B GIO DC & O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
KHNG TH THY LAN
Tình trạng dinh dỡng, khẩu phần và tập tính ăn uống
của bệnh nhân đái tháo đờng typ 2 tại Bệnh viện đa khoa
tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014-2015
Chuyờn ngnh: Dinh dng
Mó s: 60 72 03 03
LUN VN THC S Y HC
H NI-2015
DANH SCH T VIT TT
ADA
: Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (American diabetes Association)
Abl
: Albumin huyết thanh
BMI
HATTr
: Huyết áp tâm trương
HbA1c
: Hemoglobine A1c
HDL-C
: Cholesterol có tỷ trọng cao
(High Density Lipoprotein- cholesterol)
HRQoL
: Chất lượng cuộc sống (health-related quality of life)
IDF
: Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế
(International Diabetes Federation)
LDL-C
: Cholesterol có tỷ trọng thấp
(Low Density Lipoprotein-cholesterol)
OR
: Tỷ suất chênh (Odd ratio)
được, những người mắc bệnh đái tháo đường nếu được quản lý, tư vấn truyền
thông và điều trị kịp thời bằng thuốc, chế độ ăn uống, luyện tập hợp lý sẽ
giảm nguy cơ mắc bệnh và làm chậm sự xuất hiện các biến chứng do bệnh
gây nên [5], [6].
Tại Việt Nam, hiện nay mô hình bệnh tật cũng thay đổi, ngoài mô hình
bệnh ở các nước đang phát triển: Suy dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng và
bệnh nhiễm khuẩn nước ta còn xuất hiện mô hình bệnh tật ở các nước
phát triển. Bệnh mạn tính không lây ngày càng tăng như ĐTĐ, thừa cân,
béo phì, ung thư, tim mạch là những bệnh phát triển nhanh nhất hiện nay.
Trong đó bệnh ĐTĐ- nhất là ĐTĐ týp 2 là bệnh khá phổ biến có ở mọi
quốc gia, mọi lứa tuổi với những mức độ khác nhau, cao nhất ở lứa tuổi sau
50 và hiện nay độ tuổi mắc bệnh này đang trẻ dần và tỷ lệ tăng nhanh tới
mức báo động. Theo một số kết quả điều tra năm 1990 ở Hà Nội có tỷ lệ
ĐTĐ 1,2%, Huế
0,96%, Thành Phố Hồ Chí Minh 2,52% đến nay tỉ lệ ĐTĐ ở Việt Nam là5,7%
và ở các thành phố lớn tỷ lệ này cao hơn.Có rất nhiều yếu tố nguy cơ dẫn tới
mắc bệnh này đặc biệt là lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực và chế độ ăn
giàu năng lượng là nguyên nhân quan trọng của bệnh.
Để điều trị bệnh này cần kiểm soát đường huyết trong giới hạn bình
thường, ngăn ngừa biến chứng, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống từ đó
đưa bốn cách để quản lý ĐTĐ týp 2 [7]: Quản lý dinh dưỡng bằng chế độ ăn
hợp lý; tăng cường vận động thích hợp; điều trị bằng thuốc khi cần thiết theo
chỉ định của bác sĩ; bệnh nhân tự theo dõi.
Dinh dưỡng là phương pháp điều trị cơ bản, cần thiết cho người bệnh
ĐTĐ týp 2 ở bất kỳ loại hình điều trị nào. Một chế độ ăn cân đối và điều hòa,
hoạt động thể lực hợp lý không những rất hữu ích nhằm kiểm soát đường
huyết mà còn ngăn ngừa các biến chứng và duy trì chất lượng cuộc sống của
người bệnh ĐTĐ týp 2. Đó cũng là nguyên tắc hành vi thói quen cho một
Năm 1936 Himsworth phân biệt “đái tháo đường đề kháng với Insulin” và
“đái tháo đường nhạy cảm với insulin”.
Năm 1976 Gudworth đưa ra danh từ “đái tháo đường týp 1” và “đái tháo
đường týp 2”.
Năm 1985 bảng phân loại của tổ chức sức khỏe thế giới đưa ra từ “đái tháo
đường phụ thuộc insulin” đồng nghĩa với “đái tháo đường týp 1” và “đái tháo
đường khồn phụ thuộc insulin” đồng nghĩa với “đái tháo đường týp 2”.
Năm 1997 hiệp hội đái tháo đường Mỹ lại đề nghị dùng từ “đái tháo
đường týp 1” và “đái tháo đường týp 2” để tránh sự hiểu lầm về việc chọn lựa
thuốc điều trị.
1.1.2. Dịch Tễ học và tầm quan trọng của vấn đề
Tỷ lệ mắc ĐTĐ khác nhau ở các châu lục và vùng lãnh thổ. Tại Mỹ,
khoảng 6,6%. Từ năm 1958 đến 1993 số bệnh nhân được chẩn đoán tăng gấp
5 lần, tỷ lệ mắc “đái tháo đường týp 1” thay đổi theo vùng, địa dư, sắc tộc.
Trong 7,8 triệu dân bị đái tháo đường ở Mỹ năm 1993 có khoảng 90-95% bị
đái tháo đường týp 2. Ở Pháp 1,4% dân số mắc ĐTĐ [8].
Trên phạm vi toàn cầu tỷ lệ đái tháo đường týp 2 từ dưới 2% ở vùng
Bantu tại Tanzania và Trung Quốc lục địa cho đến 40-50% ở sắc tộc da đỏ
Pima tại Mỹ và dân Micronesia ở Nauru. Sự khác biệt này do ảnh hưởng của
di truyền và một số yếu tố nguy cơ có tính xã hội như cách ăn uống, béo phì,
ít vận độngSingapore: 1974 là 2% tăng lên 8.6% vào năm 1992.
Hình 1.1: Tỷ lệ mắc đái tháo đường trên thế giới
Hình 1.2: Sơ đồ dự đoán sự khác biệt tỷ lệ ĐTĐ ở các quố c gia
Việt Nam: TP HCM 2,52% (1992) tới năm 2003 theo Đỗ Ngọc Diệp và
cộng sự tỷ lệ ĐTĐ àl 7% [9], [10], theo Trần Minh Long (2010) ngh iên cứu tại
toàn cầu, năm 2004 có khoảng 98,9 triệu người mắc, tới nay khoảng 180 triệu
người và con số đó có thể tăng gấp đôi lên tới 366 triệu người vào những năm
2030. Đây là một trong ba căn bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất và là một
trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển.
Việt Nam không xếp vào 10 nước có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhưng lại
là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh. Theo kết quả điều tra dịch tễ học
bệnh đái tháo đường toàn quốc năm 2012 do Bệnh viện Nội tiết Trung ương
tiến hành, tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường trên toàn quốc ở người trưởng thành
là 5,42%, tỷ lệ đái tháo đường chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là
63,6%. Tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường tăng dần theo nhóm tuổi, cụ thể là
1,7% ở nhóm tuổi từ 30-39; 3,7% ở nhóm tuổi từ 40 tới 49; 7,5% ở nhóm tuổi
từ 50 tới 59 và 9,9% ở nhóm tuổi từ 60 tới 69. Đái tháo đường đang là vấn đề
thời sự cấp bách của sức khoẻ cộng đồng [13].
Bảng 1.1: Mười nước có tỷ lệ đái tháo đường cao nhất thế giới
Năm 2000
STT
Quốc gia
Năm 2030
Số người mắc
bệnh ĐTĐ
(Triệu người)
Quốc gia
Số người mắc
bệnh ĐTĐ
(Triệu người)
4
Indonesia
8,4
Indonesia
21,3
5
Nhật Bản
6,8
Pakistan
13,9
6
Pakistan
5,2
Brazil
11,3
10
Bangladesh
3,2
Ai Cập
6,7
1.2. Bệnh học đái tháo đường
1.2.1. Một số hoocmon tham gia chuyển hóa đường trong cơ thể
GH: Tác dụng lên chuyển hoá carbohydrat: Giảm sử dụng glucose cho
mục đích sinh năng lượng, tăng dự trữ glycogen ở tế bào, giảm vận chuyển
glucose vào tế bào và tăng nồng độ glucose trong máu.
Insulin là một protein nhỏ với trọng lượng phân tử 5.808. Nó được cấu
tạo bởi hai chuỗi acid amin có nối với nhau bằng những cầu nối disulfua. Khi
hai chuỗi acid amin này bị tách ra thì hoạt tính sẽ mất. Tác dụng lên chuyển
hoá carbohydrat: Tăng thoái hoá g lucose ở cơ và dự trữ glycogen ở cơ, tăng
thu nhập, dự trữ và sử dụng glucose ở gan, ức chế quá trình tạo đ ường mới.
Chính vì các tác dụng đã nêu nên insulin là hormon có tác dụng làm giảm
nồng độ glucose trong máu.
Glucagon được bài tiết từ tế bào alpha của tiểu đảo langerhans.
Glucagon là một polypeptid có 29 acid amin với trọng lượng phân tử là 3.485
Glucagon làm tăng g lucose máu do 2 ác
t dụng tăng phân g ải
i glyc ogen ở gan
do đó làm tăng nồng độ glucose máu sau vài phút, tăng tạo đường mới ở gan
Năm 2011 trong cuốn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội
khoa” [14] ĐTĐ được định nghĩa là: Tình trạng tăng đường huyết mạn tính
đặc trưng bởi những rối loạn chuyển hóa carbonhydrat, có kèm theo rối loạn
chuyển hóa lipid và protein do giảm tuyệt đối hoặc tương đối tác dụng sinh
học của insulin và/ hoặc tiết insulin.
1.2.2.2. Phân loại đái tháo đường
Đái tháo đường loại 1: Là cơ thể sản xuất ít hay không sản xuất insulin
do tế bào tuyến tụy bị phá hủy bởi chất trung gian miễn dịch. Sự phá hủy này
có thể nhanh hoặc chậm. Tiến triển nhanh gặp ở người trẻ
riệu chứng
- Đường huyế ương bất kỳ ≥11,1mmol/l
cói kèm theo các t
,
tăng
đườngtrường
huyết hợp
(khátkhông
nhiều,rõtiểu
nhiều
nh tra
ều, lại
gầynhư
sút).
- Trong
ràng
phải ăn
kiểm
với hầu hết các
xét nghiệm chẩn đoán. Kết quả phải được lặp đi lặp lại khi khả thi để loại trừ
lỗi trong phòng thí nghiệm, không nhất thiết phải trong 3 tháng trừ khi có một
chẩn đoán lâm sàng rõ rệt.
Chẩn đoán xác định với xét nghiệm lần thứ hai trừ khi có triệu chứng
của tăng glucose máu rõ và có glucose máu bất kỳ từ 11,1mmol/l trở lên. Nếu
2 xét nghiệm khác nhau đều đủ tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ thì được chẩn
đoán xác định. Nếu hai xét nghiệm khác nhau nên lặp lại cùng xét nghiệm có
Tiểu đường loại 2 là cơ thể sản xuất Insulin nhưng không sử dụng được
Insulin (đề kháng insulin), bệnh có tính gia đình, đặc trưng là kháng insulin đi
kèm với thiếu hụt insulin tương đối, tuổi >30, triệu chứng lâm sàng âm thầm,
thường phát hiện muộn, biến chứng cấp tính hay gặp là hôn mê tăng áp lực
thẩm thấu, có thể điều trị bằng chế độ ăn, thuốc uống hoặc insulin, tỉ lệ gặp
90-95%.
Hình 1.3: Sơ đồ nguyên nhân dẫn đến hội chứng đề kháng insulin
Quá trình sinh bệnh đái tháo đường typ 2
Tình trạng kháng insulin cũng xảy ra ở những người béo phì. Giai đoạn
sớm mức dung nạp glucose không thay đổi vì tụy tăng tiết insulin giữ cho
glucose huyết tương không tăng. Giảm dung nạp glucose là một trong các rối
loạn sớm nhất của đái tháo đường týp 2 hay tiền đái tháo đường. Sự tiết
insulin đạt đến đỉnh sẽ giảm nhạy cảm của tế bào bêta với glucose và sẽ giảm
tiết insulin và ĐTĐ týp 2 sẽ xuất hiện [2], [14], [18].
Hình 1.4: Sơ đồ cơ chế tăng đường huyết của người đái tháo đường týp 2
1.3. Những yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường typ 2 và biến chứng
1.3.1. Các yếu tố nguy cơ không thể can thiệp được
Tuổi: Yếu tố tuổi đặc biệt là tuổi từ 50 trở lên được xếp vào vị trí đầu
tiên trong các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ týp 2. Khi cơ thể già chức năng
tụy nội tiết cũng bị già theo và khả năng tiết insulin của tụy cũng giảm sút,
đồng thời với sự giảm nhậy cảm của tế bào đối với insulin, glucose máu tăng
và bệnh ĐTĐ thực sự xuất hiện.
Tiền sử gia đình có người bị ĐTĐ (yếu tố di truyền): Những đối tượng
có quan hệ huyết thống bị ĐTĐ thì tỷ lệ ĐTĐ cao gấp 4-6 lần người khác.
Con cái có bố mẹ bị ĐTĐ thì 40% có nguy cơ bị mắc bệnh ĐTĐ. Chị em ruột
Tiền sử sinh con nặng trên 4000g: Những đứa trẻ này trong giai đoạn
bào thai chúng phải nằm trong môi trường mẹ bị tiểu đường hoặc tiểu đường
lúc có thai. Do sự tăng glucose máu của mẹ sẽ kích thích sự trưởng thành của
tế bào bêta, tăng sinh đảo tụy, dẫn tới tăng tiết insulin ở giai đoạn bào thai.
Những trẻ này thường có tình trạng béo phì lúc nhỏ, giảm dung nạp glucose
và ĐTĐ khi lớn tuổi.
Lập trình bào thai Barker: Trẻ sơ sinh nhẹ cân, nguồn gốc bào thai
dung nạp glucose của mẹ thấp.
Tiền sử suy giảm dung nạp glucose: Những người có tiền sử suy giảm
dung nạp glucose khả năng tiến triển thành bệnh ĐTĐ rất cao. Những người
suy giảm dung nạp glucose chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn và luyện tập có thể
giảm nguy cơ tiến triển thành bệnh ĐTĐ thực sự.
Người có rối loạn đường huyết lúc đói, hoặc rối loạn dung nạp glucose.
Đây là nhóm người có glucose trong máu cao hơn trong giới hạn bình thường
nhưng chưa đủ tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường.
Tăng huyết áp (THA): Huyết áp 140/90 mmHg hoặc cao hơn.Khoảng
30-50% bệnh nhân ĐTĐ có tăng huyết áp. THA có thể xuất hiện trước hoặc
sau khi có ĐTĐ lâm sàng.
Béo phì: Nguy cơ hàng đầu của ĐTĐ týp 2. Năm 1985 Who công nhận
béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ của ĐTĐ không phụ thuộc insulin.
Béo phì trên 120% trọng lượng cơ thể lý tưởng là một yếu tố nguy cơ lớn với
bệnh ĐTĐ týp 2 [19].
Thừa cân (BMI ≥23 đối với người châu Á), béo dạng nam (vòng eo
≥90 cm đối với nam; hoặc vòng eo ≥80 cm đối với nữ, WHR cao). Hơn 80%
người bị mắc bệnh đái tháo đường týp 2 có thừa cân.
Rối loạn chuyển hóa Lipid và các Lipoprotein: Thành phần Lipid máu
ngh
l
i i i t
l
ị
ng góp vào
iên cứu cho rằng g ucocort co d g a ăng úc b stress có thể đó
sự đ
ếp hay gián
ề kháng insulin. Stress tác động đến sự đề kháng insulin trực ti
tiếp t
t
u và ức chế
hông qua tương tác với leptin dẫn đến ăng nồng độ leptin má
hoạt
l ti , t
vào sự đề
động của ep n húc đẩy tình trạng đề kháng leptin, góp phần
kháng insulin [22].
1.3.3. Biến chứng của bệnh đái tháo đường
- Biến chứng cấp tính: Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu, hôn mê nhiễm
ceton acid…
- Biến chứng mạn tính: Biến chứng mạch máu nhỏ, biến chứng mạch
máu lớn.
- Biến chứng mắt: tổn thương mắt trong ĐTĐ thường biểu hiện:
+ Viêm võng mạc ĐTĐ: không tăng sinh và tăng sinh
+ Đục thủy tinh thể: thể dưới vỏ và thể nhân trung tâm
Vì tần xuất biến chứng mắt trên bệnh nhân ĐTĐ rất cao nên tất cả bệnh
nhằm giảm tỷ lệ mới mắc đái tháo đường. Chẩn đoán sớm bệnh và theo dõi sự
tiến triển chặt chẽ của bệnh để hạn chể tối đa tỷ lệ đau ốm, tỷ lệ chết non có
liên quan đến ĐTĐ týp 2.
Trong các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ người ta đặc biệt quan tâm đến những
trường hợp rối loạn dung nạp glucose, rối loạn đường máu lúc đói, những bệnh
nhân này thường có kèm theo rối loạn chuyển hóa lipid giống người ĐTĐ týp 2
trong khi họ lại không biết ḿnh mắc bệnh, không có biện pháp pḥng chống và
điều trị đúng cách vv thế nguy cơ bị bệnh tim mạch cao.
Cách ngăn chặn phát triển thành bệnh đái tháo đường týp 2, ở người lớn
được chẩn đoán tiền đái tháo đường, nếu thực hiện việc thay đổi hành vi lối
sống có thể pḥng tránh và làm chậm quá tŕnh bệnh tiến triển lên thành ĐTĐ týp
2. Kết quả từ chương tŕnh pḥng chống bệnh ĐTĐ của cơ quan về dịch vụ sức
khỏe và con người Hoa Kỳ (HHS) tiến hành trên 3.000 người cho
thấy giảm từ 5 - 7% kg cân nặng có thể làm giảm 58% nguy cơ bệnh tiến triển
lên ĐTĐ týp 2. Có thể giảm cân bằng cách ăn kiêng (giảm chất béo và lượng
calo ăn vào) cũng như tập thể dục với mức độ vừa phải tối thiểu 150 phút một
tuần (hầu hết những người tham gia nghiên cứu chọn đi bộ).
Cùng với đó là sự phát triển của nền kinh tế xã hội, lối sống công
nghiệp, điều kiện kinh tế được cải thiện ăn quá nhiều năng lượng, ít vận động,
ăn quá nhiều năng lượng kết hợp với yếu tố di truyền làm gia tăng tỷ lệ ĐTĐ
týp 2.
1.4.2. Phòng bệnh với những người đã mắc bệnh đái tháo đường
1.4.2.1. Phòng bệnh để bệnh không tiến triển
Với đối tượng này mục đích phòng bệnh để làm giảm sự tiến triển của
bệnh hoặc làm giảm mức độ của biến chứng nhằm mục đích:
Nâng cao chất lượng điều trị dự phòng biến chứng ở người ĐTĐ
Phục hồi các cơ quan bị tổn thương
Nâng cao chất lượng giáo dục bệnh lý cho người bệnh
>10,0
HbA1c
%
< 6,5
≤7,5
>7,5
Đường niệu
%
0
≤0,5
>0,5
Chol toàn phần
mmol/l
BMI
Kg/m2
18,5-22,9
>23
Huyết áp
mmHg
≤120/80
Đường máu
≤140/90
>160/95
Đối với người mắc bệnh về mạch máu chol toàn phần
như sau:
c mục tiêu kiểm soát các chỉ số sinh hóa theo ADA năm 2015
[24]
tl
i:
- HbA1C< 7%
- Đường huyế úc đó 4,4 – 7,2
mg/dl).
/ l mmol/l (70-130
l/l)
- Lipid:
LDL
mg/dl(1,3
(
Nghiên cứu sau 6 năm tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng dần là 67,7% can thiệp dự
phòng đã giảm nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ týp 2 ở cả 3 nhóm lần lượt là
31%, 46% và 42% [28].
Nghiên cứu phòng ngừa ĐTĐ ở Phần Lan (2003) trên 522 người trung
niên thừa cân có rối loạn dung nạp glucose, mục tiêu của nhóm can thiệp là
làm giảm cân, giảm chế độ ăn nhiều mỡ, tăng vận động thể lực và ăn nhiều
chất xơ. Kết quả có cải thiện đáng kể từng mục tiêu can thiệp sau 1 đến
3 năm, cân năm, cân nặng giảm 4,5 kg (sau 1 năm) và 3,5 kg (sau 3 năm) và
ở nhóm chứng là 1,0 kg và 0,9 kg. Sau một năm can thiệp có sự cải thiện đáng
kể về lâm sàng và các chỉ số về chuyển hóa. Chỉ số glucose máu giảm ở nhóm
rối loạn glucose lúc đói (-0,2 so với 0,3 mmol/l), và chỉ số HbA1c (-0,1% so
với 0,1%) [29]. Trong nghiên cứu của chương tŕnh pḥng ngừa ĐTĐ của Mỹ
gần một nửa số người tham gia được chẩn đoán hội chứng chuyển hóa, nhóm
người có yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch cũng kèm với sự gia tăng đái tháo
đường týp 2. Trên những người với hội chứng chuyển hóa, 23% nhóm sử
dụng Metformin và 38% nhóm sử dụng thay đổi lối sống đều giảm hội chứng
chuyển hóa ở giai đoạn kết thúc nghiêncứu. Cả hai loại trị liệu thay đổi lối
sống và Metformin đều làm giảm sự phát triển hội chứng chuyển hóa.
Nhìn chung, thay đổi lối sống là bảo đảm và rất hiệu quả để phòng ngừa
ĐTĐ týp 2 và làm giảm nguy cơ tim mạch ở những người bị TĐTĐ týp 2
[30]. Những nghiên cứu trên chứng minh rằng TĐTĐ – ĐTĐ týp 2 có thể
phòng ngừa được bằng thay đổi lối sống hoặc bằng thuốc.
Theo một nghiên cứu tại Campuchia (2005) ở lứa tuổi từ 25 tuổi trở lên
mắc đái tháo đường tại Siemreap là 5% và ở Kampomg Cham là 11% [31].
Theo nghiên cứu của Tan MC, Ng OC, Wong TW, Hejar AR, Anthony
J, H Sintonen, Phòng Dinh Dưỡng và Chế Độ Ăn, Khoa Y học và Khoa học Y
tế công cộng, Trường Đại học Putra Malaysia, nghiên cứu “các hội chứng tim
mạch với suy giảm sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống với bệnh
tim mạch nên được nhấn mạnh.
1.5.2. Tình hình nghiên cứu đái tháo đường ở Việt Nam
Ở Việt Nam, sau nhiều năm đổi mới, kinh tế tăng trưởng nhanh đã phần
nào cải thiện cuộc sống và sức khoẻ cộng đồng. Song chúng ta nhận thấy rằng
sự biến đổi sâu sắc trong lối sống, đặc biệt của cư dân các đô thị như Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh. Xe máy, ô tô gần như đã thay thế xe đạp, các công
việc cần đến sức cơ bắp đã có đội ngũ người giúp việc làm thay. Mất cân
bằng trong việc nhận năng lượng và tiêu thụ năng lượng là yếu tố nguy cơ cho
các bệnh béo phì, tăng huyết áp, tăng mỡ máu và bệnh đái tháo đường phát
triển
Theo Nguyễn Huy Cường, năm 1999 – 2001, đă tiến hành điều tra 3.555
người từ 15 tuổi trở lên ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chung ở nội và ngoại
thành Hà Nội là 2,42%. Trong đó 64% mới phát hiện, tỷ lệ nội thành là 4,31%
và ngoại thành là 0,61% [33].
Nghiên cứu của Ngô Thanh Nguyên và cs (2012), nghiên cứu tình hình đái
tháo đường ở đối tượng từ 30 tuổi trở lên tại thành phố Biên Ḥa năm 2011 cho
thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ người 30 trở lên là 8,1%, trong đó nữ là 51,9% và nam là
48,1% [34].
Theo Phạm Thị Lan Anh: Nghiên cứu trà nụ vối, lá ổi, lá sen có tác dụng
làm chậm tiến triển ĐTĐ, kiểm soát đường máu sau ăn, kiểm soát đường máu
lâu dài trên bệnh nhân ĐTĐ tưp 2. So sánh nhóm chứng với nhóm sử dụng
loại trà này có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [35].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Lành năm 2014: Thực trạng bệnh
ĐTĐ, tiền ĐTĐ ở người Khmer tỉnh Hậu Giang và đánh giá hiệu quả một số
biện pháp can thiệp cho kết quả. Qua điều tra 1100 người dân, tỷ lệ hiện mắc
đái tháo đường là 11,91%, trong đó tỷ lệ mới phát hiện 78,6% trên tổng số
bệnh nhân [36].