Kết quả điều trị bệnh trĩ bằng phẫu thuật longo tại bệnh viện trường đại học y khoa thái nguyên - Pdf 40

1

=

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BỘ Y TẾ

TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC

HOÀNG LÊ MINH

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ
BẰNG PHẪU THUẬT LONGO TẠI BỆNH VIỆN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN BÁC SỸ NỘI TRÚ BỆNH VIỆN

THÁI NGUYÊN – NĂM 2015
ĐẶT VẤN ĐỀ
ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN




2

Bệnh trĩ là một bệnh thường gặp và đã được biết đến từ lâu trong lịch sử.
Đây là bệnh lý lành tính, không gây tử vong nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Bệnh trĩ là tập hợp những rối loạn

dụng rộng rãi ở nhiều cơ sở y tế như: Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức áp dụng
từ năm 2001, Bệnh viện đa khoa trung ương Huế, Bệnh viện Trường Đại học
Y khoa Thái Nguyên áp dụng từ năm 2008… [10], [11], [30]. Đã có nhiều đề
tài, nghiên cứu theo dõi, đánh giá hiệu quả của phương pháp này tại các bệnh
viện khác nhau. Tuy nhiên thời gian đánh giá kết quả sau phẫu thuật còn
ngắn, có rất ít nghiên cứu đánh giá kết quả xa và phân tích các yếu tố liên
quan đến kết quả của điều trị bệnh trĩ bằng phẫu thuật Longo. Để góp phần
đánh giá kết quả xa của phương pháp này và tìm hiểu mối liên quan của một
số yếu tố đến kết quả điều trị, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Kết quả điều trị bệnh trĩ bằng phẫu thuật Longo tại Bệnh viện Trường
Đại học Y khoa Thái Nguyên”
Với 2 mục tiêu sau:
1. Đánh giá kết quả điều trị bệnh trĩ bằng phẫu thuật Longo tại
Bệnh viện Trƣờng Đại học Y khoa Thái Nguyên giai đoạn 01/20107/2013.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị bệnh trĩ
bằng phƣơng pháp Longo.

ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN




4

Chƣơng 1
TỔNG QUAN

1.1. Giải phẫu và sinh lý hậu môn trực tràng
Hậu môn có vai trò khá đặc biệt, đảm bảo sao cho việc đại tiện được điều
hoà, khi thì phải giữ kín phân và hơi trong cơ thể, khi khác lại phải tống được

1.1.1.2. Cơ vùng hậu môn
OHM có hai cơ vòng là cơ thắt trong, cơ thắt ngoài và một cơ dọc. Các
cơ vùng HM có tác dụng nâng và thắt OHM.
Cơ thắt trong ( cơ tròn trong) thuộc hệ cơ trơn, là vòng của thành ruột
ở chỗ nối tiếp hậu môn trực tràng, dày lên tới 5 – 8mm, bao quanh 3/4 trên
ống hậu môn và tận hết ở ngang mức đường trắng.
Cơ thắt ngoài (cơ tròn ngoài) thuộc hệ cơ vân, bao quanh toàn bộ
chiều dài của OHM, gồm có 3 phần là phần dưới da, phần nông và phần sâu.
Goligher cho rằng không có sự tách biệt rõ ràng giữa 3 phần của cơ thắt
ngoài HM. Ở chỗ nối tiếp hậu môn trực tràng, cơ mu – trực tràng, phần sâu cơ
thắt ngoài và cơ thắt trong cùng phối hợp tạo một vòng cơ hậu môn – trực
tràng có chức năng quan trọng trong tự chủ hậu môn [20].
Cơ dọc của trực tràng đi từ trên xuống, đến chỗ nối tiếp HMTT hoà lẫn
với các sợi mu – cụt của cơ nâng HM và các mô sợi đàn hồi tạo nên cơ dọc
kết hợp nằm giữa các cơ thắt trong và ngoài. Từ cơ dọc kết hợp của OHM có
các sợi xơ – cơ xuyên qua cơ thắt trong rồi bám chặt vào lớp biểu mô của
niêm mạc OHM ở vùng lược (vùng Pecten). Các sợi xơ – cơ này được gọi là
dây chằng Parks, phân cách vùng lỏng lẻo dưới niêm mạc OHM (khoang
dưới niêm mạc) và vùng lỏng lẻo dưới da HM (khoang quanh HM) làm cho
các đám rối tĩnh mạch (TM) trĩ trong không thông nối với đám rối TM trĩ
ngoài [15], [17], [20].
1.1.1.3. Lớp niêm mạc hậu môn
Lòng ống hậu môn được phủ bởi lớp biểu mô với cấu trúc thay đổi dần
từ trong ra ngoài, thực chất đây là sự chuyển tiếp giữa niêm mạc trực tràng và
da quanh lỗ hậu môn, bắt đầu bằng lớp tế bào trụ đơn giống biểu mô tuyến
ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN









7

Hình 1.1. Thiết đồ đứng ngang qua giữa hậu môn trực tràng [9]
1.1.1.4. Mạch máu của hậu môn – trực tràng
* Động mạch: có ba động mạch cấp máu cho vùng này.
ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN




8

Hình 1.2. Động mạch vùng hậu môn trực tràng [9]
Động mạch trực tràng trên (động mạch trĩ trên): là nhánh tận của động
mạch mạc treo tràng dưới. Động mạch này chia 3 nhánh; nhánh phải trước,
nhánh phải sau và nhánh trái bên (trùng với vị trí ba búi trĩ chính thường gặp trên
lâm sàng) 11h, 8h, 3h [16], [17] , [63]. Các nhánh này nối thông với nhau và
nối thông với các tĩnh mạch qua shunt.
Động mạch trực tràng giữa (động mạch trĩ giữa): động mạch trực tràng
giữa bên phải và bên trái xuất phát từ động mạch hạ vị, cấp máu cho phần
dưới bóng trực tràng và phần trên của ống hậu môn [16], [20].
Động mạch trực tràng dưới (động mạch trĩ dưới): động mạch trực tràng
dưới bên phải và bên trái xuất phát từ động mạch thẹn trong cấp máu cho hệ thống
cơ thắt, các nhánh tận cấp máu cho 1/3 dưới hậu môn và vùng da hậu môn.

ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN

của hai hệ thần kinh này.
* Thần kinh sống: hệ thần kinh sống có dây thần kinh hậu môn, tách từ
dây cùng III và dây cùng IV. Dây này vận động cơ thắt hậu môn và cảm giác
vùng quanh lỗ hậu môn, phẫu thuật làm tổn thương dây này sẽ gây nên mất tự
chủ khi đại tiện [28].
* Thần kinh thực vật: hệ thần kinh thực vật có các sợi thần kinh tách từ
đám rối hạ vị.
Các dây giao cảm từ các hạch giao cảm thắt lưng.
Các sợi phó giao cảm xuất phát từ hai nguồn.
Các sợi tận cùng của dây thần kinh X đi qua đám rối mạc treo tràng dưới,
qua dây cùng trước và dây hạ vị đi xuống. Các nhánh này vận động và chỉ
huy việc tiết dịch trực tràng [20], [28].
Các dây cương tách ra từ đoạn cùng của tuỷ sống và mượn đường đi của
rễ trước thần kinh cùng II, III, IV tới đám rối hạ vị chi phối cho các tạng niệu
dục, điều này giải thích cho việc rối loạn tiểu tiện ở các bệnh nhân có phẫu
thuật ở vùng hậu môn trực tràng do sự chi phối của thần kinh thực vật.
1.1.2. Sinh lý hậu môn trực tràng
1.1.2.1. Chức năng sinh lý của ống hậu môn
Chức năng sinh lý của ống hậu môn là đào thải phân bằng động tác đại
tiện, bình thường đây là một hoạt động tự chủ. Đại tiện, trung tiện là chức
năng sinh lý đặc biệt quan trọng của hậu môn. Chức năng tự chủ của hậu môn
phụ thuộc vào nhu động đẩy phân của đại tràng, sự co giãn của bóng trực
tràng, vai trò của hoành chậu hông, bó mu trực tràng của cơ nâng hậu môn,
động tác rặn làm thẳng góc giữa trực tràng và ống hậu môn, cuối cùng là sự
đáp ứng của hệ thống cơ thắt hậu môn với kích thích về áp lực. Áp lực trong
ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN









12

gấp 90o, hiệu ứng van sẽ bị triệt tiêu, áp lực trong TT lên rất cao từ 100 - 200
mmHg, vượt quá sức cản của OHM, phân bị tống ra ngoài.
1.2. Sinh bệnh học bệnh trĩ
Kết quả các công trình nghiên cứu về mạch máu và mô học cho thấy trĩ
là một cấu trúc mạng mạch bình thường được nhiều tác giả công nhận [27].
Thomson .W (1975) cho rằng trĩ có vai trò trong việc khép kín lòng hậu môn
và tìm ra lớp đệm HM, đó chính là vị trí các búi trĩ có độ dày không đều sắp
xếp không đối xứng tại các vị trí 3 giờ - 8 giờ - 11 giờ (tư thế sản khoa) [72].
Trĩ tạo ra lớp đệm vùng ống hậu môn có vai trò trong cơ chế tự chủ hậu môn.
Khi lòng ống hậu môn rỗng, xẹp thì các búi trĩ tạo thành chữ Y lộn ngược. Sự
sắp xếp này là lý tưởng để lớp dưới niêm mạc có thể thích nghi được kích
thước luôn thay đổi của ống hậu môn. Trong một số điều kiện bệnh lý nào đó,
một trục ĐM bị tắc nghẽn chẳng hạn thì mạng mạch trĩ sẽ đóng vai trò bù trừ
mà bình thường vai trò của nó ít được biết đến. Khi mất khả năng bù trừ đó sẽ
sinh ra khủng hoảng mạch trĩ và xuất hiện triệu chứng chảy máu gặp trong
bệnh trĩ [22], [44].
Hiện nay có hai thuyết về cơ chế phát sinh bệnh trĩ được nhiều người
chấp nhận là thuyết tuần hoàn và thuyết cơ học. Theo thuyết tuần hoàn, sự rối
loạn điều hoà thần kinh vận mạch gây phản ứng quá mức điều chỉnh bình
thường của mạng mạch trĩ và vai trò của các shunt động tĩnh mạch; khi các
yếu tố khởi bệnh tác động làm các shunt mở rộng, máu ĐM chảy vào ồ ạt làm
các đám rối TM bị đầy giãn quá mức; nếu lúc đó lại có một nguyên nhân gây
cản trở máu về (như rặn mạnh vì táo bón…) thì các mạch máu phải tiếp nhận
một lượng máu quá khả năng chứa đựng nên giãn ra (xung huyết) và nếu quá

vòng trĩ khi đi ngoài hoặc gắng sức, búi trĩ sa nặng nhẹ tùy mức độ có thể tự
co được, phải dùng tay đẩy vào hậu môn, hoặc sa tụt hẳn ra ngoài lỗ hậu môn.
Búi trĩ sa làm bệnh nhân khó chịu, đau rát hậu môn, tiết dịch gây ẩm ướt,
viêm loét hậu môn [8], [17].
Trĩ tắc mạch: bình thường trĩ không gây đau, đau là do biến chứng tắc
mạch sa nghẹt búi trĩ. 15% số bệnh nhân có những đợt tắc mạch.

ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN




14

Trĩ ngoại tắc mạch: kích thước búi trĩ thường nhỏ đơn độc, nằm dưới da
hậu môn, đa số tự tiêu để lại miếng da thừa ở rìa hậu môn.
Trĩ nội tắc mạch: hiếm gặp hơn, biểu hiện bằng những cơn đau dữ dội
trong ống hậu môn.
Sa trĩ tắc mạch: đau dữ dội vùng hậu môn, khó có thể đẩy búi trĩ vào
lòng hậu môn, thường kèm theo phù nề nếu tiếp tục tiến triển sẽ hoại tử.
Trong nghiên cứu của tác giả, Beattie G. C. (2000) thấy 51% ỉa máu,
19% sa trĩ và 30% ngứa và chảy dịch ở hậu môn ở nhóm có 43 bệnh nhân
được điều trị phẫu thuật. Trịnh Hồng Sơn thấy 58% bệnh nhân trĩ có đại tiện
từng đợt ra máu tươi và sa trĩ ở hậu môn [34], [40].
1.3.1.2. Thăm khám
Thăm trực tràng: thăm hậu môn trực tràng rất khó xác định búi trĩ nhưng
là một thăm khám bắt buộc để loại trừ các bệnh khác của hậu môn trực tràng,
như ung thư hậu môn - trực tràng hay nhận định biến chứng tắc mạch, đánh
giá tình trạng cơ thắt hậu môn.
Soi hậu môn trực tràng: soi hậu môn là động tác bắt buộc khi lâm sàng

trĩ vòng với sa trực tràng [30].
1.3.2.3. Theo mức độ sa (áp dụng với trĩ nội)
Độ I: trĩ ở giai đoạn khởi đầu, búi trĩ nổi lên ở trong ống hậu môn, khi
đại tiện hoặc rặn thì búi trĩ cương to lên, nhưng chưa lòi ra khỏi ống hậu môn,
dễ chảy máu.
Độ II: trĩ to thành búi rõ rệt, búi trĩ lòi ra khỏi lỗ hậu môn khi đại tiện
hoặc rặn, khi thôi rặn tự co vào được, có chảy máu hậu môn.
Độ III: các búi trĩ khá lớn, sa ra ngoài khi gắng sức hoặc rặn, không tự
co vào được, phải đẩy lên; có búi trĩ phụ, có chảy máu hậu môn, có thể thiếu
máu toàn thân.
Độ IV: các búi trĩ lớn, ngoài các búi chính còn có các búi phụ, sa thường
xuyên nằm ngoài ống hậu môn, các búi trĩ liên kết với nhau tạo thành vòng
trĩ; có thể chảy máu gây thiếu máu mãn tính [17].

ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN




16

Hình 1.4: Phân độ trĩ nội [17]
1.3.2.3. Theo tiến triển và biến chứng
Trĩ chảy máu kéo dài gây thiếu máu: là biến chứng hay gặp, nhiều bệnh
nhân đến viện với các triệu chứng thiếu máu nặng.
Trĩ có huyết khối và viêm tắc tĩnh mạch trĩ: do ứ máu, chấn thương búi trĩ.
Vỡ búi trĩ: gây tụ máu cấp tính ở rìa hậu môn, màu đỏ sẫm và đau dữ dội.
Trĩ nghẹt: do trĩ nội sa ra ngoài, cơ thắt co bóp làm nghẹt, phù nề thiếu
máu nuôi dưỡng dẫn tới hoại tử, viêm và chảy máu.
Trĩ có rối loạn chức năng cơ thắt:

Các bài thuốc uống: hòe hoa tán, quy tỳ thang, bổ trung ích khí, tỷ vật
đào hồng, huyết phủ trục ứ, tả hỏa lương huyết, thanh nhiệt nhuận táo.
Thuốc ngâm trĩ, thuốc bôi ngoài, châm cứu: sử dụng các huyệt toản trúc,
yến khẩu, ngân giao, bạch hoàn du, trường cường, thừa sơn [19].
Thể dục liệu pháp: đại tiện theo giờ nhất định, tránh ngồi lâu…
1.4.2. Điều trị bệnh trĩ bằng thủ thuật và các liệu pháp vật lý
ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN




18

Điều trị bệnh trĩ bằng can thiệp thủ thuật chủ yếu áp dụng cho trĩ độ 2 và
độ 3 có búi riêng rẽ (nhỏ). Hầu hết các phương pháp điều trị bằng thủ
thuật đều tiến hành phía trên đường lược nên không phải dùng biện pháp vô
cảm. Điều trị ngoại trú, thao tác dễ, nhanh, không đau hay đau rất ít, kết quả
tốt 70 – 90%. Nhược điểm là không điều trị được trĩ ngoại, trĩ mức độ
nặng (độ 3, độ 4) và tỷ lệ tái phát cao hơn phẫu thuật. Mục đích của điều trị
bệnh trĩ bằng thủ thuật và các liệu pháp vật lý là nhằm giải quyết búi trĩ bằng
cách tấn công vào cuống mạch cấp máu cho búi trĩ và giải quyết sa búi trĩ
bằng cách tạo nên tổ chức xơ cố định lớp niêm mạc ống hậu môn. Một số
phương pháp thường dùng gồm tiêm xơ búi trĩ, thắt búi trĩ bằng vòng cao su,
nong hậu môn (phương pháp Lord), liệu pháp lạnh, đốt tia hồng ngoại, liệu
pháp đốt điện, chiếu tia laser Nd – YAG hoặc laser CO2 và dòng điện cao tần
[5], [35].
1.4.3. Điều trị phẫu thuật
Phẫu thuật (PT) điều trị bệnh trĩ có từ rất sớm đây là phương pháp điều
trị triệt để nhất có tỷ lệ tái phát thấp.
1.4.3.1. Phẫu thuật cắt trĩ theo từng búi riêng lẻ

3, độ 4 áp dụng phẫu thuật Ferguson (từ 03/11/2009 đến 30/01/2010), kết quả
rất tốt 72,7%, có 81,8% bệnh nhân sau phẫu thuật đau ít và vừa [25].

Hình 1.5: Phẫu thuật Ferguson [76]
A. Rạch vùng da niêm mạc sát búi trĩ

B. Cắt búi trĩ tới gốc

C. Khâu buộc gốc búi trĩ

D. Khâu da và niêm mạc OHM

ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN




20

Phẫu thuật Arnous – Parnaud – Denis (bệnh viện Léopold Bellan,
Paris – 1989): về cơ bản cũng như phương pháp Milligan – Morgan nhưng có
thể cắt thêm các búi trĩ khác ngoài 3 búi trĩ cơ bản nhưng bao giờ cũng kèm
theo cắt bán phần cơ thắt và tạo hình HM ở phía sau (vị trí 6 giờ) [23].
1.4.3.2. Phẫu thuật cắt bỏ vòng niêm mạc ống hậu môn
Phẫu thuật Whitehead (1882): nội dung cơ bản của phương pháp là cắt
một vòng tròn niêm mạc ống hậu môn, đường cắt trên vào niêm mạc, đường
cắt dưới vào da.Toàn bộ niêm mạc giữa hai đường cắt được lấy bỏ, ở đó có
các búi trĩ. Sau đó kéo niêm mạc từ trên xuống khâu với da bằng mũi rời [75].
Phẫu thuật Buie (1932): rạch da hai bên búi trĩ, sau đó rạch vòng theo
đường lược đến vị trí 6 giờ và 12 giờ. Bên đối diện cũng tương tự, hai đường

phẫu thuật như (nứt kẽ, da thừa, rò, u nhú, tắc mạch, sa niêm mạc trực tràng
…).
Chống chỉ định: áp xe hậu môn, hoại thư, hẹp hậu môn, sa toàn bộ
trực tràng.

Hình 1.6: Phẫu thuật Longo [48]
A. Nong hậu môn và đặt van B. Khâu vòng niêm mạc trên đường lược 3 cm
C. Đặt máy stappler, buộc chỉ

D. Đóng máy từ từ đến vạch quy định

E. Sau bấm máy cắt khoanh niêm mạc ống hậu môn
ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN




22

1.5. Các nghiên cứu về điều trị bệnh trĩ phẫu thuật Longo
1.5.1. Nghiên cứu trên thế giới
Trong thời gian từ tháng 9/2001 đến 3/2003 Jai Bikhchandani (Ấn Độ)
và cộng sự đã điều trị trĩ độ 3 và độ 4 cho 84 bệnh nhân được chia làm 2
nhóm (nhóm 1 phẫu thuật theo phương pháp Longo, nhóm 2 phẫu thuật theo
phương pháp Milligan - Morgan), kết quả thu được: phẫu thuật Longo đơn
giản, an toàn trong điều trị, là phẫu thuật ít xâm hại, ít đau sau mổ, thời gian
nằm viện ngắn hơn so với mổ theo phương pháp Milligan - Morgan, tuy nhiên
việc đánh giá kết quả xa của phẫu thuật Longo theo tác giả cần phải được theo
dõi thêm [54].
Năm 2001, Arnaud J. P. và cộng sự áp dụng PT Longo trên 140 BN, kết

Shalaby R. và Desoky A. (2001) nghiên cứu 200 bệnh nhân. Khi so sánh
ngẫu nhiên phẫu thuật Longo và Milligan - Morgan cho thấy. Sau 1 năm theo
dõi có 1% trĩ tái phát, 2% hẹp hậu môn trong nhóm PT Longo so với 2% tái
phát, 5% hẹp hậu môn ở nhóm cắt trĩ theo phương pháp Miligan – Morgan
[70].
Năm 2011, Aerny S. và cộng sự đánh giá hồi cứu phẫu thuật Longo cho
750 bệnh nhân, từ tháng 01năm 2000 đến tháng 12 năm 2009. Thời gian theo
dõi dao động từ 3 tháng đến 3,5 năm. Kết quả giai đoạn hậu phẫu sớm biến
chứng xảy ra trên 76 BN chiếm 10,1%, biến chứng muộn phát hiện ở 52 bệnh
nhân chiếm 6,9% [37].
Nhóm tác giả Bharati Hiremath, năm 2012, tại Ấn Độ có 60% bệnh nhân
mắc bệnh là nam giới, 40% mắc bệnh là nữ giới, thời gian phẫu thuật trung
bình là 29 phút. Tình trạng búi trĩ và các phẫu thuật đi kèm như cắt polyp, cắt
da thừa hậu môn có ảnh hưởng đến yếu tố đau sau mổ của bệnh nhân [41].
Theo nghiên cứu của Ammaturo C. và cộng sự (Italia), năm 2012, thấy
các bệnh nhân được phẫu thuật bằng phương pháp Longo thời gian nằm viện
sau mổ ngắn hơn so với phương pháp Milligan- Morgan (trung bình là 1,3
ngày so với 2,5 ngày) [43].

ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN




24

Theo nghiên cứu của các tác giả Ahmet Pergel, Ahmet Fikret Yucel tại
Thổ Nhĩ Kỳ, năm 2012, thời gian mổ trung bình là 37,6 ± 8,1 (từ 24 đến 55
phút) [38].
Theo nghiên cứu của Zanella S. và cộng sự năm 2014, thấy tuổi trung

sau mổ của bệnh nhân [2].
Trịnh Hồng Sơn và cộng sự (2007) báo cáo kết quả điều trị các trường
hợp trĩ tắc mạch cấp cứu bằng phẫu thuật Longo, điểm nổi bật trong nghiên
cứu này tác giả không can thiệp lấy bỏ búi trĩ tắc mạch, không lấy máu cục
của búi trĩ. Theo dõi sau mổ dài nhất 14 tháng, ngắn nhất hơn 1 tháng thấy kết
quả tốt, không bệnh nhân nào trở lại viện vì ngứa hậu môn, không đau hậu
môn, không ỉa máu, không hẹp hậu môn, không sa niêm mạc trực tràng và
không són phân [33].
Nguyễn Trung Học (2009) nghiên cứu trên 88 BN so sánh kết quả điều trị
PT bệnh trĩ theo hai phương pháp Longo và Milligan – Morgan tại Bệnh viện
Việt Đức kết luận nhóm PT Milligan – Morgan mức độ đau nhiều hơn, thời gian
hết đau và lượng thuốc giảm đau nhiều hơn nhóm PT Longo. Có liên quan giữa
tình trạng đau sau mổ và xử trí các bệnh lý đi kèm như cắt da thừa hậu môn, cắt
polyp ống hậu môn… [14].
Nông Thái Sơn Hà (2009) nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật Longo
trên 97 BN tại Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Thái Nguyên, thấy thời gian
phẫu thuật trung bình là 29,49±14,24 phút. Sau mổ, đa số bệnh nhân đau ít và
vừa, chỉ phải dùng thuốc giảm đau đường uống chiếm 82,5%. 11,3% không
đau, đau nhiều chiếm 6,2%. Mất tự chủ hậu môn độ 1 là 1,03%, kết quả tốt
95,9%, trung bình 4,1%, không có kết quả xấu.
Phân độ trĩ trước mổ có liên quan đến kết quả phẫu thuật. Tuổi và nghề
nghiệp bệnh nhân không liên quan đến kết quả phẫu thuật, xử trí bệnh lý bổ
xung liên quan đến mức độ đau sau mổ của bệnh nhân [11].
Nguyễn Thành Quang (2012) nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật
Longo trên 90 BN tại Bệnh viện Việt Đức từ 21/07/2005 - 18/03/2010. Thấy

ố hóa bởi STrung tâm Học liệu – ĐHTN




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status