1
CUỘC CÁCH MẠNG
VỀ HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG DO MÁC THỰC HIỆN
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC NHẬN THỨC
NỀN KINH TẾ TRI THỨC HIỆN NAY
Kinh tế chính trị Mác xít do Mác và Ăngghen sáng lập đánh dấu một
giai đoạn mới trong sự phát triển của tư tưởng kinh tế. Nếu kinh tế chính trị tư
sản phê phán chủ nghĩa phong kiến trên lập trường của giai cấp tư sản, thì
kinh tế chính trị Mác xít phê phán chủ nghĩa tư bản trên lập trường của giai
cấp vô sản. Nó có tính đảng, tính giai gấp và công khai bảo vệ lợi ích của giai
cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động. Kinh tế chính trị Mác xít là
một trong ba bộ phận chủ yếu của chủ nghĩa Mác - Lênin, lấy chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm thế giới quan và phương
pháp luận. Nó có quan hệ hữu cơ với triết học Mác xít và chủ nghĩa xã hội
khoa học và cùng với hai bộ phận này tạo thành hệ tư tưởng của giai cấp công
nhân.
Kinh tế chính trị Mác xít ra đời đáp ứng sự đòi hỏi tất yếu của cuộc đấu
tranh của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động, nhằm xóa bỏ chế
độ tư bản chủ nghĩa- chế độ người bóc lột người, xây dựng chế độ xã hội mới
tốt đẹp hơn đó là chế độ cộng sản chủ nghĩa.
Với sự xuất hiện của kinh tế chính trị Mác xít, lần đầu tiên trong lịch
sử, giai cấp vô sản có vũ khí lý luận riêng của mình, lần đầu tiên trong lịch sử,
khoa kinh tế chính trị đứng trên lập trường của giai cấp vô sản để lý giải các
vấn đề kinh tế.
Kinh tế chính trị Mác xít đã đưa ra những phát kiến mang tính chất
cách mạng trong khoa học kinh tế làm cơ sở cho học thuyết kinh tế của Mác.
Với những phát kiến này, Mác đã đưa môn kinh tế chính trị vượt qua được
những cửa ải mà các nhà tư tưởng kinh tế tư sản cổ điển đã không qua nổi và
nâng khoa kinh tế chính trị lên một trình độ mới. Một trong những phát kiến
3
là người đầu tiên đã nêu khái niệm giá trị trao đổi do lao động cần thiết quyết
định, không phải do lao động cá biệt.
Mặc dù có những tiến bộ nhất định, nhưng nhìn chung phải thấy rằng,
các nhà kinh tế học trước Mác vẫn chưa giải quyết vấn đề này một cách triệt
để, đúng bản chất. Họ chưa thật đứng vững trên quan điểm lý luận giá trị lao
động. Chưa tìm ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Chưa chỉ ra
được các bộ phận cấu thành giá trị. Đồng nhất giá trị và giá cả sản xuất, chưa
hiểu được giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị hàng hóa, coi tiền –
tư bản là hình thức tự nhiên, vĩnh cửu. W. Petty còn coi cả hai yếu tố lao động
và tự nhiên đều tạo ra giá trị hàng hóa và cho rằng, chỉ có lao động khai thác
vàng, bạc mới tạo ra giá trị...Những điều này chứng tỏ, lý luận về giá trị lao
động vẫn còn là vấn đề đầy bí ẩn, cần tiếp tục phải đi vào nghiên cứu làm rõ.
Và trên cơ sở ấy mới có thể đi vào giải quyết một cách đúng đắn những vấn
đề khác của khoa học kinh tế chính trị.
Kế thừa những thành tựu về lý luận của nhân loại, bằng phương pháp
trìu tượng hóa khoa học và sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, Mác đã
thực hiện một cuộc cách mạng về học thuyết giá trị lao động.
Mác khẳng định, con người ta, trước khi hoạt động về chính trị, đạo
đức, văn học nghệ thuật và về khoa học thì phải có cái để ăn, mặc, ở và đi lại.
Muốn vậy, họ phải không ngừng lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất.
Trong nền sản xuất tự nhiên, sản phẩm làm ra là để tiêu dùng. Khi chuyển
sang nền sản xuất hàng hóa thì sản phẩm làm ra là để bán. Sản phẩm lao động
khi đem bán thì được gọi là hàng hóa. Mọi hàng hóa đều có hai thuộc tính là
giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng của hàng hóa là tính hữu ích, công
dụng nhất định của nó mà có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người,
hoặc là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân, hoặc là nhu cầu cho sản xuất. Bất kỳ
một vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định, nó do thuộc tính tự
sản xuất ra nó, tức là phải thực hiện được giá trị hàng hóa thì mới chi phối
5
được giá trị sử dụng. Như vậy, quá trình thực hiện giá trị và quá trình thực
hiện giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau về không gian và thời gian.
Nếu trước đây, các nhà kinh tế học tư sản Cổ điển chỉ dừng lại ở việc thừa
nhận hàng hóa có hai thuộc tính, thì Mác đã vượt lên và chỉ ra được sự thống
nhất và mâu thuẫn của hai thuộc tính đó trong hàng hóa.
Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị. Hai thuộc tính đó
của hàng hóa do tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa quyết định.
Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất
hàng hóa: lao động cụ thể và lao động trìu tượng. Ông viết: Tôi là người đầu
tiên phát hiệm ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa và khoa kinh tế
chính trị học xoay quanh điểm này.
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của
những nghề nghiệp nhất định. Nó tồn tại vĩnh viễn cùng với sản xuất và tái
sản xuất xã hội, không phụ thuộc vào bất cứ hình thái kinh tế – xã hội nào.
Trong quá trình sản xuất, lao động cụ thể bảo tồn và di chuyển giá trị cũ ( c )
vào trong sản phẩm mới, lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
Lao động trìu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa đã gạt bỏ
những hình thức biểu hiện cụ thể của nó để quy về cái chung đồng nhất, đó là
hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa. Lao động trìu tượng tạo ra giá
trị hàng hóa. Theo đó toàn bộ giá trị hàng hóa gồm C + V + M.(điều này Đ.
Ricardo không thể vượt qua được).
Như vậy, chỉ đến Mác mới chỉ ra được chính xác nguồn gốc giá trị và
giá trị sử dụng của hàng hóa. Từ đó đã giải quyết những bế tắc trong lý luận
giá trị của phái kinh tế chính trị tư sản Cổ điển.
Việc phát hiện về tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có