ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
LÕ VĂN PHÓNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TỶ LỆ
MẮC MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI
VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khóa học:
Chính quy
Thú y
Chăn nuôi Thú y
2011 - 2016
Thái Nguyên - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
LÕ VĂN PHÓNG
Tên đề tài:
học tập tại trường.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo TS.
Trần Văn Thăng người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn tôi trong suốt thời gian
thực tập, giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Cũng qua đây cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cán bộ và công nhân trong
trại lợn nái xóm Non Tranh, xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên,
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp và học hỏi nâng
cao tay nghề.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi để tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Thái Nguyên, 01 tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Lò Văn Phóng
ii
LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo của Nhà trường, thực hiện phương
châm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tế sản xuất”, thực tập tốt
nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình dạy và học của các
trường Đại học nói chung và của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói
riêng. Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên
trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian giúp cho sinh viên củng cố và hệ
thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen dần
với thực tế sản xuất, từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, nắm bắt được
phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ
thuật vào thực tế sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc, sáng tạo
để khi ra trường trở thành một bác sĩ thú y có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu
: Ủy ban nhân dân
LMLM
: Lở mồm long móng
TT
: Thể trọng
Nxb
: Nhà xuất bản
CP 40
: Landrace x Yorkshire
STT
: Số thứ tự
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Tình hình mắc bệnh sinh sản của đàn lợn nái ngoại............................ 40
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của yếu tố lứa đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh sinh sản của lợn nái
ngoại .................................................................................................... 42
1.2. Mục đích của đề tài ......................................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ........................................................ 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ......................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn .......................................................................................... 2
Phầ n 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài ............................................................................... 3
2.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục và sinh lý sinh sản của lợn cái ............................ 3
2.1.2. Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái ................................................. 8
2.1.3. Phương pháp chẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái ........ 21
2.1.4. Một số thuốc phòng và trị bệnh sinh sản của lợn nái ................................. 22
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ........................................ 26
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ............................................................. 26
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ............................................................... 28
Phầ n 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 33
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 33
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành .................................................................... 33
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ............................................... 33
3.3.1. Nội dung nghiên cứu .................................................................................. 33
3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi ................................................................................... 33
vii
3.4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 34
3.4.1. Quy trình chăn nuôi lơ ̣n nái ngoa ̣i sinh sản .......................................................... 34
3.4.2 Phương pháp điều tra và theo dõi lâm sàng ................................................ 36
3.4.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu............................................................. 36
3.4.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm................................................................... 37
3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu .......................................................................... 38
nâng cao. Do vậy nhu cầu thực phẩm của con người bây giờ không chỉ đòi hỏi
đáp ứng đủ về số lượng mà còn cả về chất lượng. Trên thực tế, nhu cầu sử dụng
thịt lợn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thịt tiêu thụ trên toàn thế giới, điều này
chứng tỏ tính ưu việt của thịt lợn trong cuộc sống của con người. Vì vậy, nhiệm
vụ đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là đầu
tư phát triển đàn lợn để tăng cả chất lượng và số lượng đáp ứng nhu cầu của thị
trường tiêu dùng.
Nước ta đã nhập một số giống lợn nái ngoại như Yorkshire, Landrace,
Duroc, Pietrain… về để nuôi thuần, lai kinh tế và tạo giống mới nhằm nâng cao
số lượng và chất lượng đàn lợn Việt Nam và đã thu được kết quả cao. Kết quả
cho thấy các giống lợn ngoại có tính thành thục sớm, tăng trọng nhanh, chất
lượng thịt tốt và có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, hạn chế của việc phát triển đàn lợn nái ngoại chính là yêu cầu
cao về kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng. Đặc biệt lợn nái ngoại vẫn hay mắc các
bệnh về sinh sản như viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó… Lợn bị các bệnh về đường
sinh sản sẽ làm giảm sức đề kháng và khả năng sinh sản của lợn nái, làm giảm tỷ
2
lệ thụ thai, mất sữa ảnh hưởng đến thế hệ con. Nếu bệnh nặng có thể gây mất khả
năng sinh sản làm tăng tỷ lệ loại thải dẫn đến làm giảm số lượng đàn lợn nái gây
thiệt hại cho người chăn nuôi.
Trước tình hình thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu các
yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại và
thử nghiệm một số phác đồ điều trị”.
1.2. Mục đích của đề tài
- Xác định được tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại
nuôi tại trại chăn nuôi lợn nái xóm Non Tranh, xã Tân Thành, huyện Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên.
như con đực. Trên âm vật có nếp da tạo mũ âm vật. Phần dưới âm vật bẻ gập
xuống dưới.
* Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có màng
trinh. Phía trước màng trinh là âm đạo. Phía sau là âm môn. Sau màng trinh là lỗ
niệu đạo. Tiền đình có một số tuyến hướng quay về âm vật.
b) Bộ phận sinh dục bên trong
* Âm đạo
Phía trước âm đạo là cổ tử cung. Phía sau là tiền đình có màng trinh che
lỗ âm đạo. Âm đạo là lỗ tròn để chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối. Đồng
thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ, kích thước âm đạo
của lợn là 10 - 12 cm.
* Tử cung
Tử cung là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của
bào thai. Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái. Tử cung
gồm 3 phần: sừng, thân, cổ tử cung.
- Ngoài cùng là lớp tương mạc được nối với dây chằng rộng. Lớp cơ: cơ
trơn rất phát triển dày, khỏe có cấu tạo với chức năng chứa thai phát triển và đẩy
thai khi đẻ. Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong. Cơ vòng phát triển mạnh ở cổ tử
4
cung tạo thành cơ thắt. Lớp niêm mạc trong cùng có màu hồng nhạt, có nhiều
nếp gấp, trong niêm mạc có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn. Niêm mạc đến cổ tử
cung thì thắt tùy thuộc vào từng loại gia súc.
- Mạch quản thần kinh: Động mạch đến từ động mạch tử cung - buồng
trứng và động mạch tử cung. Thần kinh đến từ đám rối treo đằng sau và đám rối
hạ vị. Sừng tử cung của lợn dài ngoằn nghèo như ruột non dài từ 0,5 - 1m. Dây
chằng rộng dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được. Thân tử
cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp nhăn nheo theo chiều
- Cấu tạo: Tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành. Lợn có
từ 6 - 10 đôi vú xếp thành 2 hàng từ vùng ngực tới vùng bẹn, vú gồm có bầu vú
và núm vú.
+ Bầu vú: Là nơi sản sinh và chứa sữa, ngoài cùng là lớp da mỏng mịn, tiếp
đến là lớp cơ, trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ giữa
phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh
bao vây và chia vú thành nhiều thùy nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn hồi.
Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo
3 loại ống dẫn: nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và thông ra
ở đỉnh đầu vú. Mao mạch bao quanh tuyến dày đặc, hệ thống tĩnh mạch phát triển
hơn động mạch tạo nên mạch lớn nổi dưới lớp mỏng của da.
Thần kinh chi phối là nhánh thần kinh động vật từ chậu hạ vị, chậu bẹn
thần kinh thẹn. Thần kinh thực vật xuất phát từ đám rối chậu - hạ vị.
+ Núm vú: Một bầu vú là một núm vú. Cấu tạo từ ngoài vào trong: da, tổ
chức liên kết, cơ, ống dẫn sữa. Lợn có từ 2 - 3 ống dẫn sữa. Ở đầu núm vú sợi cơ
xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín
khi không thải sữa.
- Sinh trưởng và phát dục của tuyến vú
Động vật còn non, tuyến vú chưa phát triển. Đến tuổi thành thục, hệ thống
ống dẫn bắt đầu sinh trưởng và hình thành hệ thống ống dẫn nhỏ, phân nhánh phức
tạp, thể tích tuyến vú tăng lên, đoạn cuối ống dẫn hình thành bao tuyến.
Đến thời kỳ chửa, nuôi con, ống dẫn tăng lên không ngừng. Qua một thời
gian tiết sữa thể tích bao tuyến nhỏ dần,ống dẫn teo đi, lượng sữa giảm đến
ngừng, bầu vú nhỏ lại.
6
2.1.1.3. Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái
- Sự thành thục về tính
7
* Tính dục:
Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong
máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình thường, đứng nằm
không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa
giảm, chăm chú tới xung quanh. Gặp con đực không kháng cự, tăng lên về cường
độ cho đến khi tế bào trứng rụng.
* Tính hưng phấn:
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi về bên
ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn, đuôi cong và
chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối. Cao độ nhất là lúc tế bào trứng
rụng. Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi rõ rệt.
- Chu kỳ động dục:
Chia làm 4 giai đoạn:
* Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình
thường. Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng
lông nhung tăng lên. Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng
lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều. Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao. Khi
noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung
mở hoàn toàn. Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu
xuất hiện tính dục.
* Giai đoạn động dục
Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt
những biến đổi sinh lý. Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết. Niêm
dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ,
gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu giống, phá chuồng, nhảy lên lưng con
khác, thích gần con đực. Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh
trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại. Gia súc cái trong giai đoạn có thai
trình đẻ dịch và các chất trong tử cung chảy ra, cổ tử cung mở, niêm mạc tử cung xây
sát, vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung (Đặng Thanh Tùng, 1999) [30].
* Nguyên nhân.
Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn
nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường... Phối
9
giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai. Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa
đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không
ra gây sát nhau, thối giữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn.
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [23], lợn nái sinh ra đều mang vi khuẩn
trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở chất tiết chảy ra tạo
điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn.
Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng
quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh
lao...thường gây ra các bệnh viêm tử cung.
Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [30], mầm bệnh có mặt trong một tuyến
qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính là sự kém
nhu động của ruột nhất là táo bón. Vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào do vi khuẩn
hiện diện trong phân và nước tiểu.
Kết quả của Nguyễn Hữu Phước (1982) [23], tỷ lệ các loại vi khuẩn gây
viêm tử cung ở lợn như sau: E. coli chiếm 27%; Proteus valgaris chiếm 16%;
Klebsielle chiếm 10,2%; Steptococus chiếm 34,5%; Staphylococus chiếm 11,2%;
Còn lại các loài vi khuẩn khác chiếm 2 - 7%.
Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như: Bilken (1996) [1],
cho biết: Viêm tử cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli dung
huyết, Staphylococus spp và Staphylococus aureus, đó là nguyên nhân chính gây
bệnh (Nguyễn Như Pho, 2002) [20].
* Hậu quả:
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, bệnh viêm tử cung là rất phổ biến, nó
gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái, khả năng sinh trưởng, phát dục
của lợn con. Lợn nái bị viêm tử cung dễ dẫn đến loại thải.
Bệnh gây tổn thương cơ quan sinh dục. Quá trình viêm tạo độc tố có hại
cho tinh trùng như: Spermiclysin (độc tố tiêu diệt vi trùng). Hoặc niêm mạc tử
cung bị tổn thương sẽ cản trở sự di chuyển của tinh trùng. Nếu có thụ thai được
cũng dễ bị chết con, khi bệnh nặng dẫn đến sẩ y thai , tiêu thai, vô sinh (Lê Văn
Năm, 1997) [17].
Viêm xảy ra trong thời gian có chửa thì do biến đổi trong cấu trúc niêm
mạc như: Teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc...dẫn đến phá
vỡ hàng rào bảo vệ thai. Qua chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do
chúng tiết ra làm bào thai phát triển không bình thường. Nếu không phát hiện và
điều trị triệt để sẽ làm tổn thất kinh tế cho người chăn nuôi.
2.1.2.2. Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân:
Nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú là các hệ vi khuẩn gây bệnh như:
trực khuẩn đường ruột, liên cầu khuẩn dung huyết và các loại trực khuẩn gây thối
11
khác... Chúng xâm nhập vào tuyến vú qua vết thương, vết xây sát trên bầu vú
hoặc qua lỗ núm vú.
Theo Muirhead and Alexander (2010) [42], nguyên nhân gây viêm một
hay nhiều vú ở lợn do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do kế phát từ bệnh khác,
xảy ra lác đác ở từng cá thể hoặc cả đàn. Bệnh thường xuất hiện tập trung từ khi
lợn đẻ đến 12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào một hay nhiều bầu vú thông
qua núm vú do trầy xước (do răng của lợn con hay nền chuồng cứng). Nhóm vi
khuẩn gây viêm vú gồm: Coliform, Klebsiella, Staphylococcus, Streptococcus,
bệnh không bú, sữa xuống nhiều, bầu vú căng dễ dẫn đến viêm vú (Trương Lăng,
2000) [12].
Do quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn. Sau
khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú. Thời tiết
quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn tới viêm vú.
* Triệu chứng:
Viêm vú chia thành các thể như sau:
- Viêm vú thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch viêm tiết ra nhiều.
Nước viêm thải ra thấm vào các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và
mạch lâm ba bị trở ngại. Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú sưng. Lúc đầu sữa biến đổi
không rõ về sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm, sờ tay vào con vật cảm giác đau.
- Viêm vú thể cata: Trong nang sữa chứa rất nhiều dịch rỉ viêm, tế bào
biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra. Cơ thể bình thường không có triệu
chứng toàn thân, lúc đầu sữa loãng, có nhiều gạch vón, lượng sữa giảm. vắt sữa
có những cục nhỏ màu xanh hay vàng nhạt, sờ bầu vú thấy nóng.
- Viêm vú thể Fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng Fibrinogen và tế
bào chết. Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến
thành Fibrin. Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa Fibrin và cục Casein bị đóng
vón. Nhiệt độ cơ thể 40 - 410C, vú viêm cứng, sưng to, sờ thấy đau.
- Viêm vú thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, bạch
cầu, mủ và tế bào hoại tử. Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ. Sờ con vật thấy
đau, vắt sữa thấy loãng, sữa đóng vón, có mủ, máu. Con vật có triệu chứng toàn
thân: Sốt cao, kém ăn, hô hấp và tuần hoàn tăng.
13
- Viêm vú thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe to
hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong. Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ ở
dưới da. Vật ngừng tiết sữa và trong sữa vắt ra có đầy mủ và máu, casein.
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có
nhiều chất độc. Sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con bú
sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng
lượng cai sữa thấp.
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó
chữa, lợn nái sẽ bị chết.
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo bầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh
hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa sau.
Nếu phát hiện và điều trị kịp thời sẽ giảm thiệt hại kinh tế cho người
chăn nuôi.
2.1.2.3. Bệnh đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài.
Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau. Nó không những gây bệnh
cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả mẹ lẫn con có
thể chết. Do đó đẻ khó gây thiệt về kinh tế cho ngành chăn nuôi.
Theo Nguyễn Ngo ̣c Phục (2005) [21], thông thường thai chế t lưu ở các tra ̣i
chăn nuôi nái sinh sản chiế m khoảng4 - 10% tổ ng số lơ ̣n con chế t trong giai đoa ̣n từ
sơ sinh đế n cai sữa, trong đó khoảng70% các trường hợp được coi là thai chết lưu đã
từng số ng sót khi mới sinh.
* Nguyên nhân:
- Đẻ khó nguyên nhân do cơ thể mẹ:
Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh
dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ bị suy nhược,
sức khỏe kém. Trong quá trình đẻ, sức rặn của lợn yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ
tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài.
Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó. Các
nghiên cứu cho thấy độ dầy mỡ lưng ở vị trí P2 ở heo nái tốt, diễn biến ở các lứa đẻ
tăng dần đến giai đoạn đậu thai, giai đoạn đẻ, thì giảm dần xuống đến cai sữa, sau
đó lại tăng dần ở lứa tiếp theo đến giai đoạn đẻ. Sự mập ốm của lợn nái phụ thuộc
Theo Phạm Công Khải (2012) [45], cho biết: lợn nái rặn nhiều lần, thời
gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó
16
chịu, nước ối tiết nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt). Có trường hợp lợn nái đẻ
được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo. Khi thò tay vào thấy thai
nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu
hẹp nhưng bào thai quá to.
* Hậu quả.
- Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn dẫn đến lợn con bị chết
- Nếu mổ để lấy bào thai ra ngoài lợn mẹ hay bị chết.
- Gây ra hiện tượng sót con, sót nhau dẫn đến viêm đường sinh dục.
- Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây sát niêm mạc tử
cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một số
bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sẩ y thai truyền nhiễm... khi niêm mạc có những vết
sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ... dẫn đến sẩ y thai, tiêu thai,
đẻ non thậm trí là vô sinh.
2.1.2.4. Bệnh bại liệt sau khi đẻ
Bại liệt sau khi đẻ là bệnh mà con vật mất khả năng vận động sau thời
gian sổ thai.
* Nguyên nhân:
Bệnh xuất hiện chủ yếu do thai quá to, tư thế và chiều hướng của thai
không bình thường, do quá trình thủ thuật kéo thai quá mạnh hay không đúng
thao tác...Từ đó gây tổn thương thần kinh tọa, ảnh hưởng tới đám rối thần kinh
hông khum gây ra bại liệt.
Ngoài ra bệnh xảy ra còn do thức ăn thiếu Ca, P, lợn ít vận động dưới
nắng hoặc thiểu năng tuyến giáp dẫn đến xương thiếu Ca, P, lại tiết sữa phải lấy
Ca, P từ xương nên càng thiếu khoáng, xương bị mềm nên bị bại liệt (Lê Hồng