TIỂU LUẬN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN lực một yêu cầu cấp THIẾT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa gắn với PHÁT TRIỂN KINH tế TRI THỨC ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 40

1

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC – MỘT YÊU CẦU
CẤP THIẾT CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là con đường cơ bản và duy
nhất để phát triển nền kinh tế - xã hội đối với bất cứ quốc gia nào, nhất là các
nước chậm và đang phát triển. Chỉ có CNH, HĐH mới có thể rút ngắn được thời
gian phát triển kinh tế - xã hội so với những nước “đi trước”. Và nước ta không
phải là ngoại lệ.
Trong công cuộc CNH, HĐH, nguồn nhân lực (xét ở phạm vi lực lượng
lao động gồm những người từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế
quốc dân và những người trong độ tuổi lao động đang thất nghiệp) - với tư cách
là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội, chính là yếu tố quyết định quan trọng
nhất, là động lực cơ bản nhất.
Đề cập tới vai trò của nguồn nhân lực, Mác và Ăngghen đã từng chỉ ra
rằng, muốn nâng sản xuất công nghiệp và nông nghiệp lên đến mức độ cao mà
chỉ có phương tiện cơ giới và hóa học phù trợ thì không đủ, mà còn cần phải phát
triển một cách tương xứng năng lực của con người sử dụng những phương tiện
đó nữa. Người nông dân và người công nhân, sau khi được thu hút vào đại công
nghiệp, đã thay đổi toàn bộ lối sống của họ và bản thân họ đã trở thành những
con người hoàn toàn khác hẳn. Trong xã hội tương lai cũng vậy, việc tiến hành
sản xuất tập thể bằng lực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản
xuất do việc đó mang lại, sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới và sẽ tạo
nên những con người mới.
Thực tế đã chứng minh, nguyên nhân đưa tới sự thành công của các quốc
gia và vùng lãnh thổ có nền công nghiệp phát triển ở châu Á như: Nhật Bản, Hàn



đất nước và đưa nền kinh tế tăng trưởng trên 7%, đồng thời tăng thu nhập cho
người lao động.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực hiện nay của Việt Nam vẫn đang có những
tồn tại đáng quan tâm như: tỷ lệ lao động được đào tạo còn ít, trình độ chuyên
môn của người lao động thấp, chưa đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn. Tức là,
thách thức lớn nhất gắn liền với chất lượng nguồn nhân lực không chỉ trong
tương lai mà ngay cả hiện tại - sự nghiệp CNH, HĐH đất nước chính là chất
lượng lao động (xét trên các mặt: quy mô tốc độ tăng, trình độ văn hóa và
chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động).
- Quy mô và tốc độ tăng lực lượng lao động
Theo thống kê, năm 2005 ở nước ta, số người từ 15 tuổi trở lên là 62,433
triệu (nữ chiếm 51,7%), trong đó số người trong độ tuổi lao động (15 – 60) là
52,567 triệu người (nữ chiếm 49,35%). Số người tuổi từ 15 trở lên hoạt động
kinh tế là 44,385 triệu người, trong đó người trong độ tuổi (15 – 60) hoạt động
kinh tế là 41,815 triệu người. Tỷ trọng lực lượng lao động khu vực thành thị
trong tổng lực lượng lao động cả nước tăng chậm, từ 23,3% năm 2001 lên 24,4%
năm 2004. Theo nhóm tuổi, lực lượng lao động ở nhóm tuổi 15 – 24 chiếm
21,48%, nhóm tuổi 25 – 34 chiếm 25,29%, nhóm tuổi 35 – 44 chiếm 27,09%,
nhóm tuổi 45 – 54 chiếm 18,4% và nhóm tuổi từ 55 tuổi trở lên chiếm 7,74%.
Nhìn chung, lực lượng lao động của cả nước đang có xu hướng tăng tỷ trọng lao
động ở các nhóm tuổi từ 25 trở lên và giảm lao động nhóm tuổi dưới 25, nguyên
nhân là do gia tăng số người ở độ tuổi 15 – 24 đi học trung học phổ thông và đào
tạo nghề nghiệp.
Gia tăng quy mô lực lượng lao động đặt ra yêu cầu bức xúc về mở rộng
quy mô đào tạo, phát triển lao động chuyên môn kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu sử


4

dụng của các ngành, lĩnh vực, tạo cơ sở để không ngừng nâng cao hiệu quả sử

dụng lao động các cấp trình độ chuyên môn kỹ thuật trong nền kinh tế.
Thực tế ở nước ta cho thấy, năm 2002, chỉ có khoảng 15% dân số từ 15
tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật - một con số quá thấp so với yêu
cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Tình trạng này còn trầm trọng hơn ở
khu vực nông thôn, với trên 90% dân số không có bất kỳ trình độ chuyên môn kỹ
thuật nào1. Tính đến hết năm 2004, tỷ lệ lao động qua đào tạo trong lực lượng lao
động cả nước là 22,5%. Trong đó, tỷ lệ đã qua đào tạo sơ cấp, đào tạo nghề là
13,3%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp là 4,4%; tốt nghiệp cao đẳng, đại học
trở lên là 4,8%, tăng 1,5% so với 2003 (bảng 1).
BẢNG 1: Cấp trình độ lao động qua đào tạo (1. A) và tỷ lệ lao động

chuyên môn kỹ thuật (1. B)
1. A: Số người từ 15 tuổi trở lên có chuyên môn kỹ thuật
Đơn vị tính: ngàn người

1999
2004

Sơ cấp, chứng chỉ
nghề, CMKT không
bằng
1453,05
4680,94

CMKT có
bằng

THCN

CĐ, ĐH trở

Tsố
(%)

16,96

30,4

24,92

100

Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương: Tài liệu phục vụ nghiên cứu Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 59


6

2004

42,7
14,07
21,03
22,2
100
Nguồn: Thống kê Lao động - việc làm, Bộ Lao động thương binh và xã

hội, 1999 – 2004
Qua bảng 1 cho ta thấy, ở nước ta số người từ 15 tuổi trở lên có trình độ
chuyên môn kỹ thuật thấp; trong cơ cấu lao động chuyên môn kỹ thuật của cả
nước thì tỷ trọng công nhân kỹ thuật lành nghề cao (bậc III) ít và không tăng.

Những số liệu nêu trên cho thấy, chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta
thấp, còn khoảng cách khá xa so với một số nước châu Á (bảng 2).
BẢNG 2: Chỉ số chất lượng nguồn nhân lực của một số nước châu á và

của Việt Nam
Số
T
T
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12

Mức độ sẵn Mức độ sẵn
Mức độ
Sự
Tên nước, có lao động có các cán sẵn có cán thành
lãnh thổ
sản xuất
bộ hành
bộ quản lý
thạo

6,62
Trung Quốc 7,12
6,19
4,12
3,62
Malaixia
4,50
7,00
4,50
4,00
Hồng Công 4,23
5,24
4,24
4,50
Philippin
5,80
6,20
5,60
5,40
Thái Lan
4,00
3,37
2,36
2,82
Việt Nam
3,25
3,50
2,75
2,62
Inđônêxia


Do chất lượng nguồn nhân lực thấp nên không những ít có khả năng
nghiên cứu sáng tạo những công nghệ mới, mà ngay cả việc tiếp thu, ứng dụng
những tiến bộ công nghệ hiện đại của khu vực và trên thế giới cũng gặp rất nhiều
khó khăn, kéo theo là năng suất lao động, năng suất một số cây trồng của nước ta
nhìn chung ở mức thấp hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực. Tốc độ tăng
năng suất lao động bình quân của khu vực công nghiệp và xây dựng của thời kỳ
1986 – 2003 khoảng 7,3%/ năm. Còn năng suất lao động khu vực nông, lâm, ngư
nghiệp (tính bằng giá trị sản xuất/ số lao động làm việc của khu vực này, giá so
sánh năm 1994) năm 2003 chỉ đạt 2,8 triệu đồng, tốc độ tăng năng suất lao động
bình quân hàng năm của ngành này thời kỳ 1986 – 2002 cũng chỉ là 2,7%/ năm.
Theo khảo sát của FAO năm 2004, năng suất sắn của ta thấp hơn của Trung
Quốc 1,6 lần, ngô 2,1 lần, đậu tương 1,5 lần, dứa 1,6 lần, mía 2,6 lần (bảng 3).
BẢNG 3: So sánh năng suất một số cây trồng của Việt Nam và các nước.

Đơn vị tính: tạ/ ha
Trung Quốc

Việt Nam

Inđônêxia

Malaixia

Philippi

Thái Lan

n
Sắn

72,4

148,1
30,4
13,7
135,5
135,1

Năng suất lao động của công nhân ngành da giày Việt Nam cũng thấp
hơn so với Trung Quốc và Inđônêxia. Trong khi ca làm việc 8 giờ, 1 công nhân
Việt Nam sản xuất được 10 đôi giày thì công nhân Trung Quốc là 12,5 đôi và
Inđônêxia là 11,5 đôi.


9

Hiện nay, trong khi ở các nước phát triển như: Nhật Bản, Italia…nguồn
nhân lực chiến trên 80% trong tổng số các nguồn lực; các nước đang phát triển,
phần đóng góp của lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (khoa học - công
nghệ) vào tăng trưởng kinh tế khoảng 90%; ở các nước trong khu vực ASEAN
như Thái Lan, Philippin, Inđônêxia, Malaixia… cũng ở mức 60 – 70%. Thì ở
nước ta mức đóng góp này, nhất là nguồn nhân lực rất nhỏ bé (xem bảng 4). Qua
đây cho thấy, tăng trưởng kinh tế ở nước ta vẫn chủ yếu dựa vào tăng số lượng
các yếu tố đầu vào như vốn, tài nguyên (trong khi các yếu tố này có giới hạn).
Nếu chúng ta cứ tiếp tục tăng trưởng kinh tế theo kiểu này, thì nguy cơ cạn kiệt
tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường và kinh tế không bền vững là khó
tránh khỏi.
BẢNG 4: Đóng góp của các yếu tố sản xuất vào tăng trưởng kinh tế Việt

Nam

57,5
22,5
Việt Nam và

thế giới.
Do nhiều nguyên nhân, trong đó có chất lượng nguồn nhân lực thấp đã
dẫn đến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm của
nước ta rất yếu (Xem bảng 5). Theo báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2002/ 2003 của


10

Diễn đàn kinh tế thế giới, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước ta xếp thứ
65/ 79 nước, trong đó xếp hạng chỉ số công nghệ ở nước ta rất thấp, 68/79 nước,
chỉ số thể chế khu vực công cũng rất thấp, 62/79 nước và chỉ số môi trường kinh
tế vĩ mô có khá hơn, 38/79 nước. Cũng theo báo cáo này, xếp hạng chỉ số cạnh
tranh của doanh nghiệp nước ta cũng trong tình trạng rất thấp, 60/79 nước, trong
đó xếp hạng chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp xếp 67/79 nước và xếp
hạng môi trường kinh doanh quốc gia là 58/79 nước.
Theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2004 và 2005, khả năng
cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam không những không được cải thiện mà còn
tụt giảm. Năm 2004, xếp hạng 77/104 nước. Năm 2005, tụt xuống thứ 81/104
nước. Trong khi đó, năm 2004, xếp hạng của Trung Quốc là 47, Malaixia là 23,
Thái Lan là 36, Inđonêxia là 44…
Đánh giá về khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước ta gần đây nhất,
trong báo cáo mội trường kinh doanh do WB và công ty tài chính quốc tế (IFC)
công bố ngày 6/ 9/ 2006, thì Việt Nam xếp thự 104 trong số 175 nền kinh tế
được đánh giá và xếp hạng. So với tháng 9/ 2005 chúng ta tụt 6 bậc.
Có thể khẳng định rằng, trong bối cảnh quốc tế hóa đời sống kinh tế và
sự phát triển mạnh mẽ của của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay,

Malaixia
27
26
Thái Lan
31
35
Nguồn: Hội thảo khoa học: Đánh giá tác động của việc ra nhập WTO đối

Nước, lãnh thổ

với Việt Nam, bài “Chính sách ngành sau khi gia nhập WTO”, tr.3,4.
Với mục tiêu là đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước
chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển,
sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ X đã xác định: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và
tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo
định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu
tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH. Phát triển mạnh các ngành và sản
phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức…”. Nội dung cơ bản
của quá trình này được Đại hội X của Đảng chỉ ra là: “phát triển mạnh các
ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; coi
trọng cả số và chất lượng tăng trưởng kinh tế; xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại
và hợp lý; giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động của tất cả các
ngành…”.
Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện
hiện nay là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế và quy luật
khách quan. Song kết quả của quá trình này lại phụ thuộc rất lớn vào chất lượng
nguồn nhân lực và khoa học công nghệ (nếu không nói là nhân tố quyết định).
Trong khi đó, chất lượng nguồn nhân lực lại phụ thộc nhiều vào công tác giáo


4
Nguyễn Minh Tú: Các chính sách huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế Nhật Bản, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 15
3


13

Để việc giáo dục - đào tạo phát huy được trong sự nghiệp đổi mới, tạo ra
được nguồn lao động có chất lượng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH
gắn với phát triển kinh tế tri thức, theo tôi cần phải làm tốt mấy vấn đề sau:
Thứ nhất, phổ cập trung học cơ sở và phát triển giáo dục trung học phổ
thông nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho người lao động. Giải pháp này cần
hướng vào mấy điểm cơ bản sau:
Nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền, gia đình và cá nhân vế tầm
quan trọng của phổ cập trung học cơ sở và phát triển giáo dục trung học phổ
thông. Theo đó, cần bảo đảm các cơ chế khuyến khích học sinh đi học cấp trung
học cơ sở và trung học phổ thông.
Phát triển mạng lưới trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, tăng tỷ
lệ học sinh bán công, dân lập ở các thành phố, thị xã, vùng kinh tế phát triển, tạo
điều kiện cho mọi đối tượng trong xã hội đạt được trình độ học vấn trung học cơ
sở và tiến tới đa số đạt trung học phổ thông. Nhà nước tập trung hỗ trợ cho các
địa phương có khó khăn, đặc biệt là miền núi, vùng sâu, vùng xa để hoàn thành
tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở.
Thứ hai, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục cho mọi thành viên trong xã hội
thấy được sự cần thiết và lợi ích của việc lựa chọn con đường học tập phù hợp
với bản thân và xã hội, tạo môi trường thuận lợi để các thành viên khi có điều
kiện có thể phấn đấu nâng cao trình độ.
Trước mắt, cần tạo mọi điều kiện thu hút khoảng 70% học sinh tốt

đủ nhu cầu đào tạo. Hướng các trường đại học thực hiện các chức năng: giáo dục
- đào tạo, nghiên cứu khoa học và cung cấp dịch vụ cho xã hội. Giảng viên đại
học vừa có nhiệm vụ đào tạo, vừa có nhiệm vụ nghiên cứu và tư vấn chuyển giao
khoa học công nghệ. Có chế độ hợp lý để đảm bảo cho giảng viên tham gia


15

nghiên cứu khoa học và công nghệ có thu nhập tương xứng với kết quả các hoạt
động nghiên cứu, triển khai. Các trường đại học một mặt đầu tư thành lập các tổ
chức sản xuất, kinh doanh và dịch vụ phù hợp với năng lực và sở trường của
mình, mặt khác mở rộng quan hệ liên doanh, liên kết với các trường đại học
khác, với các viện nghiên cứu và các cơ sở sản xuất kinh doanh.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục đào tạo. Ở đây
cần nhanh chóng hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về giáo dục đào tạo.
Tăng cường chức năng thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chính sách và quy
định. Tăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường, thành lập
và khẩn trương triển khai hoạt động của các hội đồng thẩm định chất lượng (nhất
là các trường dạy nghề) để đảm bảo chất lượng đào tạo của các cấp trình độ.
Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức và kỹ năng
quản lý, lập kế hoạch cho cán bộ quản lý các trường; sử dụng các phương tiện,
thiết bị kỹ thuật thích hợp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status