1
QUAN NIỆM VỀ CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG TRONG LÝ THUYẾT
NỀN KINH TẾ HỖN HỢP VÀ SỰ VẬN DỤNG VẤN ĐỀ NÀY TRONG
PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA
Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp là tư tưởng trung tâm của kinh tế học
trường phái chính hiện đại. Mầm mống về nền kinh tế hỗn hợp có từ những
năm cuối thế kỷ XIX. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nó được các nhà
kinh tế học Mỹ là Hassen tiếp tục nghiên cứu và được Samuelson phát triển
trong “Kinh tế học”.
Samuelson sinh năm 1915 tại Gary, bang Indiana nước Mỹ; là người
sáng lập ra khoa kinh tế học nổi tiếng chuyên đào tạo sau đại học của Viện
Công nghệ Massachusetts. Ông được đào tạo ở trường Đại học Chicagô và
Harvard. Ông nổi tiếng thế giới nhờ nhiều công trình khoa học của mình và là
người Mỹ đầu tiên được nhận giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1970. Ông
tham ra viết bài trong mục Kinh tế học của tạp chí Newsweeks, thường điều
trần trước quốc hội Mỹ, cố vấn chuyên môn cho Ngân hàng dự trữ liên bang
và Bộ Ngân khố Hoa Kỳ, nhiều tổ chức tư nhân phi vụ lợi. Ông đã từng làm
cố vấn kinh tế cho Tổng thống Kennedy và còn là giáo sư thỉnh giảng tại
trường Đại học New York.
Cuốn “Kinh tế học” do Samuelson viết được xuất bản lần đầu tiên tại
New York vào năm 1948. Nó được dịch ra nhiều thứ tiếng và được xem là
chuẩn mực cho việc giảng dạy kinh tế cơ bản cho các trường học ở Mỹ và
một số nước khác. Cuốn sách gồm 2 tập. Tập I từ chương 1 đến chương 20
nói về kinh tế học vi mô; tập II từ chương 21 đến chương 37 nói về kinh tế
học vĩ mô. Năm 1995 cuốn sách đã được xuất bản lần thứ 15 có sửa đổi và bổ
sung những vấn đề mới nhất của kinh tế học hiện đại. Đặc điểm nổi bật trong
“Kinh tế học” là đã vận dụng một cách tổng hợp các tư tưởng và phương pháp
3
Samuelson cho rằng, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế,
trong đó cá nhân người tiêu dùng và những nhà kinh doanh tác động lẫn nhau
qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là cái gì?
như thế nào? và cho ai? Cơ chế thị trường “không phải là sự hỗn độn mà là
một trật tự kinh tế”. Với cách hiểu này cho thấy, mặc dù chưa thật đầy đủ,
nhưng ít nhiều, ở đây Samuelson đã bước đầu hiểu được cốt lõi của vấn đề cơ
chế thị trường.
Nền kinh tế thị trường là một cơ chế tinh vi để phối hợp mọi người, mọi
hoạt động và mọi doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả và thị trường. Nó là
một phương tiện gián tiếp để tập hợp tri thức và hành động của hàng triệu cá
nhân khác nhau. Không có một bộ não hay hệ thống tính toán trung tâm,
nhưng nó vẫn giải quyết được những vấn đề sản xuất và phân phối bao gồm
hàng triệu các ẩn số và mối tương quan mà không ai biết, những vấn đề ấy dù
cho những siêu máy tính nhanh nhất ngày nay cũng không thể làm nổi. Chẳng
ai thiết kế ra thị trường, nhưng nó vẫn vận hành rất tốt. Trong nền kinh tế thị
trường, không có một cá nhân hay tổ chức đơn lẻ nào có trách nhiệm sản xuất,
tiêu dùng, phân phối hay định giá. Thực ra ở đây, Samuelson đã nhìn thấy vai
trò to lớn không thể thiếu của thị trường trong nền kinh tế.
Thị trường là một cơ chế, trong đó người mua và người bán tương tác
với nhau để xác định giá cả và sản lượng của hàng hóa hay dịch vụ. Như vậy,
nói đến thị trường và cơ chế thị trường là phải nói tới hàng hóa, người bán,
người mua và giá cả hàng hóa.
Trong hệ thống thị trường, mọi thứ đều có giá cả, đó là giá trị của hàng
hóa và dịch vụ được tính bằng tiền. Giá cả thể hiện mức mà mọi người và các
hãng tự nguyện trao đổi nhiều loại hàng hóa khác nhau. Giá cả hoạt động như
một tín hiệu đối với người sản xuất và tiêu dùng. Nếu người tiêu dùng muốn
mua nhiều hàng hóa nào đó hơn nữa thì giá sẽ tăng và nó phát tín hiệu cho
và lá phiếu bằng đô la của người tiêu dùng mới thực sự xác định nên sản xuất
5
cái gì. Ở đây thị trường đóng vai trò trung gian hòa giải giữa sở thích của
người tiêu dùng và những hạn chế về kỹ thuật.
Samuelson cho rằng, trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là động lực
chi phối hoạt động của người kinh doanh. Các hãng luôn hướng tới mục tiêu
đạt lợi nhuận tối đa, vì vậy họ sẽ rời bỏ các hoạt động không đem lại lợi
nhuận và đầu tư vào sản xuất những hàng hóa có nhu cầu cao, thu nhiều lợi
nhuận. Đây là một nhận thức hoàn toàn chính xác và cũng là một bước tiến so
với những nhà kinh tế học trước đó trong lịch sử. Thực tiễn cho thấy rằng,
trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, vì lợi nhuận tối đa cho mình, mà các nhà
tư bản đã không ngừng tăng cường bóc lột lao động làm thuê, ít chú ý tới các
vấn đề xã hội, môi trường…Một học giả phương Tây đã viết: chủ nghĩa tư
bản là một cỗ máy sáng tạo / hủy hoại. Cỗ máy ấy càng sáng tạo nhiều thì hủy
hoại càng lớn; Nó tàn phá cả môi trường sinh thái, các cân bằng lâu dài của tự
nhiên lẫn bản thân con người và các hình thái xã hội; Nó đẻ ra tình trạng bất
bình đẳng ngày càng lớn (1969, 20% dân số nghèo nhất thế giới nắm 2,3%
các nguồn lực, đến 1994, chỉ còn nắm 1,1%. Trong khi đó, 20% dân số giàu
nhất thế giới năm 1969 nắm 69% và 1995 chiếm 89% các nguồn lực; Một
người Thụy Sỹ một ngày làm ra số của cải bằng một người Ôtiôpia lao động
suốt một năm. Những điều này không thể được coi là chính đáng.
Samuelson cũng chỉ ra rằng, kinh tế thị trường hoạt động trong môi
trường cạnh tranh, do các quy luật kinh tế chi phối. Việc cạnh tranh giữa
những nhà sản xuất sẽ xác định các hàng hóa được sản xuất như thế nào. Cách
tốt nhất để các nhà sản xuất giữ mức giá cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận là
giảm chi phí sản xuất nhờ áp dụng các phương pháp sản xuất hiệu quả nhất Samuelson đã áp dụng lý thuyết bàn tay vô hình của A. Smith, nguyên lý “cân
bằng tổng quát” của Leon Walras để phân tích môi trường hoạt động của kinh
Doanh nghiệp
Thế nào ?
Cho ai ?
Lao động
Đất đai
Vốn
Lao động
giá cả
trên
TT
yếu tốsx
SX
Cầu
Đất đai
Vốn
Cung
Cạnh tranh
7
Trong sơ đồ này cho thấy, bức tranh tổng quát về việc người tiêu dùng
và người sản xuất quan hệ với nhau như thế nào để xác định giá cả và số
lượng hàng hóa đầu ra, đầu vào. Trong vòng tuần hoàn này có hai loại thị
sở chi phí sản xuất và các tài khoản khác. Giá cả hàng hóa trên thị trường
được xác định trên cơ sở cân đối nhu cầu của người tiêu dùng với mức cung
của các hãng sản xuất. Giá trên thị trường yếu tố sản xuất được xác định trên
cơ sở cân đối giữa cung của hộ gia đình với cầu của các hãng kinh doanh.
Theo sơ đồ này, đồng tiền được vận động theo quy trình vòng tròn,
khép kín. Nó đi từ hộ tiêu dùng ra thị trường hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ để
mua hàng hóa. Thông qua giá cả và quan hệ cung – cầu, tiền trở về tay các
doanh nghiệp. Doanh nghiệp lại dùng lượng tiền đó để mua các yếu tố sản
xuất. Thông qua quan hệ cung – cầu và giá cả, nó lại trở về hộ gia đình.
Với cơ chế vận động như vậy, thị trường sẽ hoạt động nhịp nhàng, trôi
chảy, nền kinh tế sẽ đạt được sự cân bằng chung.
Samuelson cũng chỉ ra rằng, thị trường không phải lúc nào cũng đưa tới
kết quả tối ưu, mà nó có cả những hạn chế nhất định. Thứ nhất, đó là độc
quyền và các hình thức cạnh tranh không hoàn hảo khác. Thứ hai, những ảnh
hưởng ngoại sinh tiêu cực như ô nhiễm môi trường, khủng hoẳng, thất
nghiệp,thu nhập bất bình đẳng...Chính vì vậy mà cần có vai trò của nhà nước
để khắc phục những hạn chế này.
A. Smith, người viết tác phẩm “sự giàu có của các quốc gia” (1776) là
người đầu tiên thừa nhận trật tự của hệ thống thị trường. Ông phát hiện ra
nguyên tắc về “bàn tay vô hình”. Nguyên tắc này là mỗi người, trong khi theo
đuổi lợi ích cá nhân của mình đều bị bàn tay vô hình dẫn tới kết quả làm lợi
cho tất cả. Ông nêu lên sự hòa hợp giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng
như sau:
Mỗi cá nhân đều sử dụng vốn liếng của mình sao cho nó tạo ra giá trị
lớn nhất. Nói chung anh ta không chú ý đến việc khuyến khích lợi ích cộng
9
đồng và cũng không biết khuyến khích nó như thế nào. Anh ta chỉ chú ý tới
tại và hoạt động của chính cơ chế thị trường trong lịch sử phát triển kinh tế
thế giới, trực tiếp là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, chúng ta có thể hiểu cơ chế
thị trường một cách đầy đủ, đó là cơ chế tự điều chỉnh các cân đối của nền
kinh tế theo yêu cầu của các quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, giá cả , cạnh
tranh, lưu thông tiền tệ. Nó là guồng máy vận hành của nền kinh tế hàng hóa
phát triển, là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn vốn, tài
nguyên, công nghệ, sức lao động. Căn cứ vào thị trường, các doanh nghiệp sẽ
quyết định: sản xuất cái gì? sản xuất thế nào? sản xuất cho ai?
Cơ chế thị trường đòi hỏi mọi chủ thể kinh tế phải được tự do kinh
doanh (trong những ngành nghề, lĩnh vực pháp luật cho phép); mọi chủ thể
kinh doanh đều được quyền tự chủ; các hình thức lợi ích như, lợi nhuận, thu
nhập...chính là động lực, mục tiêu tìm kiếm của các chủ thể hoạt động trên
thương trường; cạnh tranh là phương thức hoạt động chủ yếu của các doanh
nghiệp trên thị trường.
Nói đến cơ chế thị trường là nói tới vai trò điều tiết của các quy luật
kinh tế khách quan, nó không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của con người.
Lúc này, thị trường là cơ sở để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh
tế: sản xuất cái gì? sản xuất thế nào? sản xuất cho ai?
Cơ chế thị trường bao gồm ba nhân tố cơ bản đó là, thị trường, nhà
nước và người tiêu dùng. Mỗi một nhân tố có một vai trò vị trí khác nhau và
tất cả đều có quan hệ chặt chẽ không tách rời nhau.
Dấu hiệu đặc trưng nhất của cơ chế thị trường là cơ chế hình thành giá
cả tự do. Người bán và người mua thông qua thị trường để xác định giá cả.
Giá cả thị trường là hạt nhân, là trung tâm của cơ chế này, và là bàn tay vô
hình trực tiếp điều tiết hành vi kinh doanh của các chủ thể kinh tế.
11
Cơ chế này tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại và phát triển của
loại. Vì thế, không nên quan niệm một cách giản đơn là thị trường và cơ chế
thị trường là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản. Càng không nên ngộ nhận
kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản là một. Từ đó cho rằng, chuyển sang
nền kinh tế thị trường là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chúng ta lựa
chọn con đường xã hội chủ nghĩa vì sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh” trên cơ sở một nền kinh tế hoạt động năng
động, có hiệu quả, có môi trường để mọi người tự do kinh doanh, tự do làm
giàu một cách chân chính, có điều kiện thực hiện công bằng xã hội...Nền kinh
tế đó không thể là một nền kinh tế tự cấp, tự túc gắn liền với cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, mà phải là nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước – nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
cùng phát triển trong một cơ cấu thống nhất, cùng phát huy tác dụng tích cực
trong môi trường cạnh tranh, trong đó nhà nước đóng vai trò quan trọng để
phát huy ảnh hưởng kinh tế của mình trên thị trường.
Lịch sử đã chứng minh có hai phương thức cơ bản trong tổ chức nền
kinh tế. Phương thức thứ nhất là chính phủ đưa ra hầu hết các quyết định kinh
tế theo các mệnh lệnh hành chính. Còn phương thức thứ hai là toàn bộ các
quyết định đều do thị trường xác định, việc mua bán trên thị trường thông qua
tiền tệ. Mỗi phương thức đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Nếu
quá nhấn mạnh phương thức này hoặc phương thức kia đều dẫn tới sự kém
hiệu quả của nền kinh tế. Theo đó, việc lựa chọn mô hình hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không phải đơn giản là sự trở
về với phương thức chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công
nghiệp, mà điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải chuyển sang nền
kinh tế hiện đại, văn minh, nhằm mục tiêu từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đây là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện lịch
sử cụ thể của thời đại và của những nước đi sau, “cho phép các nước này
13
14
đề, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần không tách rời việc xây dựng đồng bộ và vận hành có hiệu quả cơ
chế thị trường...Đến Đại hội IX (2001), Đảng khẳng định: “Đảng và nhà nước
ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của
nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội Đảng lần thứ X (2006), một lần nữa
khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa...Chuyển thực sự nền kinh tế sang hoạt
động theo nguyên tắc thị trường, lấy thị trường làm cơ sở chủ yếu để phân bổ
các nguồn lực, có sự điều tiết của nhà nước”. Đây là bước đổi mới quan trọng
trong tư duy lý luận của Đảng ta, tiếp tục mở ra một trang mới về đổi mới
kinh tế ở Việt Nam.
Trong phát triển kinh tế, chúng ta coi thị trường là một công cụ điều tiết
kinh tế khách quan, nó là căn cứ để xây dựng và kiểm tra các kế hoạch phát
triển kinh tế. Những mục tiêu và biện pháp đã dự định của các kế hoạch kinh
tế muốn được thực hiện có hiệu quả như mong muốn, phải xuất phát từ yêu
cầu của thị trường.
Ở tầm vi mô, thị trường đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng kế
hoạch sản xuất , kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua sự biến động của
giá cả, cung – cầu trên thị trường, các doanh nghiệp lựa chọn phương án: sản
xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai. Cũng từ đó mà các doanh
nghiệp lựa chọn cơ cấu sản xuất, đầu tư của mình.
Trên tầm vĩ mô, mặc dù thị trường không phải là căn cứ duy nhất có
tính quyết định, song kế hoạch nhà nước không thể thoát ly khỏi tình hình
thực tiễn của thị trường. Thoát ly thị trường, kế hoạch vĩ mô sẽ trở thành duy
ý chí. Kế hoạch vĩ mô đóng vai trò điều tiết và duy trì sự ổn định các cân đối
16
Theo đó, chúng ta xác định, tiếp tục phát triển đồng bộ các yếu tố thị
trường và các loại thị trường; đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế
của nhà nước. Cụ thể là:
Tạo lập đồng bộ các yếu tố cấu thành thị trường chung bao gồm “thị
trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường khoa học và công
nghệ, thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản.
Tinh thần nhất quán là: tôn trọng các nguyên tắc của thị trường gắn với hội
nhập quốc tế”. Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các
doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển. Thông qua chiến lược và
quy hoạch, chính sách phù hợp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng vật chất
của nhà nước để định hướng phát triển kinh tế xã hội, điều tiết phân phối và
thu nhập.
Tăng cường sự kiểm tra, giám sát của nhà nước theo quy định của pháp
luật, đấu tranh chống các tệ nạn buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại,
tham nhũng…; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch,
hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh. Phân định rõ chức năng quản lý
hành chính nhà nước với chức năng quản lý sản xuất. Đổi mới công tác kế
hoạch hóa theo hướng xuất phát và gắn chặt với thị trường. Đồng thời giữ
vững sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của nhà nước trong quá trình
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, cơ chế thị trường là guồng máy vận hành của nền kinh tế hàng
hóa phát triển, là cơ chế tự điều chỉnh các cân đối của nền kinh tế theo yêu
cầu của các quy luật kinh tế khách quan, hoạt động không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan. Sẽ là sai lầm nếu không có một nhận thức đầy đủ về vấn đề
này trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước. Theo đó,
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ
chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị