TIỂU LUẬN TÍNH tất yếu, đa DẠNG, đặc THÙ về CHỦ NGHĨA xã hội và CON ĐƯỜNG đi lên CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM sự vận DỤNG SÁNG tạo của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM - Pdf 40

MỞ ĐẦU

Chủ nghĩa xã hội (CNXH) khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành chủ
nghĩa Mác do Mác - Ăngghen sáng lập vào nửa sau thế kỷ XIX. Sau khi Mác và
Ăngghen từ trần, Lênin là người kế tục sự nghiệp vĩ đại do Mác và Ăngghen để lại,
từ cuối thế kỷ XIX đến những năm hai mươi của thế kỷ XX.
Lênin đã có những cống hiến vô giá đối với lịch sử trong việc vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác nói chung và CNXH khoa học nói riêng trong
những điều kiện lịch sử mới ở đầu thế kỷ XX.
Mác - Ăngghen tập trung nghiên cứu kết cấu kinh - xã hội của xã hội tư bản
chủ nghĩa ở thời kỳ tư do cạnh tranh, vạch ra bản chất và quy luật vận động của chủ
nghĩa tư bản để từ đó luận chứng về tính tất yếu lịch sử sự diệt vong của chủ nghĩa
tư bản, sự thắng lợi của CNXH và chủ nghĩa cộng sản trong tương lai. Các ông đã
phát hiện ra vai trò và sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản cách mạng, đặt
nền móng cho lý luận CNXH khoa học, chuyển CNXH từ không tưởng tới khoa
học. Lênin, dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác để
phân tích cụ thể một tình hình lịch sử cụ thể khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh
đã chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, lũng đoạn, đã mang hình thái lịch sử
của chủ nghĩa đế quốc. Từ đó, phát triển lý luận của Mác - Ăngghen về cách mạng
vô sản, về con đường đi tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản, Lênin đã đem lại những
luận chứng khoa học đầy tính sáng tạo về khả năng và triển vọng của cách mạng vô
sản trong bối cảnh mới ở đầu thế kỷ XX, về xu thế lịch sử của con đường (loại
hình) "phát triển rút ngắn" và "quá độ gián tiếp" tới CNXH, bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa đối với các nước lạc hậu, chậm phát triển, thậm chí còn cả những tàn dư
của các quan hệ phong kiến, gia trưởng, tiền tư bản.
Luận thuyết này của Lênin đã được lịch sử chứng thực bằng cuộc Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917 bằng thực tiễn xây dựng CNXH ở Liên Xô cũng như quá
trình sinh thành chế độ mới xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nhiều nước từ châu Âu, châu
Á đến châu Mỹ Latinh từ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai (1939 - 2945) đến nay.
Cần phải nói tới những điều căn bản sau đây làm cơ sở cho việc luận chứng
về tính tất yếu, đa dạng, đặc thù và những giá trị bền vững của CNXH khoa học

cạnh trạnh và đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa. Song trong hình thái kinh tế - xã hội
TBCN, do chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được đẩy lên đến mức cực
đoan khiến cho quan hệ sản xuất TBCN với tính chất tư hữu đã mâu thuẫn gay gắt
2


với trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất và trở thành yếu tố căn bản kìm hãm
sự phát triển kinh tế - xã hội. Để giải quyết mâu thuẫn này mở đường cho lực lượng
sản xuất phát triển, phải thông qua một cuộc “đảo lộn cách mạng” (C.Mác) nhằm
thiết lập chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu - yếu tố quan trọng nhất
làm cho quan hệ sản xuất đạt đến trình độ xã hội hóa để phù hợp với trình độ xã hội
hóa đã đạt được của lực lượng sản xuất, từ đó thiết lập một phương thức sản xuất
mới tiến bộ. Cuộc “đảo lộn cách mạng” thành công sẽ dẫn đến sự ra đời của một
hình thái kinh tế - xã hội mới - đó là hình thái kinh tế - xã hội CSCN mà giai đoạn
đầu là CNXH.
Lịch sử đã từng biết đến, những câu trả lời nằm trong di sản của Mác Ăngghen và về mặt khoa học thì, chỉ từ khi chủ nghĩa Mác xuất hiện, chi từ khi
CNXH trở thành khoa học, nghĩa là từ nửa sau thế kỷ XIX trở đi, khoa học xã hội
và nhân văn mới thực sự trở thành khoa học. Về phương diện cách mạng, có thể
nói, với chủ nghĩa Mác và CNXH khoa học ra đời, lần đầu tiên trong lịch sử, giai
cấp vô sản cách mạng đã có được lý luận chính trị triệt để của mình làm vũ khí tư
tưởng và tinh thần bước vào cuộc đấu tranh giải phóng cho mình để đi tới giải
phóng cả xã hội loài người, xóa bỏ tình trạng nô lệ cuối cùng trong lịch sử và trỏ
thành tự do đầu tiên trong lịch sử đích thực mới. Ấy là bước nhảy vọt từ vương
quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do trong hình thái xã hội cộng sản - một
kêt quả hợp lôgích của sự phát triển lịch sử nhờ phủ định biện chứng hình thái xã
hội tư bản. Những tư tưởng khoa học, cách mạng ấy “ngay từ lúc mới sinh thành đã
khai sáng cho giai cấp vô sản và toàn thể nhân loại cần lao, đem lại một niềm tin
thực sự khoa học chứ không phái tín điều tôn giáo cho đông đảo mọi người, đã mở
đâu sự hình thành một thứ chủ nghĩa lạc quan lịch sử mới thấm nhuần sâu sắc các
giá trị duy lý khoa học hiện đại với các giá trị nhăn văn hiện đại”[2, tr.261]. Những

nguyên lý bất di bất dịch này, V.I.Lênin viết: “Chỉ có Đảng cộng sản, nếu nó
thực sự là đội tiền phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm những đại
biểu ưu tú nhất của giai cấp đó, nếu nó gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn
toàn có ý thức và trung thành, có học vấn và được tôi luyện bằng kinh nghiệm
4


đấu tranh cách mạng bền bỉ, nếu nó biết gắn liền với toàn bộ cuộc sống của giai
cấp mình và thông qua giai cấp đó, gắn liền với tất cả quần chúng bị bóc lột, và
biết làm cho giai cấp và quần chúng đó tin tưởng hoàn toàn vào mình, - chỉ có
một đảng như vậy mới có thể lãnh đạo được giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh
cuối cùng, kiên quyết nhất, thẳng tay nhất chống lại tất cả mọi thế lực của chủ
nghĩa tư bản”[13, tr.227].
Nhưng thời gian qua và hiện nay, sự suy giảm lý tưởng cộng sản, sự thoái
hóa biến chất của một số tổ chức Đảng và của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng
viên; cộng với sự thờ ơ chính trị, suy giảm niềm tin của một bộ phận quần chúng
Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trên thế giới... đã
khiến cho CNXH hiện thực lâm vào khủng hoảng và đổ vỡ vào những năm 90 của
thế kỷ XX. Bài học này còn nguyên giá trị đối với bất kỳ nước nào tiếp tục định
hướng xây dựng CNXH nếu không tôn trọng qui luật khách quan, nếu xa dân đều
có thể phải trả giá đắt cho việc tùy tiện theo ý muốn chủ quan dẫn đến coi thường
tính tất yếu phổ biến khách quan của con đường đi lên CNXH mà chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ ra.
Song cũng cần thắng thắn nhìn nhận một thực tiễn lịch sử khác khi xây dựng
CNXH của nhiều nước trước đây do rập khuôn theo mô hình xô viết, đặc biệt là do
vi phạm qui luật trong việc giải quyết mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất với trình
độ của lực lượng sản xuất, thể hiện ở việc đẩy quan hệ sản xuất vượt trước quá xa
so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nguyên nhân của tình trạng này
chủ yếu do nóng vội, duy ý chí. Song phải chăng ở đây còn có sự hiểu không đúng
về tư tưởng của C.Mác khi lâu nay chúng ta vẫn sử dụng thuật ngữ là thiết lập “chế
độ công hữu hay sở hữu công cộng” về tư liệu sản xuất? Chúng tôi cho rằng, việc

không chấp nhận bất cứ một sự rập khuôn máy móc của một mô hình CNXH nào,
càng không cho phép một sự áp đặt nào về cách thức và biện pháp tiến hành xây
dựng. Ph.Ăngghen đã từng chỉ rõ: “Muốn cho CNXH trở thành một khoa học thì
trước hết phải đặt CNXH trên một cơ sở hiện thực”[8, tr.293], đồng thời “phải
nghiên cứu thêm, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó”[8, tr.305]. Điều này
6


có nghĩa rằng, ngoài việc bảo đảm tính qui luật tất yếu của tiến trình phát triển lịch
sử - tự nhiên, mỗi nước trên con đường phát triển của mình phải xác định rõ hoàn
cảnh lịch sử cụ thể, điều kiện cụ thể của đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội trong những mối liên hệ đan chéo, chằng chịt và vô cùng phức tạp.
Thoát ly khỏi hoàn cảnh lịch sử - cụ thể đó và rập khuôn máy móc sẽ không thể tìm
được con đường đi đúng đắn cho dân tộc.
Lênin đã từng chỉ rõ rằng, bản chất, hồn sống của chủ nghĩa Mác đòi hỏi phải
phân tích cụ thể một tình hình cụ thể. “Chủ nghĩa Mác trong chỉnh thể hữu cơ của
nó là một khối liền, nó tuyệt nhiên không có một kẽ hở nào, nó triệt để và hoàn bị
bởi tính khoa học và cách mạng của nó. Nêu chỉ cần một từ thôi mà có thể diễn đạt
đầy đủ cái tinh túy của chủ nghĩa Mác (biểu hiện qua thư từ về duy vật lịch sử của
các ông) thì từ đó chính là phép biện chứng”[12, tr.257].
Nhấn mạnh tối ý nghĩa của quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc nghiên cứu
và đánh giá xã hội, trong nhận thức lý luận CNXH khoa học, Lênin còn chỉ rõ :
"Điều kiện quan trọng nhất của một sự nghiên cứu khoa học là không nên quên
môi liên hệ lịch sử căn bản; là xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: một
hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải
qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào và đứng trên quan điểm của sự phát
triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành như thế nào”[39, tr.78].
Theo Lênin, tách rời một nguyên lý tư tưởng khỏi những điều kiện hiện thực,
khỏi khung cảnh lịch sử của nó là đã sai lầm từ gốc và xuyên tạc nó một cách thô
bao nhất. Người ta có thể mắc phải sai lầm ấy một cách không tự giác do thiếu hiểu

những sai lầm, thậm chí đổ vỡ là điều khó tránh khỏi. Khẳng định điều này,
V.I.Lênin viết: "Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên CNXH, đó là điều không thể tránh
khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới CNXH không phải một cách hoàn toàn
giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình
thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô
sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo XHCN đối với các mặt
khác nhau của đời sống xã hội"[11, tr.160].
9


Như vậy, trên tầm cao của tư duy lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm rõ
tính tất yếu phổ biến của quá trình phát triển của xã hội loài người, của con đường
đi lên CNXH; đồng thời vạch ra tính đa dạng và tính đặc thù khác biệt ẩn chứa
trong quá trình phát triển của các dân tộc, các quốc gia, các xã hội khác nhau, chỉ
rõ con đường độc đáo của sự phát triển xã hội trong những hoàn cảnh lịch sử khác
nhau. Đây là nền tảng lý luận khoa học để mỗi Đảng cộng sản quán triệt và vận
dụng linh hoạt, sáng tạo vào quá trình xây dựng CNXH của mình.
2. Tính tất yếu và những đặc trưng về chủ nghĩa xã hội và con đường lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng
tạo vào điều kiện đặc thù của Việt Nam để tìm ra con đường đi của cách mạng
nước ta nhằm giải quyết triệt để mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp của xã
hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và đưa đất nước định hướng lên
CNXH. Con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của Việt Nam là một tất
yếu lịch sử đã được khẳng định. Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến mô hình
tổng thể của CNXH ở Việt Nam, với một cách diễn đạt ngắn gọn, súc tích và dễ
hiểu: “Chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no,
con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”.[10, tr.317]
Thời kỳ trước đổi mới, cùng với hệ thống XHCN, Việt Nam đã lâm vào tình
trạng khủng hoảng và trì trệ trong phát triển kinh tế - xã hội. Chính thực tế này đòi

tình trạng bóc lột, bất bình đẳng. Song điều này không có nghĩa là mọi tư liệu sản
xuất đều là của chung. Do hiểu chưa đúng đắn vấn đề này nên thời kỳ trước đổi mới,
chúng ta đã phạm sai lầm khi nóng vội muốn thiết lập ngay một quan hệ sản xuất
mới trong khi điều kiện phát triển kinh tế và lực lượng sản xuất chưa cho phép.
Hiện nay, một xu hướng ngược lại là không muốn thừa nhận vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước, buông lỏng vai trò quản lý của Nhà nước và đòi tư nhân hóa
toàn bộ nền kinh tế - đó cũng là một biểu hiện của sự vi phạm qui luật khách quan.
Trên thực thế, phân tích các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, trong chủ
nghĩa tư bản quan hệ tổ chức, quản lý quá trình sản xuất, rộng hơn là quản lý, tổ
chức Nhà nước và đời sống xã hội ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa đến nay đã đạt
được những thành tựu quan trọng và chứa đựng nhiều yếu tố khoa học, nhiều kinh
11


nghiệm quản lý và phân phối phúc lợi xã hội, an sinh xã hội đang được thực hiện
một cách hiệu quả. Đây là những kinh nghiệm quí mà các nước khi xây dựng
CNXH cần phải nghiên cứu học tập một cách nghiêm túc, trên tinh thần khách
quan khoa học để “chắt lọc” từ đó những “vật liệu” quí phục vụ cho việc xây dựng
CNXH. Đây cũng là một tất yếu mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã đòi hỏi những người
cộng sản cần nắm vững khi bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH để có thể phát triển
theo con đường rút ngắn.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH bổ sung, phát
triển năm 2011 xác định “Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta
là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc
thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở
thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”[3, tr.71]. Như
vậy, việc xác định và hoàn thiện mục tiêu nói trên là phù hợp với thực tiễn, với
mong muốn của toàn dân và được cộng đồng quốc tế ủng hộ. Việc hoàn thành được
mục tiêu tổng quát như trên vừa đúng quy luật, vừa thuận lòng dân, ý dân lại vừa
hợp với xu thế thời đại.

nghiệp giảm từ 20,1% năm 2011 xuống 18,1% năm 2014 [1].
Song sự phát triển của Việt Nam những năm qua chưa phải là bền vững và
tốc độ còn rất chậm, chất lượng của tăng trưởng thấp. Tăng trưởng chủ yếu do tích
lũy vốn (chiếm 52,7%), tốc độ tăng năng suất lao động thấp. Đóng góp của yếu tố
năng suất tống hợp (TFP) vào tăng trưởng còn hạn chế (chỉ 28%), hệ số sử dụng
vốn (ICOR) còn cao. Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện nhiều, nhất
là về thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đối mới công nghệ. [1]
Phát triển kinh tế phụ thuộc nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động trình độ
thấp (Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn 46,7%). Năng suất lao động thấp, đối mới
công nghệ chậm, sản xuất chưa gắn được nhiều với mạng sản xuất và chuỗi giá trị
toàn cầu. Đầu vào phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Xuất khẩu thô, xuất khẩu dưới
hình thức gia công còn lớn, giá trị gia tăng thấp và chưa thấy rõ những hiệu ứng lan
tỏa tích cực từ dòng vốn FDI đổ vào trong cải thiện năng suất và công nghệ.
Với cách thức công nghiệp hóa như vậy nên sau gần 30 năm đổi mới đã làm
xuất hiện tình trạng người lao động mất việc làm ở độ tuổi còn rất trẻ (khoảng 35 13


40 tuổi) do chủ sử dụng lao động, muốn trẻ hóa lực lượng lao động nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh và đảm bảo năng suất lao động cao. Nếu cách thức công
nghiệp hóa kiểu này không được nhanh chóng cải thiện thì hậu quả không chỉ dừng
lại ở góc độ kinh tế mà sẽ là yếu tố tác động mạnh mẽ làm suy giảm niềm tin của
nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự lựa chọn con đường định hướng XHCN,
từ đó có thể dẫn đến những mất ổn định chính trị, xã hội.
Để công nghiệp hóa nhanh và bền vững đạt hiệu quả cao thì việc tìm kiếm
những mô hình, cách thức công nghiệp hóa cho phù hợp với điều kiện đặc thù của
Việt Nam đang trở thành vấn đề cấp bách cả về lý luận và thực tiễn. Phải chăng
cần hướng tới phát triển những ngành đòi hỏi công nghệ cao, hiện đại và sử dụng
lao động trình độ cao. Muốn vậy, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân
lực chất lượng cao trở thành khâu đột phá mang tính cấp bách và cần phải được ưu
tiên hiện nay.

sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý Nhà nước trong những năm qua có chiều
hướng suy giảm. Do vậy, lấy lại niềm tin và tăng cường sự đồng thuận, ủng hộ của
dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, đối với chế độ đang trở
thành vấn đề đặc biệt cấp bách hiện nay. Nếu không ý thức rõ điều này để tăng
cường công tác xây dựng Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước và để kiên
quyết đấu tranh chống tham nhũng... thì hậu họa khôn lường là khó tránh khỏi.
Để khôi phục niềm tin và tạo sự đồng thuận của nhân dân đối với sự lãnh đạo
của Đảng thì phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng. Xây dựng một nhà
nước vận hành tốt có bộ máy hành chính công tâm huyết, có năng lực và có đạo
đức. Đặc biệt, mỗi nhà lãnh đạo, quản lý, nhất là lãnh đạo quản lý cấp chiến lược
cần học tập, rèn luyện để có những phẩm chất cơ bản sau: Có đạo đức tốt, kiên
định mục tiêu con đường định hướng XHCN; có năng lực tư duy chiến lược với
tầm bao quát rộng lớn; có năng lực hoạch định các chính sách có tầm ảnh hưởng
không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trong khu vực và quốc tế. Có tính năng
động cao và khả năng xử lý nhanh những vụ việc xảy ra. Kiên trì theo đuổi các
15


quyết định đã ban hành và có năng lực dự báo đưa ra những phương án dự phòng
để có thể thay thế khi cần thiết; biết phân quyền cho cấp dưới và các cộng sự, qua
đó quần chúng tin và thực hiện các quyết định lãnh đạo; có năng lực thu thập và xử
lý thông tin nhanh, chính xác. Đây là năng lực rất cần thiết cho các nhà lãnh đạo,
quản lý trong thời cuộc hiện nay.
2.2. Quan điểm của Đảng ta về đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam
Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đảng ta khẳng định, đi lên CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của
đảng và nhân dân ta. Trải qua thực tiễn đổi mới, nhận thức lý luận của Đảng ta đã
từng bước xác định, bổ sung và hoàn thiện dần những đặc trưng xã hội XHCN
được phát triển qua các nhiệm kỳ đại hội. Đại hội XI cho rằng, nhận thức về CNXH

tư tưởng cơ bản của chủ tịch Hồ Chí Minh: CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật
chất và văn hoá của nhân dân, thực hiện ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được
hạnh phúc, ấm no. Xây dựng CNXH chính là làm cho cuộc sống của nhân dân
ngày càng giàu lên thì nước mới mạnh. Đồng thời, bảo đảm sự công bằng trên
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước xây dựng xã hội dân chủ văn
minh. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thể
hiện mục tiêu xuyên suốt của CNXH mà chúng ta xây dựng và đạt tới. đồng
thời, xây dựng niềm tin của nhân dân với sự nghiệp cách mạng XHCN.
Thứ hai, là xã hội do nhân dân làm chủ
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991,
Đảng ta nêu xã hội mà chúng ta đang xây dựng là: do nhân dân l ao động làm chủ.
Song từ thực tiễn của công cuộc đổi mới xây dựng CNXH ở nước ta, Đảng ta
nhận thức rằng sự nghiệp xây dựng CNXH là của dân, do dân và vì nhân dân. Đó
là sự nghiệp của mọi người dân yêu nước, bất kể đó là người Việt Nam ở trong
nước hay định cư ở nước ngoài, các giai cấp, dân tộc, tôn giáo, các doanh nhân…
Vì vậy, Văn kiện Đại hội XI chỉ rõ xã hội mà chúng ta đang xây dựng là xã hội do
nhân dân làm chủ. Đây là sự phát triển mới về lý luận CNXH khoa học.
17


Đặc trưng này thể hiện tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh “bao nhiêu lợi ích
đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân… quyền hành và lực lượng đều ở nơi
dân”[9, tr.120]. Bất cứ chế độ xã hội có giai cấp nào cũng đều do một giai cấp nhất
định làm chủ. trong xã hội XHCN, người chủ duy nhất là nhân dân lao động, đây là
sự khác biệt căn bản giữa CNXH và các chế độ xã hội trước đó. đặc trưng này chi
phối và thể hiện trong toàn bộ hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội của đảng và nhà
nước ta, xét đến cùng, xây dựng CNXH là bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
lao động trên thực tế, trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Do vậy, trong văn kiện
Đại hội Đảng XI đã xác định: “dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta,
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước… Nhà nước tôn trọng

tốt đẹp của dân tộc không phát triển được, trái lại, bị co lại, hoặc thờ ơ; nhiều công
trình văn hoá có lịch sử lâu đời bị xuống cấp; những ứng xử, giao tiếp tốt đẹp của
cha ông ít được bồi dưỡng cho thế hệ trẻ… không giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,
đó là điều vô cùng nguy hiểm. Nhấn mạnh bản sắc văn hoá dân tộc, song không có
nghĩa là bài ngoại, mà phải tiếp thu có chọn lọc tất cả những tinh hoa văn hoá của thế
giới, làm cho giá trị đó hoà quyện với bản sắc dân tộc.
Thứ năm, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện
So với Cương lĩnh 1991, đặc trưng này, Đảng ta khái quát gọn lại, rõ hơn, bỏ
cụm từ “bóc lột” và “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”. CNXH là xã hội
vì con người, do con người và giải phóng triệt để con người, đưa con người thực sự
làm chủ xã hội. Nội dung mà Đảng ta nêu ra trên đây là thể hiện bản chất tốt đẹp
của CNXH. Đây cũng chính là sự khác biệt về chất với xã hội tư bản chủ nghĩa,
nhưng cũng là nguyện vọng đầu tiên của nhân dân lao động trên con đường tiến tới
giải phóng con người. Khẳng định nội dung trên tức là đặt đúng vị trí, vai trò của
người lao động trong xã hội XHCN, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện
những nguyện vọng và năng lực cá nhân, về trí lực, thể lực, đạo đức một cách đầy đủ.
Thực hiện được điều đó là một quá trình phấn đấu lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực cao của
Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân với tinh thần chủ động, sáng tạo, kiên trì và lòng
quyết tâm cao nhất, vì đây là mục tiêu mà CNXH cần đạt tới.
19


Thứ sáu, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển
Bản thân nội dung chính sách dân tộc này đã được nêu từ lâu, điểm mới là
nội dung ấy được nêu thành đặc trưng của CNXH ở Việt Nam. Có những nước tư
bản phát triển cao, nhưng sự bất bình đẳng về dân tộc, chủng tộc vẫn diễn ra, xung
đột dân tộc, tôn giáo không hề giảm… nhưng không phải chỉ giới hạn ở đây là một
đặc trưng phân biệt CNXH và chủ nghĩa tư bản, trong CNXH mỗi nước có nhiều

lãnh đạo đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân.
Thứ tám, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới
Về đặc trưng này, Đảng ta khẳng định lại như trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Ở một nước mà chủ nghĩa tư bản thống trị
thì không thể có đặc trưng này. Với mục đích lợi nhuận, giai cấp thống trị luôn làm
mọi cách bóc lột, áp bức các dân tộc. Các nước XHCN theo đúng bản chất của nó
không thể hành động như chủ nghĩa tư bản, mà cần thiết và có khả năng thực hiện
đầy đủ đặc trưng trên. Thực tế quá trình xây dựng CNXH, nhất là những năm đổi
mới đất nước đến nay, Đảng ta luôn nhận thức đầy đủ mối quan hệ, đoàn kết quốc
tế, từ đó đề ra đường lối, chính sách phù hợp để tăng cường, hợp tác đoàn kết với
các nước, các tổ chức quốc tế góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc XHCN.
Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, chúng ta đã chủ
trương tham gia các thể chế kinh tế quốc tế, trong lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến, tháng 12/1946, Bác Hồ nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam
sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”[9, tr.120].
Hiện nay, nhận thức đầy đủ xu thế mới của thế giới, Đại hội Đảng XI đã xác định:
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát
triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;
nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam
XHCN giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng
đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội trên thế giới.
21


Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên
tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Trước sau như
một ủng hộ các Đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong
cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các

hiện đại hoá đã góp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế của đất nước. Trong điều
kiện hiện nay, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới có thể rút ngắn được
quá trình phát triển của đất nước.
Nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá được Đại hội XI xác định: tranh
thủ thời cơ thuận lợi tạo ra tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN. Coi kinh tế tri thức là
yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đại
hội XII tiếp tục chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội
nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức
và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”[5, tr.90].
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tập trung đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn; giải quyết đồng bộ vấn đề nông
nghiệp, nông thôn, nông dân; phát triển nhanh công nghiệp và xây dựng, dịch vụ;
phát triển kinh tế vùng, kinh tế biển… Đồng thời, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài
nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên.
Hai là, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đây là yếu tố được đặt lên hàng đàu, nhằm từng bước tạo ra sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, của
mọi người dân trong cách mạng XHCN.
Tư tưởng phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN đã làm sáng tỏ
thêm một bước nội dung cơ bản của định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị
trường với mục tiêu: thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh; giải phóng và phát triển sức sản xuất; nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh
23


xoá đói giảm nghèo; khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng… mục tiêu trên
đây của phát triển nền kinh tế thị trường là vì con người, nó khác hẳn với mục tiêu

tế, văn hóa, xã hội, đảy mạnh hoạt động đối ngoại. Văn kiện Đại hội II, Đảng ta xác
định mục tiêu, nhiệm vụ: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia ổn định
chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng,
Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và
Công an nhân dân là nòng cốt”[5, tr.148]. Tư duy về quốc phòng và an ninh có sự
phát triển, gắn quốc phòng với an ninh quốc gia, gắn xây dựng vững chắc thế trận
quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân trên phạm vi quốc gia cũng như
từng địa bàn tỉnh, thành phố; đặc biệt là trên các địa bàn chiến lược, xây dựng các
khu phòng thủ vững chắc, bảo đảm sẵn sàng ứng phó với các tình huống bất trắc.
Xây dựng "thế trận lòng dân", tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng
toàn dân và nền an ninh nhân dân. Chuẩn bị các nguồn lực đủ mạnh, các đối sách,
các phương án chủ động, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống.
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị,
hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Tư tưởng trên của Đảng ta thể hiện quyết tâm đưa các quan hệ quốc tế được
mở rộng đi vào chiều sâu, phấn đấu tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động
trên phạm vi khu vực và quốc tế. Thực hiện “đa dạng hóa, đa phương hóa trong
quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy
và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”[5, tr.153].
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cần được hiểu đầy đủ rằng: chúng ta hoàn
toàn chủ động quyết định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói
chung, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng. Chủ động là nắm vững quy
luật, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy đầy đủ năng lực nội
sinh, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động hội nhập quốc tế
sâu hơn và sáng tạo, phân tích, lựa chọn phương thức hành động, dự báo được
những tình huống thuận lợi và khó khăn khi hội nhập quốc tế.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status