Lựa chọn 1 dịch vụ cụ thể và phân tích đặc điểm lao động của dịch vụ đó( lựa chọn dịch vụ giúp việc) - Pdf 40

Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Quản trị Dịch vụ (Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Thị Nguyên Hồng, Nhà
xuất bản thống kê năm 2014)
2. Bộ luật Lao động 2012
3. Nghị định 27/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Quy định chi tiết thi hành một số điều
của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình.
4. />5. />S_241181/lang--vi/index.htm
6. />

Lời mở đầu
Tại Việt Nam hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu về các dịch
vụ ngày càng tăng lên. Một trong những dịch vụ rất được ưa chuộng, đặc biệt ở các đô
thị, thành phố lớn đó là dịch vụ giúp việc trong gia đình. Cuộc sống thành thị với guồng
quay và áp lực của công việc xã hội khiến cho nhiều người khó có thể cân bằng được thời
gian và sức lực giữa việc đi làm, đóng góp cho xã hội với việc đảm bảo việc nhà, chăm
sóc cho gia đình. Đó là lý do cơ bản để xuất hiện cầu về lao động giúp việc. Trong khi
đó, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, nhiều
người dân ở vùng nông thôn đã tìm ra thành phố để kiếm việc làm mưu sinh. Trong đó,
những người phụ nữ di cư ra thành thị là nguồn cung cho dịch vụ giúp việc. Cũng như
những loại hình dịch vụ khác, lao động giúp việc mang những đặc điểm chung của lao
động xã hội nói chung và lao động trong ngành dịch vụ nói riêng, song mỗi ngành dịch
vụ lại có những đặc điểm lao động đặc thù, phân biệt với các loại hình dịch vụ khác,
không ngoại trừ dịch vụ giúp việc trong gia đình.

1


Chương 1. Lý thuyết về đặc điểm của lao động dịch vụ
1.1. Khái niệm “dịch vụ”, “lao động dịch vụ”
a. Khái niệm “dịch vụ”
Dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho

thế cho sản xuất thủ công với mục đích làm tăng năng suất lao động. Khi đó lao động
sống trở nên dư thừa, và phát triển dịch vụ là giải pháp hiệu quả cho các quốc gia để giải
quyết tốt vấn đề thất nghiệp cùng các vấn đề xã hội khác.
1.2 . Những đặc điểm của lao động dịch vụ
Là lực lượng lao động trong xã hội, lao động trong lĩnh vực dịch vụ mang đầy đủ
những phẩm chất của lao động xã hội. Bên cạnh đó, lao động dịch vụ có bảy đặc điểm
riêng, đặc thù trong ngành dịch vụ như sau:
a. Lao động dịch vụ mang tính chất phi sản xuất vật chất
Karl Marx chỉ rõ: "Trong những trường hợp mà tiền được trực tiếp trao đổi lấy một
lao động không sản xuất ra tư bản, tức là trao đổi lấy một lao động không sản xuất, thì lao
động đó được mua với tư cách là một sự phục vụ. Lao động đó cung cấp những sự phục
vụ không phải với tư cách là một đồ vật, mà với tư cách là một sự hoạt động.”
Sản phẩm của dịch vụ là sản phẩm vô hình. Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng
tư duy hay giác quan thông qua việc trải nghiệm, tiêu dùng chứ ta không thể "sờ mó" sản
phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo
lường thông thường về thể tích, trọng lượng. Bệnh nhân không thể biết trước kết quả
khám bệnh trước khi đi khám bệnh, khách du lịch không biết trước tác động của những
dịch vụ được cung cấp trước khi chúng được cung ứng và tiếp nhận. Song trên thực tế,
sản phẩm của lao động dịch vụ sản xuất ra vẫn chứa giá trị gia tăng và mang lại lợi ích
cho khách hàng. Việc có những đãi ngộ nhân lực xứng đáng cho lao động trong ngành
dịch vụ giúp việc kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp có hiệu quả, giữ chân những lao
động có tài và có kinh nghiệm.

3


b. Lao động dịch vụ mang tính chất phức tạp
Trong quá trình thực hiện dịch vụ, lao động dịch vụ phải tương tác nhiều với các yếu
tố của môi trường kinh doanh. Thậm chí, do đặc thù của nghề dịch vụ mang tính rủi ro
cao, họ có thể bị đe dọa về cả sức khỏe và tính mạng. Về quan hệ giữa người với người,

của ngành nghề, họ và gia đình của mình phải chịu thiệt thòi nhất định khi không thể
tham gia các hoạt động vui chơi giải trí vào dịp lễ tết. Để khắc phục tình trạng này, các
doanh nghiệp cần có sự cân bằng, đưa ra các sản phẩm đa dạng để phục vụ khách hàng
vào các thời điểm khác nhau trong năm, giúp điều hòa công việc cho người lao động.
d. Lao động dịch vụ có tỷ trọng lao động nữ cao
Tuy điều này không đúng với tất cả các ngành nghề trong lĩnh vực dịch vụ, song theo
thống kê cho thấy, ở hầu hết các ngành dịch vụ tỉ lệ lao động nữ chiếm hơn 50% so với
nam giới. Ngành dịch vụ là môi trường phù hợp với đa số lao động nữ do tính chất công
việc đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ và tính kiên nhẫn. Hơn nữa, vì chịu ảnh hưởng của tính
thời điểm, thời vụ nên ngành dịch vụ thường khó có công việc ổn định, thu nhập lại
không cao. Vì vậy, nam giới thường không mấy đón nhận bởi thu nhập không đảm bảo
được chức trách, vai trò người đàn ông trụ cột trong gia đình. Với tỷ trọng nhân lực là nữ
cao như vậy, các doanh nghiệp dịch vụ thường xuyên gặp khó khăn khi ngoài công việc,
những nữ nhân viên của họ còn phải đảm nhận vai trò làm vợ, làm mẹ trong gia đình.
Không chỉ phải bố trí nhân sự phù hợp khi nhân viên nghỉ sinh, nghỉ ốm, doanh nghiệp
còn phải đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật về chế độ thai sản, con nhỏ…của người lao
động. Để thực hiện tốt những điều đó, các doanh nghiệp phải rất linh hoạt trong việc sắp
xếp ca kíp cho nhân viên, chú ý tuổi tác và có những thỏa thuận rõ ràng về kế hoạch thai
sản của nhân viên từ khi tuyển dụng, cân bằng tỷ lệ nam nữ trong doanh nghiệp cũng như
có những chính sách nhất định dành cho nữ nhân viên.

5


e. Lao động dịch vụ có tính đa dạng và chuyên môn hóa cao
Theo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, dịch vụ có 12 với 155 phân
ngành khác nhau. Con số đó đã nói lên sự đa dạng của các ngành nghề dịch vụ đa dạng.
Với sự đa dạng đó, thì lao động trong lĩnh vực dịch vụ chắc chắn cũng phải vô cùng đa
dạng. Họ tác nghiệp trong các ngành dịch vụ khác nhau, với những công việc và chức
năng khác nhau. Tính chuyên môn hoá cao của lao động trong ngành dịch vụ thể hiện ở

nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động.

Chương 2. Đặc điểm của lao động trong dịch vụ giúp việc gia đình
2.1. Khái quát về “Giúp việc gia đình”
a. Định nghĩa “Giúp việc gia đình”
Ngày nay, ở các nước phát triển nền kinh tế thị trường đều tồn tại loại hình lao động
giúp việc gia đình và lao động giúp việc gia đình đã trở thành một nghề được xã hội thừa
nhận. Trong mối quan hệ đó, người giúp việc gia đình và chủ nhân có địa vị pháp lý bình
đẳng, quan hệ được tiến hành trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng, tôn trọng danh dự và nhân
phẩm của nhau. Nghề giúp việc gia đình tại Việt Nam hiện nay đã không còn là một công
việc mới, nó đáp ứng nhu cầu của cả hai nhóm người có thu nhập nhưng thiếu thời gian,
nguồn lực (sức lực, khả năng) dành cho các công việc gia đình và người chưa có việc làm
hoặc việc làm có thu nhập thấp nhưng có thời gian và năng lực đáp ứng.
Theo qui định tại khoản 1 Điều 179, Bộ luật Lao động 2012 về lao động là người
giúp việc gia đình và tại Điều 3 - Nghị định số 27/2014/NĐ-CP Qui định chi tiết thi hành
một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là giúp việc gia đình, lao động là người
GVGĐ được xác định là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình
(là các công việc trong hợp đồng lao động được lặp đi lặp lại theo một khoảng thời gian
nhất định (hằng giờ, hằng ngày, hằng tuần hoặc hằng tháng) của một hoặc nhiều hộ gia
đình. Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ,
chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ
7


gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại. Trong đó, bao gồm người lao
động sống tại gia đình người sử dụng lao động và người lao động không sống tại gia đình
người sử dụng lao động.
b. Phân loại giúp việc gia đình
Theo thời gian làm việc, lao động giúp việc được phân thành: giúp việc toàn thời
gian, giúp việc bán thời gian và giúp việc theo giờ.


Trông trẻ



Chăm sóc người già, người bệnh



Làm vườn



Quản gia



Dắt chó đi dạo



v. v...

c. Nguồn lao động giúp việc gia đình
-

Qua giới thiệu: nguồn giới thiệu công việc cho người giúp việc chiếm tỷ lệ cao là

bạn bè, người quen, sau đó là tới nhóm bà con, họ hàng. Với tính chất công việc và phạm
vi hoạt động là tạicác gia đình nên cả người thuê và người tìm việc đều mong muốn tìm

động (Bộ Kế hoạch Đầu tư, 2011), tính đến năm 2010, Việt Nam có khoảng 200 nghìn
lao động giúp việc gia đình (LĐGVGĐ) và nhu cầu đối với loại hình lao động này đang
ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các thành phố lớn; dự tính đến năm 2020 lực lượng lao
động này có thể tới 350 nghìn người.
Về nhu cầu việc làm, tìm hiểu nhu cầu của người lao động về công việc LĐGVGĐ,
thống kê vào năm 2013 của Trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng
cho thấy 42,5% phụ nữ ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa có nhu cầu làm giúp
việc gia đình, phần lớn có nhu cầu làm nội trợ, việc nhà (51,4%), tiếp đến có 23,2%
người dự định chăm sóc trẻ em, chăm sóc người ốm/người cao tuổi chỉ chiếm 2,9%.
Người lao động giúp việc gia đình chủ yếu ở độ tuổi trung niên (36-55 tuổi). Bên cạnh
đó, có một bộ phận đáng kể là những người ở ngoài độ tuổi lao động (trên 55 tuổi) tham
gia vào thị trường lao động này.
Về nhu cầu sử dụng lao động GVGĐ, Qua các nghiên cứu về LĐGVGĐ đều chỉ ra
nhu cầu xã hội về sử dụng LĐGVGĐ ngày càng tăng lên qua các năm. Tìm hiểu nhu cầu
sử dụng LĐGVGĐ của các hộ gia đình đang có người giúp việc, thông tin thu được vào
năm 2015 cho thấy, đa số các hộ gia đình có nhu cầu sử dụng người giúp việc trong thời
gian dài (từ 3-5 năm), chủ yếu cần người giúp việc sống cùng (73%). Hộ gia đình thuê
10


LĐGVGĐ làm công việc nội trợ: Tỷ lệ số hộ gia đình thuê người giúp việc để làm các
công việc nội trợ có xu hướng tăng lên: (49,3%), Chăm em bé (33,8% ), chăm sóc, trông
nom người già, ốm (16,9%).
Do đa phần lao động giúp việc gia đình là nữ giới, đến từ nông thôn và có trình độ
học vấn không cao (kết quả điều tra tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh của Viện Gia
đình và giới (IFGS) năm 2011 cho thấy, có 85,7% người lao động có trình độ học vấn
trung học cơ sở trở xuống), nên LĐGVGĐ vẫn đang gặp nhiều trở ngại khi họ lựa chọn
công việc này. Đó có thể là những trở ngại về tâm lý khi trước đây nhiều quan điểm sống
chưa coi trọng người giúp việc, hay trở ngại về hiểu biết pháp luật khiến họ không rõ về
quyền lợi, nghĩa vụ của mình, kỹ năng làm việc cũng là một trở ngại đáng kể đối với cả

b. Tính chất phức tạp trong lao động giúp việc
Vài năm trở lại đây, nhu cầu tìm người giúp việc gia đình thông qua các trung tâm
ngày càng tăng. Điều này xuất phát từ những khó khăn thậm chí rủi ro khi những người
có nhu cầu phải tự tìm người giúp việc cho mình. Đồng thời, tình trạng người giúp việc
tự do “làm giá”, nghỉ ngang không lý do, lý lịch không rõ ràng, nhân thân thiếu tin cậy
gây khó khăn cho chủ nhà. Ngoài ra, đối với người lao động, khi họ tìm đến công việc,
với mỗi người chủ mới là một trải nghiệm mới. Họ không được lựa chọn, và khi về với
gia đình của người chủ, họ sẽ phải thích nghi, làm quen với những nguyên tắc, những nếp
sống của gia đình đó dù họ có muốn hay không. Thậm chí, những nữ giúp việc có nguy
cơ gặp rất nhiều rủi ro như bị bạo hành, bị bóc lột sức lao động, bị xâm hại, quấy rối…
Bên cạnh những quan hệ với con người, để đáp ứng yêu cầu công việc, những người giúp
việc phải thao tác, làm việc với đồ đạc trong nhà gia chủ, những trang thiết bị hiện đại mà
họ có thể chưa sử dụng bao giờ như máy rửa bát, lò nướng, các loại máy hỗ trợ chăm sóc
sức khỏe người bệnh… Để khắc phục tính phức tạp vốn có này, người sử dụng lao động
cần chỉ dẫn cẩn thận cho người giúp việc những việc họ cần làm, cách thức sử dụng
những trang thiết bị mà họ chưa biết sử dụng. Ngoài ra, về phía xã hội, các trung tâm dạy
nghề cần mở các khóa đào tạo chuyên nghiệp cho người hành nghề giúp việc, nhất là
trong bối cảnh nghề giúp việc gia đình đang dần được coi là một nghề nghiệp chính
12


thống. Điều này giúp người giúp việc có những kỹ năng, kiến thức cần thiết khi hành
nghề, nâng cao chất lượng lao động.
c. Tính thời điểm, thời vụ của lao động giúp việc
So với các dịch vụ khác như khách sạn, vui chơi giải trí… tính thời điểm, thời vụ của
lao động trong dịch vụ giúp việc gia đình thể hiện có phần mờ nhạt hơn. Đặc điểm này
xuất phát từ nhu cầu của khách hàng:
Vào thời điểm lễ tết, ở đô thị khách hàng có xu hướng đi du lịch thì sẽ cần đến giúp
việc theo giờ hoặc theo ngày để giúp họ chăm sóc dọn dẹp nhà cửa. Hoặc có những gia
đình không phải luôn có nhu cầu về giúp việc, mà chỉ là khi gia đình họ có người già, trẻ

việc phục vụ người khác việc giúp việc đòi hỏi tính chất công việc phải làm một cách tỉ
mỉ, công phu lắt nhắt, phải có sự khéo léo trong nấu ăn, dọn dẹp, sự mềm mại, tế nhị của
người phụ nữ, người phụ nữ nhẹ nhàng, cần sự chịu khó, tỉ mỉ, chăm chỉ, hiền lành,
ngoan ngoãn, tâm lý và bản chất mạnh mẽ của nam giới không phù hợp với công việc đó.
Thứ hai, do tính phức tạp về tâm lý của người giúp việc và người thuê giúp việc: khi
thực hiện nhiệm vụ của mình, người lao động giúp việc phải chịu nhiều áp lực từ phía
chủ nhà, và các thành viên trong gia đình. Trong khi người phụ nữ vốn mang bản tính dịu
dàng, nhẫn nhịn thì người đàn ông thường sĩ diện, cái tôi lớn, không dễ dàng thỏa hiệp
với những yêu cầu của người khác. Hơn nữa, trong xã hội luôn tồn tại những mặt trái,
những tệ nạn và mối nguy hiểm có thể xảy ra bất cứ lúc nào như bắt cóc trẻ em, quấy rối
tình dục…, việc thuê một nữ giúp việc chắc chắn mang đến sự yên tâm cho các bậc phụ
huynh nhiều hơn là thuê một nam giúp việc. Mặt khác, có thể do thu nhập của công việc
giúp việc gia đình không cao và không ổn định nên nam giới không muốn làm vì không
đảm bảo được vai trò trụ cột trong gia đình họ.
Dù lao động nữ giới trong nghề giúp việc gia đình chiếm chủ yếu, song mỗi công việc
của người giúp việc lại có đặc thù riêng, phù hợp với những người phụ nữ khác nhau. Vì
vậy khi lựa chọn người giúp việc, người sử dụng lao động cần cân nhắc đến mục đích của
mình để có sự lựa cọn đúng đắn. Thông thường, những người phụ nữ đã đứng tuổi, có
14


nhiều kinh nghiệm sống sẽ hợp với việc chăm sóc người già, những người phụ nữ chưa
lấy chồng, còn có sức khỏe dẻo dai nên được lựa chọn cho công việc nấu nướng, dọn dẹp
nhà cửa. Còn những người phụ nữ không quá già hoặc quá trẻ, đã lập gia đình và có con,
tỉ mỉ và cẩn thận sẽ được ưu tiên cho công việc chăm sóc em bé. Trong quá trình làm
việc, người sử dụng lao động nên có những chính sách nhất định cho lao động của mình,
sắp xếp thời gian cho họ được nghỉ ngơi và về thăm gia đình định kỳ đối với những giúp
việc sống cùng chủ nhà. Có như vậy, người lao động vừa cân bằng được công việc và đời
tư, vừa có thêm động lực để làm việc hiệu quả.
e. Tính đa dạng và chuyên môn hóa cao của lao động giúp việc

phụ nữ Việt Nam.
Tuy nhiên, làm được không có nghĩa là làm đúng theo ý mình, vì vậy người sử dụng
lao động nên giới thiệu thêm về những công việc nhà khác, hướng dẫn người giúp việc
để họ có thể phục vụ mình trong trường hợp cần thiết, để đảm bảo việc họ luôn hoàn
thành công việc để chúng ta hài lòng. Ngoài ra, người chủ nhà tâm lý sẽ biết cách tạo
không khí thoải mái, bình đẳng để người lao động được tự tin, thoải mái, tránh tạp áp
lực, sẵn sàng giúp đỡ khi người giúp việc có điều khúc mắc, đồng thời tiếp thu, trân
trọng những đóng góp hay và hợp lý của người lao động.
g. Các đặc điểm khác có ở lao động giúp việc
Ngoài những đặc điểm chung của lao động trong ngành dịch vụ, lao động giúp việc
gia đình còn có một số đặc điểm riêng, mang tính đặc thù như sau:
Thứ nhất, phẩm chất thật thà của người lao động giúp việc luôn được đặt lên hàng
đầu. Trong những phẩm chất của lao động giúp việc gia đình, tính thật thà, ngay thẳng
luôn là tiêu chí đầu tiên khi người sử dụng lao động tiếp cận dịch vụ. Bởi lẽ, khi tiếp cận
dịch vụ giúp việc, người sử dụng lao động phải chấp nhận việc cho người lạ vào nhà,
chấp nhận san sẻ nơi riêng tư của mình. Thậm chí, đối với những giúp việc chuyên chăm
sóc trẻ nhỏ, người già yếu, người bệnh, người chủ phải giao phó sức khỏe và tính mạng
của người thân họ cho người giúp việc. Vì vậy, tính thật thà là điều tối quan trọng để cả
hai bên - người lao động và người sử dụng lao động có thể tin tưởng hợp tác với nhau.
16


Ngoài ra, người sử dụng lao động để tránh rủi ro cũng cần có những giải pháp riêng để
yên tâm sử dụng dịch vụ như tìm nguồn cung cấp dịch vụ uy tín, tin cậy, có chế độ đãi
ngộ và mức lương xứng đáng cho người giúp việc, sử dụng khoa học công nghệ hay như
thiết bị giám sát an ninh để hỗ trợ kiểm tra giám sát khi cần thiết, tôn trọng và đặt niềm
tin
Thứ hai, lao động giúp việc gia đình không có cơ hội thăng tiến.
Ở Việt Nam, phần lớn các gia đình chỉ thuê giúp việc đơn nhất (thuê một người giúp
việc làm chuyên tâm một công việc cụ thể hoặc làm nhiều công việc trong nhà). Vì vậy,

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status