi ro có tỷ suất lợi nhuận thấp, do
đó muốn nâng cao tỷ suất lợi nhuận, nhà đầu tư xem xét đầu tư vào tài sản rủi
ro hơn tài sản phi rủi ro. Nếu chọn đầu tư vào danh mục đầu tư thị trường, nhà
đầu tư kỳ vọng thu được tỷ suất lợi nhuận bằng tỷ suất lợi nhuận đầu tư danh
mục thị trường Rm. Rm lớn hơn Rf vì danh mục đầu tư thị trường rủi ro hơn tín
phiếu kho bạc, do đó chênh lệch (Rm - Rf) được xem như phần bù rủi ro để nhà
đầu tư chấp nhận đầu tư vào danh mục thị trường thay vì đầu tư vào tài sản phi
rủi ro. Như vậy, nếu đầu tư vào danh mục thị trường thì tỷ suất lợi nhuận kỳ
vọng của nhà đầu tư sẽ là E(Ri)= E(Rf)+ E[(Rm – Rf)].
- Danh mục đầu tư thị trường là danh mục đầu tư đại diện cho toàn bộ cơ
hội đầu tư trên thị trường vốn – một danh mục lý thuyết chứ không phải là
danh mục thực tế. Do vậy, thực tế nhà đầu tư không thể đầu tư vào danh mục
thị trường mà đầu tư vào một tài sản hay một danh mục tài sản cụ thể. Tài sản
này có thể có rủi ro thấp hơn, hoặc bằng, hoặc cao hơn rủi ro của danh mục
đầu tư thị trường. Quan hệ giữa rủi ro của tài sản đó so với rủi ro của danh
mục đầu tư thị trường được đo lường bởi hệ số β.

- Quan hệ giữa lợi nhuận chứng khoán và hệ số rủi ro β là quan hệ tuyến
tính được diễn tả bởi đường thị trường chứng khoán có hệ số góc là Rm - Rf.
 Ước lượng β và mô hình chỉ số đơn (SIM)
Nhìn lại vào giả thiết của mô hình định giá tài sản vốn, ta có thể nhận
thấy một số giả thiết không thể phù hợp với thị trường thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng. Điển hình là giả thiết thị trường hoàn hảo nói về việc
không có thuế, phí giao dịch và thông tin luôn sẵn có cho nhà đầu tư. Đó là
những điều hoàn toàn không thể xảy ra. Vì vậy, trên thực tế người ta thường
sử dụng mô hình chỉ số đơn (SIM) để tính β. Bởi vì theo một nghiên cứu thực
nghiệm của William Sharpe vào năm 1963 đã chỉ ra sự sai lệch không đáng kể
giữa hệ số β được ước lượng bởi mô hình chỉ số đơn với kết quả từ việc sử
dụng phân tích Makowitz đầy đủ trực tiếp trên các chứng khoán.
Đối với mô hình chỉ số đơn, những giả thiết mà chúng ta cần có là:
(1) Có 2 nguồn ảnh hưởng đến sự biến động của lợi tức chứng khoán là
các nhân tố vĩ mô và nhân tố thuộc về chính bản thân công ty.
(2) Các nhân tố thuộc về công ty thì độc lập giữa các công ty

6


(3) Có một chỉ số nào đó đại diện cho ảnh hưởng của tất cả các nhân tố
vĩ mô.
Mô hình chỉ số đơn có dạng:

Ri = ai + βiRm + εi

(2.2)

Trong đó:
- Ri là tỷ suất sinh lời của chứng khoán i;

(2.3)


- βi0 là tỷ suất sinh lời kỳ vọng của tài sản có rủi ro;
- Xj là yếu tố kinh tế vĩ mô thứ j;
- βij là mức nhạy cảm của tài sản với nhân tố vĩ mô thứ j (beta nhân tố);
- εi là biến động ngẫu nhiên riêng có của tài sản rủi ro, trung bình bằng 0.
 Xác định các nhân tố
Cũng giống như mô hình định giá tài sản vốn, các beta xác định nhân tố
được tìm thấy thông qua hồi quy tuyến tính của tỷ suất sinh lời các chứng
khoán trong lịch sử. Nhưng không giống mô hình định giá tài sản vốn, lý
thuyết chênh lệch giá tự nó không bộc lộ các nhân tố xác định giá của nó. Số
lượng và tính tự nhiên của của các nhân tố này thường thay đổi theo thời gian
và không hoàn toàn giống nhau giữa các nền kinh tế. Các yếu tố có thể ảnh
hưởng đến tỷ suất sinh lời của tài sản có đặc điểm:
- Ảnh hưởng của chúng lên sự thay đổi không mong đợi trong giá tài sản là rõ
ràng.
- Chúng nên đại diện cho các ảnh hưởng không thể đa dạng hóa (đề cập
đến các yếu tố kinh tế vĩ mô hơn là các yếu tố riêng có của công ty).
- Đòi hỏi tính đều đặn và thông tin chính xác của các biến.
- Mối quan hệ nên được xem xét trên nền tảng kinh tế.
Roll và Ross (1994) đã nghiên cứu và cho rằng các yếu tố quan trọng
quyết định lợi nhuận của cổ phiếu là:
- Sự thay đổi tỷ lệ lạm phát kỳ vọng.
- Sự thay đổi bất ngờ của tỷ lệ lạm phát.
- Sự thay đổi bất ngờ của chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu xếp hạng
thấp và trái phiếu xếp hạng cao.
- Sự thay đổi bất ngờ của chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu ngắn hạn và
trái phiếu dài hạn.
Một số nhân tố khác có thể được sử dụng là :

mắc lỗi hệ thống khi dự báo tương lai, và các sai lệch của dự báo mang tính
ngẫu nhiên. Trong một mô hình kinh tế, lý thuyết này giả sử rằng giá trị kỳ
vọng của một biến số sẽ bằng với giá trị được mô hình dự đoán.
2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về việc ứng dụng lý
thuyết mô hình kinh doanh chênh lệch giá (APT) vào việc đo lường ảnh hưởng
của các yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu. Với đặc điểm của mô hình kinh doanh
chênh lệch giá là các yếu tố đưa vào mô hình không được xác định cụ thể, tùy
vào hoàn cảnh cụ thể của từng đất nước, từng nền kinh tế khác nhau mà việc
lựa chọn các yếu tố đưa vào mô hình cũng khác nhau. Trong nghiên cứu, các
tác giả thường sử dụng một trong hai cách tiếp cận sau: một là phân tích nhân
tố dựa trên các chuỗi số liệu có sẵn để tìm ra các yếu tồ cần đưa vào mô hình,
hai là các yếu tố vĩ mô đưa vào mô hình sẽ do người nghiên cứu tự lựa chọn.
Sau khi đã lựa chọn được các yếu tố vĩ mô để đưa vào mô hình kinh doanh

9


chênh lệch giá, phương pháp phân tích hồi quy sẽ được thực hiện để ước
lượng các hệ số của từng yếu tố và xác định xem có tồn tại mối quan hệ giữa
các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu hay không. Sau đây là một
số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu:
Chen và các cộng sự (1986) đã xem xét ảnh hưởng của 7 biến vĩ mô đến
lợi nhuận thị trường, các biến đó là: chênh lệch giữa lãi suất ngắn hạn và dài
hạn, sản phẩm công nghiệp, phần bù rủi ro, lạm phát, lợi nhuận thị trường, sức
mua và giá dầu trong giai đoạn từ tháng 01/1953 đến tháng 12/1984. Họ nhận
thấy rằng có một vài biến vĩ mô có ý nghĩa trong việc giải thích lợi nhuận
mong đợi của cổ phiếu. Cụ thể yếu tố sản phẩm công nghiệp, phần bù rủi ro,
chênh lệch giữa lãi suất ngắn hạn và dài hạn, lạm phát có ý nghĩa trong việc
giải thích tỷ suất sinh lời của cổ phiếu. Còn các yếu tố sức mua, giá dầu, chỉ số

nghiệp và chỉ số MSCI của Nga (Morgan Stanley Capital International). Số
liệu hàng tháng được lấy từ tháng 01 năm 1999 đến tháng 03 năm 2006. Tác
giả đã sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất để đánh giá tác
động của các yếu tố vĩ mô đến lợi nhuận của 20 cổ phiếu này. Kết quả là
không tìm thấy mối liên hệ rõ ràng nào giữa các yếu tố vĩ mô với lợi nhuận
của cổ phiếu. Giá trị R2 cũng có sự khác biệt lớn giữa các cổ phiếu, dao động
từ 20% đến 90%. Chỉ có duy nhất 1 yếu tố vĩ mô có ảnh hưởng đến lợi nhuận
cổ phiếu, đó là yếu tố giá dầu có ảnh hưởng đến cổ phiếu của công ty Taftnet
(một công ty hoạt động trong lĩnh khai thác dầu khí) ở mức ý nghĩa 1%.
Tursoy và các cộng sự (2008) đã sử dụng mô hình kinh doanh chênh lệch
giá để xem xét tác động của các yếu tố vĩ mô đến lợi nhuận của 11 danh mục
đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp ở thị trường chứng khoán Istanbul - Thổ
Nhĩ Kỳ, sử dụng dữ liệu hàng tháng từ tháng 02 năm 2001 đến tháng 09 năm
2005. Bài nghiên cứu đã sử dụng 13 biến kinh tế vĩ mô khác nhau đại diện cho
các chỉ tiêu cơ bản của một nền kinh tế như: cung tiền (M2), sản xuất công
nghiệp, giá dầu, chỉ số giá tiêu dùng (CPI), nhập khẩu, xuất khẩu, giá vàng, tỷ
giá, lãi suất, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), dự trữ ngoại hối, tỷ lệ thất nghiệp
và chỉ số áp lực thị trường (MPI). Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp hồi
quy bình phương bé nhất (OLS) để đánh giá tác động của các yếu tố vĩ mô đến
lợi nhuận của 11 danh mục đầu tư lĩnh vực công nghiệp ở thị trường chứng
khoán Istanbul. Kết quả là lợi nhuận của danh mục đầu tư không thể được giải
thích bởi sự biến động các yếu tố vĩ mô và giá trị của R2 rất thấp chỉ từ 19%
đến 36%. Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mặc dù mỗi yếu tố vĩ mô
không tác động đến tất cả các danh mục đầu tư nhưng nó lại có ảnh hưởng đến
từng nhóm chứng khoán, từng ngành nghề kinh doanh cụ thể. Chẳng hạn như,
biến tỷ lệ thất nghiệp có ý nghĩa ở mức 10% đối với danh mục đầu tư của
ngành luyện kim, ngành sản xuất gỗ nội thất, dệt kim, giao thông vận tải và
thông tin liên lạc; và có ý nghĩa ở mức 5% đối với ngành sản xuất giấy, sản
phẩm từ giấy và in ấn. Biến giá vàng có ý nghĩa ở mức 10% trong ngành sản
xuất các sản phẩm khoáng sản phi kim loại, và ở mức ý nghĩa 5% trong ngành

nhuận ước tính với lợi nhuận thực tế. Kết quả cho thấy giữa lợi nhuận ước tính
dựa trên các beta ước lượng và lợi nhuận thực tế là tương tự nhau. Vì vậy,
nhóm tác giả kết luận rằng mô hình kinh doanh chênh lệch giá là đủ hiệu quả
để dự đoán tỷ suất sinh lời của cổ phiếu dựa trên các biến vĩ mô.
Anam và các cộng sự (2013) đã sử dụng mô hình kinh doanh chênh lệch
giá để kiểm tra sự ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lời của 37 cổ
phiếu ở thị trường chứng khoán Karachi (KSE), Pakistan. Các yếu tố vĩ mô
được đưa vào mô hình là: lượng cung tiền, tỷ giá hối đoái, tổng sản phẩm công
nghiệp, lãi suất. Số liệu được lấy theo tháng, từ tháng 01 năm 2000 đến tháng
12 năm 2005. Kết quả hồi quy cho thấy, yếu tố cung tiền và lãi suất không tác
động đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu, tổng sản phẩm công nghiệp tương quan
nghịch và lãi suất tương quan thuận với tỷ suất sinh lời của cổ phiếu ở mức 5%.
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ các website của Tổng cục
Thống kê Việt Nam (www.gso.gov.vn), Ủy ban chứng khoán nhà nước
(www.ssc.gov.vn), Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

12


(www.hsx.vn), trang chứng khoán cổ phiếu Việt Nam (www.cophieu68.com)
và một số trang các công ty chứng khoán (www.ssi.com.vn,
www.vndirect.com.vn, www.fpts.com.vn, www.bsc.com.vn...).
Mục đích của đề tài là phân tích ảnh hưởng của 4 yếu tố vĩ mô đến tỷ
suất sinh lời của 10 cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh, đây là top 10 những mã chứng khoán có giá trị vốn hóa thị
trường đứng đầu của HOSE. Do đó, số liệu thu thập trong đề tài bao gồm: chỉ
số giá thị trường (VN-Index), thay đổi chỉ số giá tiêu dùng (∆CPI), thay đổi giá
vàng, thay đổi tỷ giá VND/USD và giá của 10 cổ phiếu được nghiên cứu. Số

Yit = βi0 + βi1X1 + βi2X2 + βi3X3 + βi4X4 + εi

(2.4)

Trong đó:
- Yit là tỷ suất sinh lời của cổ phiếu i ở thời điểm t và được tính như sau:

Yit 

Pit  Pit 1
Pit 1

-

Pit là giá đóng cửa của cổ phiếu i ở thời điểm t;

-

X1, X2, X3, X4 là các biến độc lập được diễn giải như sau:

Bảng 2.1: Diễn giải các biến độc lập
Biến số độc lập
Tỷ suất sinh lợi thị trường (X1)

Cách tính
X1 

VNIndext  VNIndex t 1
VNIndex t 1


- USD/VND0: Tỷ giá USD/VND tại thời điểm xét trước đó;
 Bên cạnh đó nhằm tìm được mô hình tối ưu cho mỗi cổ phiếu sau khi
tiến hành hồi quy như trên, ta sẽ tiến hành áp dụng lý thuyết kỳ vọng hợp lý

14


qua việc hồi quy lần lượt các biến động % của 4 yếu tố vĩ mô sớm 1 thời kỳ so
với biến phụ thuộc và chọn ra mô hình tốt nhất để sử dụng nó cho việc phân
tích cuối cùng.
Nhằm đơn giản hóa và tập trung vào trọng tâm vấn đề, quá trình phân
tích trong bài chủ yếu dựa vào chính sách tiền tệ của Chính phủ. Bởi vì cả 4
biến độc lập trong mô hình bị ảnh hưởng rõ nhất thông qua các chính sách tiền
tệ cũng như trong vòng hơn 5 năm trở lại đây chính sách tiền tệ ở Việt Nam
đóng vai trò chủ yếu trong việc điều hành của Chính phủ. Việc bao gồm luôn
cả chính sách tài khóa sẽ làm phức tạp hơn vấn đề nghiên cứu do các biến độc
lập lúc này tương tác lẫn nhau kèm ảnh hưởng từ biến động của yếu tố khác
ngoài mô hình qua các thời kỳ gây khó khăn trong quá trình phân tích. Hơn
nữa vì các nhà đầu tư khó nhận biết và tiếp cận với thông tin về các chính sách
tài khóa nên thường có xu hướng hành động theo chính sách tiền tệ được công
khai và phân tích thường xuyên hơn.
Giả thiết trong bài cũng nêu lên một vấn đề đó là các nhà đầu tư với kiến
thức kinh tế giới hạn sẽ không quan tâm Nhà nước dùng loại công cụ nào của
chính sách tiền tệ mà chỉ quan tâm đến đó là loại chính sách nới lỏng hay thắt
chặt tiền tệ trong giai đoạn xem xét để từ đó phục vụ cho quá trình đầu tư của
mình.
2.3.3 Lý giải về phương pháp xử lý số liệu
Nếu nhìn sơ qua về dữ liệu được xử lý ta có thể thấy rằng chúng có đặc
điểm đều là biến động của các yếu tố vĩ mô tính theo % trong mô hình. Như
vậy câu hỏi đặt ra là việc xử lý số liệu theo hướng này sẽ có thuận lợi gì trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status