Cơ cấu bệnh tật bệnh nhân nội trú và khả năng đáp ứng của bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh vĩnh phúc giai đoạn 2005 2014 - Pdf 54

1

CƠ CẤU BỆNH TẬT BỆNH NHÂN NỘI TRÚ VÀ KHẢ
NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TUYẾN HUYỆN TỈNH VĨNH PHÚC
GIAI ĐOẠN 2005-2014


2

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cơ cấu bệnh tật (CCBT) của một cộng đồng, một quốc gia là sự phản
ánh tình hình sức khỏe, tình hình kinh tế - xã hội của cộng đồng hay quốc gia
đó. Việc xác định CCBT để đưa ra bằng chứng giúp cho ngành y tế xây dựng
kế hoạch bệnh viện hàng năm cũng như kế hoạch chăm sóc sức khỏe cộng
đồng trên địa bàn một cách toàn diện, đầu tư cho công tác khám chữa bệnh,
phòng bệnh.
CCBT luôn luôn thay đổi, tương ứng với sự biến đổi của khí hậu, điều
kiện sống, nền kinh tế, xã hội và một phần là tác động của các dịch vụ y tế.
Theo Omran (1997) sự chuyển đổi của CCBT được phân chia thành 4 giai
đoạn với sự nổi trội của từng nhóm bệnh: Giai đoạn của dịch bệnh và đói
kém; giai đoạn rút lui của các đại dịch; giai đoạn các bệnh không lây; giai
đoạn của các bệnh thoái hoá chậm [1].
Ở Việt Nam, CCBT hiện nay đang trong thời kỳ chuyển đổi dịch tễ
học, với gánh nặng bệnh tật kép. Tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm đã giảm,
nhưng một số bệnh lây nhiễm đang có nguy cơ quay trở lại; tỷ lệ mắc các
bệnh không lây ngày càng gia tăng; tai nạn, chấn thương, ngộ độc tăng nhanh;
một số dịch bệnh mới, bệnh lạ xuất hiện và diễn biến khó lường
[2],[3],[4],[5],[6],[7]. Theo số liệu thống kê từ các bệnh viện của Bộ Y tế, tỷ

trọng nhập viện của nhóm các bệnh lây nhiễm chiếm khoảng 55,5% năm 1976

có lại không được sử dụng. Một số câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu này là:
CCBT và số lượng bệnh nhân điều trị nội trú tại các BV tuyến huyện ra sao?
Có khác nhau gì trong giai đoạn 2005-2014 , giữa các huyện và 3 nhóm huyện
theo điều kiện kinh tế xã hội - địa lý? Khả năng đáp ứng của các BV huyện
với CCBT như thế nào trong 10 năm qua? Để góp phần trả lời những câu hỏi
trên, đề tài “Cơ cấu bệnh tật bệnh nhân nội trú và khả năng đáp ứng của
bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2014” được
tiến hành nhằm mục tiêu sau:


4

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1. Mô tả cơ cấu và xu hướng bệnh tật của bệnh nhân nội trú tại các
bệnh viện đa khoa tuyến huyện trong tỉnh Vĩnh Phúc các năm 2005, 2010 và
2014.
2. Phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của 3 bệnh
viện huyện đại diện 3 vùng của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014.


5

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nghiên cứu cơ cấu bệnh tật
1.1.1 Khái niệm cơ cấu bệnh tật
- Cơ cấu: Cách tổ chức sắp xếp các thành phần trong nội bộ nhằm thực
hiện một chức năng chung [12].
- Bệnh ở con người: là trạng thái cơ thể hoặc bộ phận cơ thể hoạt động
không bình thường [13].


Chương II:

Khối u

Chương III:

Bệnh máu, cơ quan tạo máu và một số rối loạn liên
quan cơ chế miễn dịch

Chương IV:

Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa

Chương V:

Rối loạn tâm thần và hành vi

Chương VI:

Bệnh hệ thần kinh

Chương VII:

Bệnh mắt và phần phụ

Chương VIII:

Bệnh tai và xương chũm



Chương XVI:

Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh

Chương XVII:

Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường của nhiễm sắc
thể

Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng
và cận lâm sàng bất thường, không phân loại ở nơi
khác
Chương XIX:

Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do
nguyên nhân bên ngoài

Chương XX:

Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong

Chương XXI:

Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và việc
tiếp xúc với cơ quan y tế [14].

1.1.3. Nghiên cứu cơ cấu bệnh tật của cộng đồng
Các kỹ thuật thu thập thông tin được áp dụng phổ biến là: phỏng vấn,
khám lâm sàng cho các hộ gia đình, sử dụng số liệu sẵn có từ các hồ sơ bệnh

chung với bệnh tật.
+ YLL (Years of Life Lost): Số năm sống tiềm tàng bị mất đi do chết
non (trước hy vọng sống khi sinh).
1.1.3.3. Dựa trên số liệu từ bệnh án, sổ sách, biểu mẫu báo cáo thống
kê lưu trữ tại bệnh viện
Đây là phương pháp sử dụng số liệu sẵn có tại BV. Theo quy định của
Bộ Y tế, những chỉ số về nguồn lực, những hoạt động của bệnh viện tỉnh,
huyện thuộc các địa phương là những số liệu phải báo cáo định kỳ hàng năm
[25]. Trong hệ thống sổ sách, biểu mẫu báo cáo thống kê y tế của Bộ Y tế ban
hành [26] gồm có: Báo cáo thống kê y tế tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương; báo cáo thống kê y tế tuyến quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh và
báo cáo thống kê y tế xã, phường, thị trấn. Báo cáo thống kê y tế tuyến quận,
huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là báo cáo huyện-BCH) gồm 15


9

biểu từ biểu 01/BCH đến biểu 15/BCH. Trong đó, thong tin trong các biểu rất
có giá trị được sử dụng cho nghiên cứu này là Biểu 01/BCH: Đơn vị hành
chính, dân số và tình hình sinh tử tại y tế huyện; biểu 02/BCH: Tình hình thu,
chi ngân sách y tế huyện; biểu 04/BCH: Tình hình nhân lực y tế huyện; biểu
15/BCH: Tình hình bệnh tật, tử vong tại bệnh viện huyện theo ICD-10. Nội
dung của biểu 15/BCH gồm có 5 cột là cột 1: Số thứ tự; cột 2: Tên bệnh gồm
21 chương bệnh theo ICD-10; cột 3: Mã ICDX code gồm 3 ký tự theo vần A,
B, C từ A00 đến Z99; cột 4: Tại khoa khám bệnh gồm tổng số, số nữ, số trẻ
em
số ngày nằm viện, chẩn đoán hoặc triệu chứng bệnh. Các thông tin này cho
phép phân tích sâu về sử dụng dịch vụ KCB của người dân trên địa bàn mà
không cần phải sử dụng đến bệnh án [22].
Trường hợp bệnh viện sử dụng phần mềm báo cáo thống kê kết quả rất
nhanh chóng được cập nhật và phân tích cho cả mục đích nghiên cứu khoa
học cũng như báo cáo và lập kế hoạch, điều hành hoạt động BV.
1.2. Tình hình nghiên cứu cơ cấu bệnh tật
1.2.1. Tình hình nghiên cứu cơ cấu bệnh tật ở nước ngoài
Trong nhiều năm đã chứng minh sức khoẻ của người dân thường phản
ánh trung thành điều kiện sinh sống về kinh tế, văn hoá, xã hội, tập quán và
yếu tố môi trường gần gũi với nơi mà họ sinh sống, trong đó sử dụng CCBT
làm nguồn số liệu quan trọng nhất hoặc duy nhất. CCBT được thống kê dựa
trên số liệu BV, nghĩa là số BN đã điều trị nội trú. Cũng như ở Việt Nam, mỗi
trường hợp nhập viện được thống kê, không thể thống kê theo người bệnh. Tổ


11

chức Y tế thế giới (WHO) cũng cho phép ước tính từ số liệu báo cáo BV ra tỷ
suất mắc từng bệnh hoặc nhóm bệnh cho cộng đồng dân cư [29].
Ở Brunei, là một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người
cao nhất thế giới và đầu tư cho y tế lớn nhất thế giới. Trong 10 bệnh hàng đầu
hay gặp, chỉ có một bệnh nhiễm khuẩn là nhiễm khuẩn đường hô hấp, còn lại
chủ yếu là những bệnh không lây (tim mạch, đái tháo đường, hen...). Ngược
lại ở Campuchia, một đất nước nghèo, các bệnh thường gặp lại là những bệnh
lây nhiễm (sốt rét, lao, tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết, nhiễm khuẩn hô hấp
cấp...) là các bệnh còn phổ biến ở các nước đang phát triển [30].
Cùng là vùng lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng CCBT ở Hong Kong và
Ma Cao có sự khác biệt rõ rệt. Hong Kong trước năm 1997, là thuộc địa của
Anh, có mức sống cao, do đó cơ cấu bệnh tật của Hong Kong gần giống

cao trong gánh nặng bệnh tật do chết non [29].
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trong niên giám thống kê y tế Việt Nam, số liệu về số mắc, số chết và
CCBT từ năm 1976 đến 2008 thì tỷ lệ giữa các bệnh lây - không lây - tai nạn,
chấn thương, ngộ độc năm 1976 là 55,5% - 42,6% - 1,8%; đến năm 2008 tỷ lệ
này là 22,9% - 66,3% -10,8% [5],[8],[11]. Như vậy sau hơn 30 năm, CCBT ở
nước ta đã thay đổi. Xu hướng mắc các không bệnh lây nhiễm và tai nạn,
chấn thương ngày càng tăng, các bệnh lây nhiễm ngày càng giảm. Từ đó, cho
thấy hiệu quả của công tác phòng chống các bệnh nhiễm trùng, phòng chống
tai nạn - thương tích đã dần phát huy trong việc làm giảm số ca mắc bệnh và
tử vong.
Nghiên cứu của Trần Văn Bảo cho thấy CCBT của Nghệ An có biểu
hiện của thời kỳ chuyển tiếp: Bệnh nhiễm khuẩn ký sinh trùng giảm rõ
(2,07%), các bệnh có vacxin tiêm chủng giảm hẳn, bệnh chấn thương, ngộ


13

độc, dị tật bẩm sinh có chiều hướng gia tăng. Bệnh lý thường gặp ở cộng
đồng là bệnh về răng miệng và viêm đường hô hấp. Nhóm bệnh có liên quan
đến yếu tố môi trường, điều kiện sinh hoạt, môi trường sinh thái còn gặp
tương đối nhiều. Bệnh tăng huyết áp là bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất trong nhóm
bệnh hệ tuần hoàn. Nhóm bệnh này là một trong 10 bệnh phổ biến nhất hiện
nay [31].
Lương Thị Bình và cộng sự nghiên cứu CCBT tại BVĐK Xuân Lộc Đồng Nai 5 năm 2001-2005 cho thấy: Các nhóm bệnh đứng hàng đầu là chấn
thương, ngộ độc; tiếp theo là bệnh hô hấp; thai nghén, sinh đẻ và sau đẻ;
nhiễm trùng và kí sinh trùng [32].
Nghiên cứu CCBT tại BV huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn từ
năm 2010 đến 2012 cho thấy [33]: Mười chương bệnh phổ biến nhất, chương
bệnh thuộc hệ hô hấp (X) chiếm tỷ lệ cao nhất: 42,22%; chương các bệnh

nào trong cả tỉnh cũng như cho tuyến huyện ở Vĩnh Phúc.
1.3 Nghiên cứu về hoạt động khám chữa bệnh
1.3.1. Hoạt động khám bệnh
Do mức sống được nâng cao, người dân ngày càng quan tâm đến sức
khỏe của mình hơn nên nhu cầu khám chữa bệnh cũng tăng lên. Hiện nay, sự
đầu tư dành cho ngành y tế ngày càng được quan tâm, trang thiết bị từng bước
hiện đại hơn nên chất lượng khám chữa bệnh cũng tốt hơn đòi hỏi người thầy
thuốc phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao hơn để có đủ khả năng sử
dụng trang thiết bị được đầu tư.
Một số chỉ số khám chữa bệnh của cả nước đạt khá cao. Năm 2000, số
lần khám bệnh trung bình/người là 1,77 lần [36]. Năm 2001, khám bệnh trung
bình/người là 1,87 lần và năm 2002 khám bệnh trung bình/người là 1,95 [37].
Năm 2010, khám bệnh trung bình/người là 2,33 lần [38].


15

1.3.2. Hoạt động điều trị
Theo thống kê y tế năm 2000, ngày điều trị trung bình của một bệnh
nhân nội trú là 8,5 ngày trong đó tuyến trung ương là 14,12 ngày, y tế các
ngành là 12,5 ngày và tuyến y tế địa phương 7,8 ngày [39]. Năm 2009, số
ngày điều trị nội trú trung bình của một bệnh nhân nội trú là 6,99 ngày trong
đó tuyến trung ương là 10,78 ngày; y tế các ngành là 11 ngày và tuyến y tế địa
phương là 6,7 ngày [40]. Năm 2011, số ngày điều trị nội trú trung bình của
một bệnh nhân nội trú là 6,83 ngày trong đó tuyến trung ương là 9,41 ngày; y
tế các ngành là 6,55 ngày và tuyến y tế địa phương là 6,61 ngày [41].
Số giường bệnh trên phạm vi toàn quốc giường bệnh/10.000 dân qua
các năm đang có xu hướng tăng: 2000 là 23,35; năm 2005 là 23,43, năm 2011
là 27,06 [39],[40],[41],[42].
Theo thống kê y tế 2012, Số cơ sở BV huyện trong cả nước là 622 với

diện tích cả nước, thuộc nhóm các tỉnh có diện tích nhỏ nhất trong 63 tỉnh,
thành phố. Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng. Vĩnh Phúc
còn là địa phương nằm trong vùng quy hoạch lớn của Trung ương: Vùng
Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng Thủ đô. Từ một tỉnh thuần nông, Vĩnh
Phúc ngày nay đã trở thành một tỉnh có ngành công nghiệp phát triển và đang
trở thành trung tâm công nghiệp lớn của vùng Đồng bằng sông Hồng.
Với vị trí địa lý của một tỉnh nằm ở vùng đỉnh của đồng bằng châu thổ
sông Hồng, khoảng giữa của miền Bắc nước ta, thuộc vùng bán sơn địa - khu
vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng. Vì vậy, Vĩnh Phúc có ba vùng
sinh thái là đồng bằng ở phía Nam tỉnh, trung du ở phía Bắc tỉnh, vùng núi ở
huyện Tam Đảo [46].


17

1.4.2. Về tổ chức hành chính, kinh tế-xã hội
Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc là: Thành phố
Vĩnh Yên (tỉnh lỵ), thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Bình Xuyên, Lập Thạch,
Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc (sau đây gọi chung là
huyện) [46].
Các đơn vị hành chính được chia làm 3 nhóm huyện theo đặc điểm địa
lý, kinh tế-xã hội: Nhóm các huyện vùng núi, kinh tế - xã hội khó khăn, nghèo
gồm: Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô; nhóm các huyện trung du chuyển tiếp
giữa miền núi và đồng bằng, kinh tế - xã hội ở mức trung bình gồm: Bình
Xuyên, Tam Dương; nhóm các huyện, thị, thành vùng đồng bằng và đô thị,
kinh tế phát triển gồm: Vĩnh Tường, Yên Lạc, thị xã Phúc Yên và thành phố
Vĩnh Yên [47],[48],[49].
1.3.3. Dân số, dân cư và dân tộc
Dân số tỉnh Vĩnh Phúc cuối năm 2014 có khoảng 1.052.000 người [48].
Tình hình biến động dân cư của tỉnh tương đối phức tạp. Tỷ lệ tăng dân số tự

thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản suất gieo trồng rau quả; sử
dụng hóa chất trong chăn nuôi… đang là vấn đề nóng hàng ngày trong đời
sống dân cư [46].
1.4.5. Thiên tai, dịch bệnh
Là địa phương hàng năm thường có lượng mưa lớn, kéo dài, lũ quét
nhiều vùng ngập lụt cục bộ, gây ra các dịch bệnh thường phát sinh chủ yếu
các bệnh về đường ruột, bệnh sốt xuất huyết, sốt rét, bệnh Tay-chânmiệng…[46].
1.4.6. Mạng lưới khám chữa bệnh trong tỉnhVĩnh Phúc


19

Toàn tỉnh có 15 bệnh viện công lập trực thuộc Sở Y tế quản lý với tổng
số 2.620 giường bệnh, gồm: 6 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh; 9
BVĐK tuyến huyện. Ngoài ra, còn có 3 bệnh viện của Trung ương, bộ, ngành
và 1 bệnh viện tư nhân đóng trên địa bàn tỉnh. Tuyến xã có 137 trạm y tế xã,
phường thị trấn và gần 200 phòng khám đa khoa, chuyên khoa tư nhân [50].

1.4.7. Hệ thống y tế tuyến huyện
1.3.7.1. Khái niệm về huyện
Huyện là một đơn vị tổ chức đầy đủ về chính quyền và hành chính
địa phương. Ở Việt Nam, hiện nay có 622 đơn vị huyện và tương đương
liên quan đến công tác quản lý và chăm sóc sức khỏe nhân dân [43].
1.3.7.2. Mạng lưới Bệnh viện đa khoa tuyến huyện trong tỉnh Vĩnh Phúc
Có 9 bệnh viện đa khoa huyện với tổng số 980 GB, gồm:
(1) Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Tường: 170 GB;
(2) Bệnh viện đa khoa huyện Lập Thạch: 130 GB;
(3) Bệnh viện đa khoa huyện Tam Dương: 120 GB;
(4) Bệnh viện đa khoa huyện Yên Lạc: 120 GB;
(5) Bệnh viện đa khoa huyện Bình Xuyên: 120 GB;

cho 3 vùng địa lý, kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc là Bệnh viện đa khoa
huyện Lập Thạch (đại diện cho vùng núi, kinh tế khó khăn của tỉnh), Bệnh
viện đa khoa huyện Vĩnh Tường (đại diện cho vùng đồng bằng, đô thị, kinh tế
phát triển của tỉnh), Bệnh viện đa khoa huyện Bình Xuyên (đại diện cho vùng
trung du chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, kinh tế trung bình của tỉnh).
2.2. Đối tƣợng nghiên cứu
2.2.1. Cỡ mẫu nghiên cứu: Mẫu toàn bộ, bao gồm: Toàn bộ các báo
cáo bệnh viện huyện hàng năm của 9 BV huyện tỉnh Vĩnh Phúc trong 3 năm
cách nhau 5 năm 2005, 2010, 2014; toàn bộ sổ theo dõi bệnh nhân nội trú tại
các khoa phòng năm 2014 của 3 BV huyện đại diện cho 3 vùng kinh tế- xã
hội của tỉnh.
2.2.1.1. Các báo cáo bệnh viện hàng năm
- Đối tượng nghiên cứu là biểu mẫu thống kê y tế (Báo cáo bệnh viện
huyện) của 9 BVĐK tuyến huyện trong tỉnh Vĩnh Phúc, bao gồm BVĐK
huyện: Vĩnh Tường, Lập Thạch, Yên Lạc, Tam Dương, Bình Xuyên, Tam
Đảo, Sông Lô, BVĐK thành phố Vĩnh Yên và BVĐK thị xã Phúc Yên trong 3
năm (3 thời điểm) cách nhau 5 năm: Năm 2005 (từ 01/1/2005 đến
31/12/2005), năm 2010 (từ 01/1/2010 đến 31/12/2010) và năm 2014 (từ
01/1/2014 đến 31/12/2014).


22

- Các Biểu mẫu Báo cáo bệnh viện huyện của 9 BVĐK tuyến huyện
trên, trong thời gian trên đang được lưu trữ tại phòng Kế hoạch tổng hợp - Sở
Y tế tỉnh Vĩnh Phúc.
2.2.1.2. Sổ theo dõi bệnh nhân nội trú tại các khoa phòng năm 2014 của
3 BV huyện đại diện cho 3 vùng kinh tế- xã hội của tỉnh (Vĩnh Tường, Bình
Xuyên, Lập Thạch)
Phân tích phân bố người bệnh theo các khoa lâm sàng và theo:

- Nhân lực, trang thiết bị và kinh phí.
- Tổ chức và chỉ số đầu ra (hoạt động) BV theo chức năng nhiệm vụ,
phân tuyến kỹ thuật BVĐK huyện, nghiên cứu đi sâu vào nguồn nhân lực,
trang thiết bị, tài chính thu - chi, sử dụng thuốc, hiệu suất hoạt động (các chỉ
số như trong bảng các chỉ số số nghiên cứu, tiểu mục 2.3.3.1 và 2.3.3.2).
2.3.3. Phương pháp thu thập thông tin
- Hồi cứu qua sổ sách báo cáo thống kê (báo cáo huyện) của 9 BVĐK
huyện trong tỉnh Vĩnh Phúc trong các năm 2005, 2010, 2014.
- Phân tích số liệu trực tiếp từ các sổ theo dõi BN của từng khoa lâm
sàng năm 2014 tại 3 BV đại diện cho 3 vùng kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh
Phúc (chọn đại diện mỗi nhóm huyện một bệnh viện) là Bệnh viện đa khoa
huyện Lập Thạch, Bệnh viện đa khoa huyện Bình Xuyên và Bệnh viện đa
khoa huyện Vĩnh Tường.
- Số liệu được tập hợp trong biểu mẫu, sau đó được nhập vào máy tính,
phân tích trên phần mềm thống kê.


24

2.3.3.1. Bệnh tật
Mục tiêu 1
Mô tả cơ cấu

Chỉ số
1. Nhóm chỉ số tỷ lệ chứng bệnh theo ICD-

Phƣơng pháp
thu thập
thông tin



các năm 2005,

VI. Bệnh của hệ thống thần kinh

2010 và 2014.

VII. Bệnh của mắt và phần phụ
VIII. Bệnh tai và xương chũm
IX. Bệnh hệ tuần hoàn
X. Bệnh hệ hô hấp
XI. Bệnh hệ tiêu hóa
XII. Bệnh của da và mô dưới da
XIII. Bệnh của hệ cơ, xương khớp và mô liên
kết
XIV. Bệnh hệ tiết niệu-sinh dục
XV. Chửa, đẻ và sau đẻ
XVI. Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ chu
sinh
XVII. Dị tật bẩm sinh, biến dạng bất thường
về nhiễm sắc thể
XVIII. Các triệu chứng, dấu hiệu và những

báo cáo bệnh
viện huyện


25

biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status