1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
NGUYỄN THỊ QUYÊN
NGHIÊN CỨU NỘI DUNG VÀ TIÊU CHUẨN
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP THEO CHƯƠNG TRÌNH
MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Giáo dục thể chất
Mã số
: 62140103
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
BẮC NINH – 2016
2
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học TDTT Bắc Ninh
Người hướng dẫn khoa học: 1. Hướng dẫn 1: GS.TS. Lưu Quang Hiệp
2. Hướng dẫn 2: PGS.TS. Trần Đức Dũng
Phản biện 1: ..................................................
..................................................
Phản biện 2:..................................................
1. MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết: Kiểm tra, đánh giá có liên quan chặt chẽ đến quá trình giảng
dạy của giáo viên và quá trình học tập của sinh viên. Nó có tầm quan trọng đặc biệt,
trước hết giáo viên thu được thông tin ngược lại theo đường liên hệ bên ngoài về các
mặt tri thức, kỹ năng để có thể điều chỉnh kế hoạch trong giai đoạn tiếp theo, thứ hai
thông qua kiểm tra giúp cho học sinh đánh giá được những vấn đề mà chính họ thu
nhận được trong quá trình học tập, nhằm điều chỉnh kịp thời các hoạt động giúp họ
đạt được hiệu quả cao hơn. Đó cũng chính là chất xúc tác nâng cao chất lượng đào
tạo.
Kiểm tra đánh giá là một trong những khâu then chốt quyết định tới kết quả
đào tạo ở tất cả các cấp học. Cùng với việc mở rộng quy mô đào tạo, tổ chức đào tạo
theo tín chỉ đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, thì đổi mới trong
kiểm tra đánh giá cũng là một vấn đề quan trọng. bởi lẽ trong thực tiễn với các trường
đại học nói chung vẫn tồn tại mâu thuẫn gay gắt giữa yêu cầu kiểm tra đánh giá khách
quan với khả năng chủ quan của người thầy, giữa yêu cầu giảng dạy với khả năng học
tập của sinh viên, giữa năng lực của sinh viên với yêu cầu thực tiễn.
Qua khảo sát sơ bộ thực trạng nội dung kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo
chương trình môn học giáo dục thể chất ở một số trường đại học, chúng tôi nhận thấy
còn nhiều điểm bất cập như: Nội dung đánh giá kết quả học tập không đồng nhất, các
tiêu chuẩn đánh giá chưa được kiểm định độ tin cậy và tính thông báo, tiêu chuẩn
đánh giá còn mang tính chủ quan... Chính điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến
việc đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất trong các trường đại học. Vấn đề
cấp thiết đặt ra là cần xây dựng một thang điểm đánh giá kết quả học tập môn GDTC
nói chung cho sinh viên các trường Đại học không chuyên về TDTT để tạo sự thống
nhất chung trong đánh giá môn học nói chung lại chưa được quan tâm đúng mức.
Xuất phát từ những lý do nêu trên nên tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu nội dung và tiêu chuẩn đánh giá kết quả học tập theo chương trình môn học
giáo dục thể chất các trường đại học”.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát thực trạng công tác GDTC ở các
trường đại học, luận án xác định nội dung và tiêu chuẩn đánh giá kết quả học tập theo
3. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 146 trang A4, gồm các phần: Mở đầu (04 trang); Chương 1:
Tổng quan vấn đề nghiên cứu (40 trang); Chương 2: Phương pháp tổ chức nghiên cứu
(17 trang); Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận (81 trang); Kết luận và kiến
nghị (04 trang). Trong luận án có 29 bảng số liệu, 08 biểu đồ. Ngoài ra luận án sử
dụng 96 tài liệu tham khảo, trong đó có 93 tài liệu bằng tiếng Việt, 01 tài liệu bằng
tiếng Anh, 02 tài liệu bằng tiếng Nga và phần phụ lục.
B. NỘI DUNG LUẬN ÁN
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Luận án đề cập đến 09 vấn đề sau:
1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác GDTC và thể thao trường học
1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với TDTT và của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về GDTC và thể thao trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3. Vài nét về đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ
1.4. Khái niệm, hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá
1.5. Vai trò của kiểm tra, đánh giá
1.6. Các quan điểm đánh giá giáo dục và thành quả học tập ở bậc đại học
1.7. Công tác đánh giá kết quả học tập ở bậc đại học
1.8. Xu hướng đổi mới nội dung kiểm tra đánh giá và công tác kiểm tra đánh
giá môn học GDTC ở các trường đại học
1.9. Một số công trình nghiên cứu có liên quan
Nội dung các vấn đề nêu trên được trình bầy từ cụ thể từ trang 05 đến trang 44
trong luận án.
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng 06 phương pháp nghiên cứu thường quy bao gồm:
3
trường, các trường vùng trung du 10 trường và các trường vùng miền núi 10 trường.
Kết quả khảo sát thực trạng chương trình giảng dạy môn học giáo dục thể chất được
xác định thông qua phiếu hỏi trực tiếp các cán bộ quản lý của các trường, các giáo
viên và sinh viên đang giảng dạy và học tập tại các trường đại học (mục 2.1.2). Kết
quả khảo sát được trình bày tại bảng 3.1.
Bảng 3.1. Hình thức đào tạo môn GDTC cho sinh viên (n=32)
Có giảng dạy GDTC
Không giảng dạy GDTC
Hình thức đào tạo
Số lượng
Tỷ lệ %
Số lượng
Tỷ lệ
Niên chế
8
25
0
0
Hệ thống tín chỉ
24
75
0
0
Kết quả bảng 3.1 cho thấy, trong tổng số 32 trường đại học luận án tiến hành
khảo sát thì cả 32 trường đạt tỷ lệ 100% thực hiện nghiêm túc quy định của Bộ Giáo
4
dục và đào tạo là đưa chương trình GDTC vào trong trường học giảng dạy và nâng
8
33.33
5
Bóng đá
22
91.67
6
Bóng chuyền
20
83.33
7
Bóng bàn
16
66.67
8
Khiêu vũ thể thao
18
75.00
9
Cầu lông
14
58.33
10 Võ
16
66.67
11 Cờ
14
58.33
12 Bơi
10
Tỷ lệ %
n
Tỷ lệ %
1 Thể dục
20
18
90.00
2
10.00
2 Điền kinh
24
20
83.33
4
16.67
3 Bóng rổ
18
16
88.89
2
11.11
4 Bóng ném
8
3
37.50
5
62.50
5 Bóng đá
22
14
75.00
4
25.00
11 Cờ
14
8
57.14
6
42.86
12 Bơi
10
6
60.00
4
40.00
Kết quả bảng 3.3 cho thấy, hầu hết các trường đều có tổ chức giảng dạy lý
thuyết các môn thể thao cho sinh viên chiếm tỷ lệ từ 11.11 - 90%. Tuy nhiên, ở một
số môn thể thao việc tổ chức giảng dạy lý thuyết các môn thể thao rất bị coi nhẹ hay
thậm chí là không giảng dạy.
3.1.1.4. Thực trạng khối lượng kiến thức của các môn thể thao được đưa vào
chương trình giảng dạy tại các trường Đại học
Để có thể xác định được thực trạng khối lượng kiến thức của 12 môn thể thao
này được các trường sử dụng như thế nào, luận án tiến hành khảo sát chương trình,
nội dung giảng dạy của từng chương trình giảng dạy đặc biệt là xác định một cách
chính xác số lượng tín chỉ ở từng môn thể thao được giảng dạy ở từng trường, sau đó
tổng hợp lại và xác định theo tỷ lệ % số tín chỉ ở từng môn thể thao mà các trường áp
dụng để giảng dạy cho sinh viên. Kết quả khảo sát thực trạng khối lượng kiến thức
được trình bày tại bảng 3.4.
Bảng 3.4. Thực trạng khối lượng kiến thức các môn thể thao
Số tín chỉ
2
10.00
2
Điền kinh
24
14 58.33
6
25.00
4
16.67
0
0.00
3
Bóng rổ
18
0
0.00
7
87.50
6
5
Bóng đá
22
10 45.45
6
27.27
4
18.18
2
3
18.75
2
12.50
1
6.25
8
Khiêu vũ TT
18
8
44.44
6
33.33
3
16.67
1
6.25
2
12.50
8
50.00
5
31.25
11 Cờ
14
0
0.00
0
0.00
1
đưa vào chương trình giảng dạy tại các trường Đại học
Đề tài tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu hỏi đồng thời qua trao đổi với
các giáo viên đang giảng dạy môn GDTC cho sinh viên tại các trường đại học. Kết
quả nghiên cứu được trình bày tại bảng 3.5.
Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy, hầu hết các giáo viên đang tham gia giảng dạy
môn GDTC tại các trường cho rằng, môn thể thao mà trường mình dùng để giảng dạy
cho sinh viên hiện nay mặt bằng chung là đánh giá ở mức tốt và khá chiếm tỉ lệ trên
70%. Tuy nhiên, bên cạnh các mức đánh giá tốt và khá hầu hết ở các môn khi được
hỏi vẫn có những ý kiến trả lời ở mức trang bị là trung bình từ 13.89%-28.57%. Kết
quả này đặt ra những yêu cầu cần đổi mới về chương trình môn học ngay trong chính
những cán bộ giảng dạy môn học đó, những người trực tiếp chịu trách nhiệm về vai
trò về mức độ trang bị kiến thức cho người học.
Bên cạnh những ý kiến về mức đánh giá chương trình giảng dạy các môn thể
thao, để có thể hiểu rõ hơn nữa về mức độ trang bị kiến thức cho sinh viên theo 3
mức đánh giá tốt, khá và trung bình đề tài cũng tiến hành phỏng vấn trực tiếp các sinh
viên của các trường đại học sau khi đã hoàn thành chương trình môn học GDTC. Kết
quả phỏng vấn trình bày tại bảng 3.6.
Kết quả bảng 3.6 cho thấy, hầu hết các sinh viên khi được hỏi cũng có nhận
định chung giống như kết quả phỏng vấn giáo viên, điều đó có nghĩa là kết quả đánh
giá chương trình giảng dạy các môn thể thao hiện nay đạt ở mức tốt và khá. Mức
đánh giá này đồng nghĩa với việc các kiến thức hiện nay các em được học, được trang
bị là phù hợp và cần thiết. Song bên cạnh các ý kiến đánh giá ở mức tốt và khá vẫn
còn những ý kiến đánh giá đạt ở mức trung bình, tuy tỉ lệ này nhỏ nhất ở môn điền
kinh 12.5% và nhiều nhất ở môn thể dục 26.39%.
7
3.1.2. Thực trạng hình thức và nội dung kiểm tra - đánh giá kết quả học tập
môn giáo dục thể chất của sinh viên các trường đại học
100.00
0
0.00
Kết quả khảo nghiên cứu tại bảng 3.7 luận án đã xác định được rằng hầu hết
các trường đều có tổ chức giảng dạy lý thuyết các môn thể thao cho sinh viên. Tuy
nhiên, chỉ có 2 trường có dùng hình thức kiểm tra lý thuyết cho sinh viên chiếm tỷ lệ
8.33%, còn lại 22 trường không kiểm tra nội dung này cho sinh viên chiếm tỷ lệ
91.67%. Ở hình thức năng lực kiểm tra thực hành thì cả 24 trường đều sử dụng hình
thức này kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDTC cho sinh viên chiếm tỷ lệ
100%. Ở hình thức thi chủ quan có 5 trường sử dụng chiếm tỷ lệ 20.83% hình thức
thi này áp dụng cho sinh viên ở các nội dung thi nghệ thuật như thể dục nhịp điệu,
khiêu vũ thể thao, thể dục nâng cao. Ở hình thức thi khách quan (các nội dung thi đều
có công bố barem điểm cụ thể) có 24 trường sử dụng hình thức thi này áp dụng cho
sinh viên.
3.1.2.2. Phương thức đánh giá kết quả học tập môn GDTC của sinh viên các
trường đại học
Bằng phương pháp đọc và phân tích tài liệu chương trình giảng dạy môn
GDTC cho sinh viên đồng thời thông qua kết quả đánh giá kết thúc môn học của sinh
viên các trường đại học, luận án tiến hành phân loại và xác định trọng số điểm thành
phần được các trường sử dụng trong đánh giá kết quả học tập môn GDTC cho sinh
viên. Kết quả nghiên cứu được trình bày tại bảng 3.8.
Bảng 3.8. Thực trạng đánh giá kết quả học tập môn GDTC
của sinh viên các trường đại học (n=24)
Điểm thành phần + Điểm thi kết thúc học phần
Điểm chuyên cần 10%
Trọng số
Trọng số
Trọng số
20% + 70%
30% + 60%
dụng như thế nào để đánh giá kết quả học tập. Kết quả được trình bày tại bảng 3.9.
Kết quả bảng 3.9 cho thấy, số lượng tiêu chí được các trường sử dụng trong
đánh giá kết quả học tập 1 tín chỉ ở từng môn thể thao là khác nhau. Ở mức 2 và 3
tiêu chí được các trường sử dụng phổ biến trong đánh giá kết quả học tập cho sinh
viên ở các môn thể thao đối kháng như các môn bóng, môn cầu lông, võ, cờ…Số
lượng các tiêu chí dùng trong đánh giá ở các môn thể thao của từng trường là khác
nhau điều này khó có thể đánh giá được mặt bằng chung kết quả học tập môn GDTC
của sinh viên các trường đại học.
3.1.3. Thực trạng tiêu chuẩn kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn GDTC
cho sinh viên các trường đại học
Để xác định được thực trạng tiêu chuẩn kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của
sinh viên, luận án tiến hành khảo sát chương trình giảng dạy môn GDTC đồng thời
phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo bộ môn, các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn
GDTC tại các trường đại học. Kết quả khảo sát được trình bày tại bảng 3.10.
Bảng 3.10. Thực trạng tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá kết quả học tập
môn Giáo dục thể chất của sinh viên (n=24)
Có
Không
Nội dung
n
Tỷ lệ %
n
Tỷ lệ %
Có tiêu chuẩn kiểm tra ở tất cả các tín
19
79.17
5
20.83
chỉ các môn thể thao hay không
Chỉ tiêu chí kiểm tra có được kiểm định
từng môn thể thao cụ thể nhằm hướng tới đạt kết quả cao nhất ở từng môn học.
Các trường đã bám sát vào quy chế 43/2007/QĐ-BGD&ĐT trong việc thi kiểm
tra đánh giá kết quả học phần tạo sự thống nhất chung trong kiểm tra đánh giá các
trường đại học.
Nhược điểm:
Quá trình nghiên cứu luận án xác định được 4 nhược điểm trong kiểm tra đánh
giá kết quả học tập môn GDTC của các trường đại học gồm:
Nhược điểm thứ nhất, sự thiếu cân đối về nội dung và yêu cầu kiểm tra.
Nhược điểm thứ hai là sự thiếu chặt chẽ trong phương pháp kiểm tra đánh giá
kết quả.
Nhược điểm thứ ba trong các nội dung phương pháp kiểm tra là thiếu tính khoa
học và thực tế.
Nhược điểm thứ tư: Tốn kém quá nhiều thời gian cho một số nội dung kiểm tra
đánh giá.
3.2. Xác định tiêu chí đánh giá kết quả học tập theo chương trình môn học
giáo dục thể chất các trường đại học
3.2.1. Căn cứ xác định tiêu chí đánh giá kết quả học tập theo chương trình
môn học giáo dục thể chất các trường đại học
Để có thể xác định được nội dung đánh giá kết quả học tập theo chương trình môn
học giáo dục thể chất các trường đại học, luận án dựa trên các căn cứ sau:
Căn cứ vào chương trình giảng dạy, dựa trên chương trình giảng dạy ở từng
môn thể thao sẽ giúp chúng ta xác định được thực trạng nội dung giảng dạy ở từng tín
chỉ từ đó cho phép xác định các nội dung kiểm tra phù hợp với yêu cầu của từng tín
chỉ.
Căn cứ vào kế hoạch giảng dạy để có thể xác định lựa chọn số tiêu chí kiểm tra
đánh giá cụ thể cho từng tín chỉ.
Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc giải phẫu cơ thể của sinh viên để lựa chọn các
nội dung kiểm tra.
Căn cứ vào tính khả thi của các nội dung kiểm tra. Các nội dung kiểm tra phải
dễ thực hiện, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của các trường đại học.
quan trọng
Nội dung
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
n
n
n
%
%
%
Đánh giá điểm chuyên cần
4
12.50
9
28.13 19 59.38
Đánh giá điểm giữa kỳ
7
21.88 10 31.25 15 46.88
29 90.63
3
9.38
0
0.00
Đánh giá điểm thi kết thúc môn
Kết quả bảng 3.11 cho thấy, ở cả nội dung đánh giá đều được các giáo viên lựa
chọn đánh giá ở mức rất quan trọng cần xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chung cho các
trường đại học. Tuy nhiên, mức độ lựa chọn ở từng nội dung là rất khác nhau chiếm
tỷ lệ từ 12.5 đến 90.63% mức đánh giá rất quan trọng. Để đảm bảo tính nhất trí cao
trong xây dựng tiêu chuẩn đánh giá, luận án chỉ tiến hành lựa chọn nội dung cần xây
3.12.
Kết quả phỏng vấn tại bảng 3.12 luận án xác định được 51 tiêu chí được các
giáo viên lựa chọn ở mức độ quan trọng với tỷ lệ >70%. Các tiêu chí được xác định
theo từng môn thể thao gồm:
Môn bóng đá 9 tiêu chí gồm: Đá bóng bằng lòng bàn chân 5 quả vào cầu môn
2x3m (quả); Chạy 5x30m (s); Ném biên (m); Đá bóng xa (m); Đá bóng bằng mu giữa
bàn chân 5 quả vào cầu môn (quả); Dẫn bóng 30m luồn 3 cọc sút cầu môn (s); Đánh
đầu (m); Tâng bóng (quả); Dẫn bóng tốc độ 30m (s).
Môn bóng chuyền 9 tiêu chí gồm: Chuyền bóng cao tay chính diện bằng 2
tay 5 quả (quả); Chuyền bóng thấp tay chính diện bằng 2 tay 5 quả (quả); Phát bóng 5
quả (quả); Bật với có đà (cm); Phát bóng 5 quả vào ô 3x6m cuối sân (quả); Chuyền
bóng cao tay 5 quả từ vị trí số 3 sang số 4 (quả); Chuyền bóng thấp tay 5 quả từ vị trí
số 6 sang số 3 (quả); Chuyền bóng tại chỗ và di động vào ô quy định 20 quả (quả);
Đập bóng 5 quả theo phương chính diện ở vị trí số 4 (quả).
Môn bóng rổ 9 tiêu chí gồm: Tại chỗ ném rổ 10 quả (quả); Dẫn bóng tốc độ
28m (s); Dẫn bóng 20m luồn cọc (s); Hai bước ném rổ 1 tay trên cao 10 quả (quả);
Hai bước ném rổ 1 tay móc xuôi, móc ngược 10 quả (quả); Dẫn bóng số 8 qua 4 cọc
thực hiện 2 bước ném rổ (s); Tại chỗ nhảy ném rổ 1 tay trên cao 20 quả (quả); Bật
nhảy với cao 50 cm liên tục trong 30” tính số lần; Hai người di chuyển dọc sân
chuyền và bắt bóng 3 lần (s).
Môn bóng ném 3 tiêu chí gồm: Dẫn bóng 30m luồn 8 cọc (s); Ném bóng xa
trong hành lang 4m (m); Dẫn bóng luồn 3 cọc ném cầu môn (s).
Môn cầu lông 9 tiêu chí gồm: Di chuyển kết hợp đánh cầu thấp tay phải trái 5
quả (quả); Phát cầu thấp tay 10 quả vào ô (quả); Giao cầu trái tay thấp gần 5 quả, thuận
tay cao sâu 5 quả vào ô 1x2.59m (quả); Đánh cầu cao sâu vào ô 1.2x2.59m cuối sân
đơn 10 quả (quả); Đập cầu dọc biên 10 quả vào ô 1.3x6.70m (quả); Đập cầu dọc biên
10 quả vào ô 1.2x6.7m (quả); Chém cầu 10 quả vào ô 1.2x1.98m (quả); Di chuyển
dọc sân trong 10 lần (s); Di chuyển tiến lùi ngang sân 10 lần (s).
Môn bóng bàn 10 tiêu chí gồm: Giật bóng thuận tay kết hợp với bạt bóng 10
quả (quả); Vụt bóng thuận tay (quả); Vụt bóng trái tay (quả); Gò bóng thuận tay
Kết quả bảng 3.13 cho cho thấy trong tổng số 51 tiêu chí luận án xác định hệ
số thông báo giữa kết quả kiểm tra và thành tích thi đấu có 7 tiêu chí không đảm bảo
độ tin cậy thống kê cần thiết nghĩa là mối tương quan giữa thành tích thi đấu và kết
quả kiểm tra có mối tương quan yếu. Ở từng môn thể thao cụ thể như sau: Môn bóng
đá tiêu chí Dẫn bóng sút cầu cầu môn bằng mu giữa bàn chân 5 quả vào cầu môn
(quả) có r=0.49-0.53; môn bóng chuyền tiêu chí Bật với có đà (cm) có r = 0.54 - 0.58;
môn bóng rổ tiêu chí Hai người di chuyển dọc sân chuyền và bắt bóng 3 lần (s) có r =
0.38-0.42; môn bóng ném tiêu chí Dẫn bóng luồn 3 cọc ném cầu môn (s) có r = 0.540.59; môn cầu lông tiêu chí Đập cầu dọc biên 10 quả vào ô 1.2x6.7m (quả) có r =
0.51 - 0.54; Môn bóng bàn có 2 tiêu chí Kỹ thuật giao bóng xoáy lên thuận tay 10 quả
(quả) và Kỹ thuật giao bóng xoáy lên trái tay 10 quả (quả) có r = 0.48-0.58 < rbảng =
0.6 theo đó tiêu chí này bị loại. Như vậy, còn lại 44/51 tiêu chí đảm bảo độ tin cậy có
hệ số tương quan r = 0,6-0,74.
3.2.6. Xác định độ tin cậy của các tiêu chí đánh giá
Sau khi xác định được 44 tiêu chí dùng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn
GDTC ở 7 môn thể thao đảm bảo tính thông báo, luận án tiếp tục xác định độ tin cậy
13
của chúng bằng phương pháp test lặp lại cho cả nam và nữ. Kết quả được trình bày ở
bảng 3.14.
Kết quả bảng 3.14 cho thấy, trong tổng số 44 tiêu chí nêu trên có 1 tiêu chí có
rtính = 0.73 đến 0.74 < rbảng = 0.8 không đảm bảo độ tin cậy trong nghiên cứu, theo đó
test nhớ quân di chuyển 10 nước đi trong môn cờ vua bị loại. Các test còn lại có mối
tương quan mạnh với rtính = 0.80 đến 0.87 ≥ rbảng = 0.8 với p < 0.01 ở cả nam và nữ.
Vì vậy mà có 43 tiêu chí kiểm tra đảm bảo độ tin cậy và cho phép sử dụng trong đánh
giá kết thúc môn GDTC cho sinh viên các trường đại học ở 7 môn thể thao.
3.2.7. Xác định số lượng tiêu chí đánh giá cho từng tín chỉ
Để làm được điều này, luận án tiến hành phỏng vấn 72 giáo viên đang giảng
dạy môn GDTC của các trường đại học (phụ lục 2). Sau khi thu nhận được phiếu
Chuyền bóng thấp tay chính diện bằng 2 tay 5 quả (quả)
14
Tín chỉ 2: Phát bóng 5 quả (quả).
Chuyền bóng tại chỗ và di động vào ô quy định 20 quả (quả)
Tín chỉ 3: Chuyền bóng cao tay 5 quả từ vị trí số 3 sang số 4 (quả)
Phát bóng 5 quả vào ô 3x6m cuối sân (quả)
Tín chỉ 4: Chuyền bóng thấp tay 5 quả từ vị trí số 6 sang số 3 (quả)
Đập bóng 5 quả theo phương chính diện ở vị trí số 4 (quả)
Môn Bóng rổ
Tín chỉ 1: Tại chỗ ném rổ 10 quả (quả)
Dẫn bóng tốc độ 28m (s)
Tín chỉ 2: Dẫn bóng 20m luồn cọc (s)
Hai bước ném rổ 1 tay trên cao 10 quả (quả)
Tín chỉ 3: Hai bước ném rổ 1 tay móc xuôi, móc ngược 10 quả (quả)
Dẫn bóng số 8 qua 4 cọc thực hiện 2 bước ném rổ (s)
Tín chỉ 4: Tại chỗ nhảy ném rổ 1 tay trên cao 20 quả (quả)
Bật nhảy với cao 50 cm liên tục trong 30” tính số lần
Môn Cầu lông
Tín chỉ 1: Di chuyển kết hợp đánh cầu thấp tay phải trái 5 quả (quả)
Phát cầu thấp tay 10 quả vào ô (quả)
Tín chỉ 2: Đánh cầu cao sâu vào ô 1.2x2.59m cuối sân đơn 10 quả (quả)
Giao cầu trái tay thấp gần 5 quả, thuận tay cao sâu 5 quả vào ô
1x2.59m
Tín chỉ 3: Đập cầu dọc biên 10 quả vào ô 1.3x6.70m (quả)
Di chuyển dọc sân trong 10 lần (s)
Tín chỉ 4: Chém cầu 10 quả vào ô 1.2x1.98m (quả)
Di chuyển tiến lùi ngang sân 10 lần (s).
học tập của sinh viên. Kết quả đánh giá này được giáo viên giảng dạy trực tiếp đánh
giá và cho điểm thông qua số giờ lên lớp, thái độ học tập, ý thức tập luyện... và được
tính là 10% điểm thành phần (bảng 3.7).
Đánh giá giữa kỳ, đây là phương pháp kiểm tra đánh giá nhằm cung cấp những
thông tin ngược, qua đó, giáo viên và sinh viên kịp thời điều chỉnh cách dạy và cách
học, ghi nhận kết quả từng phần để tiếp tục thực hiện chương trình một cách vững
chắc. Nội dung kiểm tra giữa kỳ môn học GDTC của các trường đại học thường là
kiểm tra mức độ tiếp thu kiến thức của các môn thể thao như luật các môn thể thao,
kỹ thuật các môn thể thao, cấu trúc động tác các môn thể thao... Điểm đánh giá giữa
kỳ được tính là 30% điểm thành phần (bảng 3.7).
Đánh giá kết thúc, đây là cách đánh giá được tiến hành khi kết thúc môn học,
năm học, khóa học bằng những kỳ thi nhằm đánh giá tổng quát kết quả học tập, đối
chiếu với những mục tiêu đã đề ra. Nội dung kiểm tra đánh giá tổng kết môn học
GDTC thông qua việc thực hiện kỹ thuật và thể lực của các môn thể thao. Kết quả
đánh giá là căn cứ để quyết định giải pháp cải tiến thực trạng nâng cao chất lượng,
hiệu quả cho sinh viên ở các tín chỉ tiếp theo. Điểm đánh giá giữa kỳ được tính là
60% điểm thành phần.
Việc xây dựng được tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDTC
cho sinh viên các trường đại học theo các nội dung trên là việc làm hết sức có ý
nghĩa. Tuy nhiên, trong thực tế việc này lại rất khó để thực hiện vì thời điểm kiểm tra
của các trường không giống nhau, hình thức đánh giá, số lượng tiêu chí đánh giá, số
lần đánh giá giữa kỳ của các trường rất linh hoạt và nó phụ thuộc vào cơ sở vật chất
trang thiết bị của từng trường. Chính vì vậy, việc xây dựng nội dung tiêu chuẩn đánh
giá kết quả học tập kết thúc học phần chung cho tất cả các trường đại học là điểm nổi
bật của luận án. Dựa trên căn cứ khảo sát các ý kiến đánh giá của các giáo viên trực
tiếp giảng dạy môn GDTC của các trường đại học với ý kiến đánh giá là 90.63% đánh
giá ở mức rất quan trọng. Các nội dung còn lại như đánh giá điểm chuyên cần; đánh
giá giữa kỳ lần lượt là 12.50% và 21.88% ở mức rất quan trọng các nội dung này sẽ
do các trường chủ động xây dựng tiêu chuẩn đánh giá để đảm bảo phù hợp với nội
dung yêu cầu của từng trường.
tra được tất cả các trường sử dụng đồng nhất vì vậy luận án không cần kiểm nghiệm
độ tin cậy cũng như tính thông báo ở các tất cả các tiêu chí kiểm tra. Ở môn bóng đá
luận án xác định được 9 tiêu chí kiểm tra, bóng bàn 10 tiêu chí, bóng rổ 9 tiêu chí,
bóng chuyền 9 tiêu chí, cầu lông 9 tiêu chí, bóng ném 3 tiêu chí, cờ vua 1 tiêu chí.
Các tiêu chí này đều có sự nhất trí cao với mức ưu tiên trong đánh giá là quan trọng
và rất quan trọng với tổng tỷ lệ ở 2 mức > 70% số người được hỏi.
Trên cơ sở của 51 tiêu chí được lựa chọn được qua phỏng vấn, luận án tiến
hành xác định độ tin cậy và tính thông báo của các tiêu chí. Việc xác định tính thông
báo của các tiêu chí đánh bằng cách tính hệ số tương quan thứ bậc giữa kết quả lập
tiêu chí của 51 tiêu chí trên với kết quả thi đấu của sinh viên tương ứng ở từng môn
thể thao. Ở các môn thể thao như bóng đá, bóng chuyền, bóng ném, bóng rổ hiệu suất
thi đấu của sinh viên được xác định thông qua phương pháp quan sát sư phạm. Ở môn
bóng đó hiệu xuất thi đấu được xác định thông qua tổng thời gian các VĐV có bóng,
kiểm soát, chuyền bóng, khống chế bóng cũng như thời gian di chuyển hợp lý trên
sân... Ở môn bóng chuyền là hiệu quả đập bóng, chuyền bóng, phòng thủ... Ở môn
bóng ném là hiệu quả chuyền bóng, bắt bóng, ném bóng, tỷ lệ thời gian cầm bóng... Ở
17
môn bóng rổ là hiệu quả ném rổ, chuyền bóng, bắt bóng, qua người... Hiệu suất này
được tính bằng % hiệu quả thi đấu của VĐV trong trận đấu, từ đó quy đổi theo thang
điểm 100. Kết quả nghiên xác định tính thông báo, luận án xác định được 44 tiêu chí
có r tính = 0,6-0,74 ≥ r bảng = 0.6 dùng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn
GDTC ở 7 môn thể thao. Sau khi xác định được 44 tiêu chí đảm bảo tính tính thông
báo, luận án tiếp tục xác định độ tin cậy của chúng bằng phương pháp test lặp lại.
Phương pháp và điều kiện lập test như nhau ở cả 2 lần lập test. Thời gian thực hiện
test lặp lại được tiến hành cách nhau 07 ngày ở cả nam và nữ. Kết quả nghiên cứu
luận án đã tiến hành xác định được 43 tiêu chí đảm bảo độ tin cậy r tính = 0,8-0,87 ≥ r
bảng = 0.8. Trong đó môn bóng ném 2 tiêu chí, môn cờ vua 1 tiêu chí các môn thể thao
này với hệ số ε>0.05 ở rất nhiều chỉ số.
18
3.3.2. Xây dựng tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDTC
cho sinh viên các trường đại học
Từ kết quả nghiên cứu mục 3.3.1 luận án đã có những căn cứ để xây dựng tiêu
chuẩn kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDTC cho SV các trường đại học. Việc
xây dựng tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDTC cho SV các trường
đại học được thực hiện theo đơn vị đo lường trung gian theo thang độ C:
C=5+2Z (từ 1 đến 10 điểm). Riêng đối với các chỉ tiêu đo bằng đơn vị thời
gian thì đổi giá trị + δ thành - δ hoặc đổi dấu công thức C = 5+2Z. Bên cạnh các tiêu
chuẩn có thể định lượng được, các tiêu chuẩn đánh giá phụ thuộc nhiều vào định tính
hoặc các tiêu chí đánh giá chưa đủ để quy điểm theo nguyên tắc làm tròn đến 1 điểm
thì luận án tiến hành đánh giá điểm kỹ thuật của các tiêu chí này. Kết quả nghiên cứu
được trình bày tại bảng 3.18 đến bảng 3.26. Ngoài ra ở môn khiêu vũ thể thao, thể
dục nhịp điệu, thể dục Aerobic, Taekwondo và karatedo việc xác định thang đánh giá
được xác định thông qua phỏng vấn các giáo viên nhằm xác định thang điểm đánh giá
chung ở từng yếu tố (phụ lục 5). Kết quả nghiên cứu được trình bày tại bảng 3.18 và
3.19.
3.3.3. Kiểm nghiệm mức độ phù hợp của các nội dung và tiêu chuẩn đánh
giá kết quả học tập môn GDTC của SV Trường đại học Hồng Đức Thanh Hóa
trong thực tiễn.
Sau khi xây dựng được các bảng tiêu chuẩn đánh giá kết quả thi kết thúc học
phần cho sinh viên các trường đại học trên toàn quốc ở cả 3 miền theo từng môn thể
thao, luận án tiến hành kiểm nghiệm trắc nghiệm mức độ phù hợp của các nội dung
và tiêu chuẩn đánh giá trên sinh viên các khóa đại học trường Đại học Hồng Đức.
Thời điểm tiến hành kiểm nghiệm được xác định vào học kỳ II năm học 2013 - 2014
và học kỳ I năm học 2014 - 2015.
sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 12.40 và 10.59%; Sinh viên xếp loại khá nam 21 sinh
viên, nữ 50 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 17.36 và 21.19%; Sinh viên xếp loại
trung bình nam 73 sinh viên, nữ 139 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 60.33 và
58.90%; Sinh viên xếp loại yếu nam 8 sinh viên, nữ 14 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt
là 6.61 và 5.93%; Sinh viên xếp loại kém chiếm tỷ lệ rất nhỏ nam 4 sinh viên, nữ 8
sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 3.30 và 3.39%.
Môn bóng rổ: Số sinh viên xếp loại tốt nam 15 sinh viên, nữ 26 sinh viên
chiếm tỷ lệ lần lượt là 19.48 và 9.25%; Sinh viên xếp loại khá nam 19 sinh viên, nữ
51 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 24.68 và 18.15%; Sinh viên xếp loại trung bình
nam 31 sinh viên, nữ 184 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 40.26 và 65.48%; Sinh viên
xếp loại yếu nam 7 sinh viên, nữ 14 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 9.09 và 4.98%;
Sinh viên xếp loại kém chiếm tỷ lệ rất nhỏ nam 5 sinh viên, nữ 6 sinh viên chiếm tỷ
lệ lần lượt là 6.49 và 2.14%.
Môn nhảy xa ưỡn thân: Số sinh viên xếp loại tốt nam 16 sinh viên, nữ 26 sinh
viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 14.04 và 13.13%; Sinh viên xếp loại khá nam 25 sinh
viên, nữ 49 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 21.93 và 24.75%; Sinh viên xếp loại
trung bình nam 59 sinh viên, nữ 100 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 51.75 và
50.51%; Sinh viên xếp loại yếu nam 8 sinh viên, nữ 15 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt
là 7.02 và 7.58%; Sinh viên xếp loại kém chiếm tỷ lệ rất nhỏ nam 6 sinh viên, nữ 8
sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 5.26 và 4.04%.
Môn cầu lông: Số sinh viên xếp loại tốt nam 11 sinh viên, nữ 23 sinh viên
chiếm tỷ lệ lần lượt là 14.29 và 8.19%; Sinh viên xếp loại khá nam 18 sinh viên, nữ
69 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 23.38 và 24.56%; Sinh viên xếp loại trung bình
nam 34 sinh viên, nữ 167 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 44.16 và 59.43%; Sinh viên
xếp loại yếu nam 9 sinh viên, nữ 15 sinh viên chiếm tỷ lệ lần lượt là 11.69 và 5.34%;
Sinh viên xếp loại kém chiếm tỷ lệ rất nhỏ nam 5 sinh viên, nữ 7 sinh viên chiếm tỷ
lệ lần lượt là 6.49 và 2.49%.
3.3.4. Bàn luận
n
%
n
%
n
%
Nam
118 6.45 1.15 18 15.25 30 25.42 58 49.15
7
5.93
5
4.25
Nhảy cao úp bụng
Nữ
208 6.35 1.03 23 11.06 57 27.40 106 50.96 15
7.21
7
3.37
Nam
121 6.28 1.16 15 12.40 21 17.36 73 60.33
8
6.61
4
3.30
Bóng chuyền
Nữ
236 6.24 1.13 25 10.59 50 21.19 139 58.90 14
5.93
8
3.39
6.26 1.17 11 14.29 18 23.38 34 44.16
9
11.69
5
6.49
Cầu lông
Nữ
281 6.23 1.15 23
8.19
69 24.56 167 59.43 15
5.34
7
2.49
20
21
Hay nói cách khác kết quả kiểm tra không có sự chênh lệch nhiều giữa các sinh
viên. Ở các test đánh giá trình độ tập luyện kỹ thuật có sự phân tán lớn giữa các số
liệu thu thập được với hệ số biến sai Cv>10% ở rất nhiều chỉ số. Điều này cũng có
thể hiểu được bởi các tiêu chí đánh giá kỹ thuật phụ thuộc rất nhiều vào tâm lý của
sinh viên khi kiểm tra. Bên cạnh đó hệ số ε ở nhiều tiêu chí đánh giá kỹ thuật cũng bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố này với hệ số ε>0.05 ở rất nhiều chỉ số. Đây là một căn cứ
và là cơ sở khoa học quan trọng để luận án tiến hành xây dựng các tiêu chuẩn đánh
giá ở từng nội dung kiểm tra ở từng môn thể thao. Bên cạnh các tiêu chí kiểm tra
mang tính định tính hoàn toàn như ở một số môn thể dục nhịp điệu, thể dục Aerobic,
môn khiêu vũ thể thao, taekwondo, karate do thì luận án tiến hành xác lập luôn tiêu
chuẩn đánh giá thông qua phỏng vấn các giáo viên tham gia giảng dạy. Kết quả tiêu
bóng rổ, bóng chuyền và những môn thể thao mang tính định lượng cụ thể như điền
22
kinh, cầu lông, bóng bàn, cờ vua, bơi. Bên cạnh đó, luận án cũng xác định được tiêu
chuẩn kiểm tra đánh giá với các môn mang tính định tính hoàn toàn như thể dục nhịp
điệu, thể dục Aerobic, môn khiêu vũ thể thao, taekwondo, karate do.
Từ kết quả các bảng tiêu chuẩn đánh giá kết quả học tập môn GDTC cho sinh
viên các trường đại học. Để khẳng định một lần nữa mức độ phù hợp của các bảng
tiêu chuẩn luận án xây dựng trước khi áp dụng để đánh giá kết quả thi kết thúc cho
sinh viên các trường, luận án tiến hành kiểm nghiệm trên sinh viên trường Đại học
Hồng Đức ở các năm học 2013-2014 và năm học 2014-2015. Kết quả kiểm nghiệm
cho thấy, điểm trung bình trung ở từng môn học của sinh viên là khá đồng đều với số
điểm đạt được từ 6.23 đến 6.45 điểm và độ dao động từ 1.03 đến 1.34 điểm ở các
môn thể thao. Tỷ lệ phân bổ điểm tập trung ở mức trung bình chiếm tỷ lệ từ 49.47
đến 56% và tỷ lệ xếp loại khá tốt >30% và tỷ lệ xếp loại yếu kém