S
ự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là hội tụ những yếu tố khách quan và
chủ quan. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan
trọng. Những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam vừa là
cội nguồn, vừa là tác động xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh. Trong đó chủ nghĩa yêu nước là một nhân tố cơ bản có ảnh hưởng
mạnh mẽ nhất đối với sự hình thành, phát triển tư tưởng của Người. Chủ nghĩa
yêu nước, truyền thống đánh giặc giữ nước đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi
tìm đường cứu nước, xây dựng chí hướng cứu nước, tạo động lực cho Hồ Chí
Minh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để tìm thấy ánh sáng chủ nghĩa MácLênin tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Hồ Chí
Minh viết “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa
cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” 1.
Chủ nghĩa yêu nước và ý chí kiên cường trong đấu tranh dựng nước, giữ
nước của dân tộc Việt Nam là truyền thống quý báu nhất, là nguồn gốc tạo nên
sức mạnh to lớn của dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước là giá trị văn hoá, tinh thần bện
sâu trong mỗi con người Việt Nam.
Ngược dòng lịch sử phát triển của xã hội loài người với quá trình tồn tại và
phát triển của mình, người vượn đã dần chuyển thành người tinh khôn và trải qua
hàng chục vạn năm gian khổ lao động và sáng tạo, từ những công cụ bằng đá thô
sơ đến sự phát minh ra kỹ thuật luyện kim và nghề nông trồng lúa nước, cày kéo
bằng trâu, bò đời sống vật chất, tinh thần của người Việt cổ ngày càng được nâng
cao, từng bước làm thay đổi bộ mặt đời sống xã hội, đưa đến hình thành một lãnh
thổ chung, một nền văn hoá, một nền văn minh Sông Hồng và một quốc gia và
nhà nước Văn Lang- Âu Lạc ra đời, một thời đại dựng nước được mở ra.
Nước Việt Nam với vị trí địa lý chiến lược của khu vực Đông Nam á, Châu
á, nằm trên các đầu mối giao thông thủy bộ quan trọng từ Bắc xuống Nam, từ
Đông sang Tây như một đầu cầu, từ biển vào đất liền. Đây cũng là nơi giao lưu
kinh tế, văn hoá thuận lợi và cũng là nơi xảy ra nhiều đụng độ và nhiều mối đe
Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc tồn tại trên dưới 500 năm TCN, bằng sức lao
động sáng tạo và ý chí đấu tranh kiên cường, bền bỉ, người Việt cổ đã đưa xã hội
vượt qua thời tiền sử, vượt qua hình thái kinh tế xã hội cộng sản nguyên thuỷ,
hình thái kinh tế xã hội đầu tiên thuộc phạm trù của thời đại văn minh, của xã hội
phân hoá giai cấp và có nhà nước. Người Việt cổ cũng đã xây dựng một nền văn
minh đầu tiên của mình đó là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc, văn minh Sông
2
Hồng. Nền văn minh này mang tính bản địa sâu sắc kết tinh trong đó là bản lĩnh
kiên cường bất khuất, truyền thống, cốt cách, lối sống, lẽ sống của người Việt. Đó
là sự đoàn kết gắn bó mật thiết, thương yêu nhau trong lao động, trong đấu tranh
giành độc lập dân tộc, trong tình làng nghĩa xóm, tôn trọng người già, phụ nữ,
biết ơn và tôn trọng tổ tiên, tôn thờ các anh hùng nghĩa sỹ.
Với tư tưởng bành trướng của chế độ phong kiến phương Bắc. Năm 179
TCN Triệu Đà đã tiến quân xâm chiếm Âu Lạc, do mất cảnh giác An Dương
Vương đã thất bại. Suốt 1.117 năm Bắc thuộc từ Triệu Đà đến các triều đại sau
này như Tây Hán, Đông Hán, Ngô Ngụy, Tần, Tống, Tề, Lương, Tuỳ, Đường kế
tiếp nhau bóc lột, đô hộ nhân dân ta. Âu Lạc từ một nước độc lập trở thành quận,
huyện của phong kiến phương Bắc.
Với hơn một nghìn năm Bắc thuộc nhân dân ta phải chịu bao đau thương,
tủi nhục, cũng trong suốt hơn một nghìn năm ấy liên tục diễn ra các cuộc đấu
tranh của nhân dân ta cả về văn hoá, tư tưởng chống Hán hoá dân tộc và đấu
tranh vũ trang để giành độc lập dân tộc.
Năm 40, Hai Bà Trưng đã nổi dậy khởi nghĩa ở Mê Linh được nhân dân
hưởng ứng đông đảo, khởi nghĩa thắng lợi và giành quyền tự chủ 3 năm.
Năm 100 hơn 3000 nhân dân quận Nhật Nam đã nổi dậy đốt phá dinh thự
của bọn quan lại của chính quyền đô hộ.
Năm 137 dưới sự chỉ huy của khu liên nhân dân thuộc quận Nhật Nam nổi
dậy giết bọn quan lại chiếm thành trì, công sở của bọn quan lại đô hộ. Chính binh
tháng độc lập đó vô cùng quý gía đã tiếp thêm sức mạnh cho các cuộc đấu tranh
giành độc lập sau này.
Thời Ngô, Đinh, Tiền, Lê và nhà Lý ra đời với các mốc son lãnh đạo đáng
nhớ như: Đinh Bộ Lĩnh là người thủ lĩnh lãnh đạo dẹp loạn 12 xứ quân năm 967,
lấy tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư – Ninh Bình.
Thời nhà Lý: Vua Lý Thái Tổ, tức Lý Công Uốn đã quyết định rời đô từ
Hoa Lư về Đại La và đổi tên là Thăng Long. Ngày nay là thủ đô Hà Nội. Thủ đô
văn hiến ngàn năm tuổi, là trung tâm văn hoá, chính trị của cả nước. Đặc biệt với
bài thơ thần của Lý Thường Kiệt đã nói lên khí phách hiên ngang, tinh thần chủ
4
động và có ý nghĩa sâu sắc về quyền bất khả xâm phạm của một dân tộc. Bài thơ
được ghi vào lịch sử như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
Từ năm 1225 đến năm 1400 là thời kỳ quốc gia phong kiến nhà Trần với ba
lần kháng chiến chống quân Mông Nguyên thắng lợi. Trong vòng 30 năm từ 1258
đến 1288 dân tộc Việt Nam đã ba lần đương đầu với những đạo quân xâm lược
khổng lồ, hung hãn của đế quốc Mông – Nguyên hùng mạnh. Thắng lợi chống
quân Mông Nguyên là biểu hiện rực rõ lòng yêu nước nồng nàn, trí thông minh
sáng tạo, tinh thần đoàn kết dân tộc và nghệ thuật đánh giặc kiệt xuất của dân tộc
ở thế kỷ XIII, là sự kế tục và phát huy truyền thống quý báo của dân tộc đã được
hình thành từ hàng nghìn năm trong lịch sử dựng nước và giữ nước vĩ đại. Cuộc
kháng chiến chống quân Mông Nguyên đã đạt đến trình độ của một cuộc chiến
tranh nhân dân. Trước kẻ thù giai cấp quý tộc Trần đã giương cao ngọn cờ độc
lập dân tộc đánh đuổi kẻ thù xâm lược bằng cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp
trở thành thiên tài quân sự bách chiến, bách thắng, một danh tướng trăm trận,
trăm thắng, một anh hùng dân tộc vĩ đại.
Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX, đó là phong trào đấu tranh vũ trang rộng lớn có sự tham gia của đông đảo
các tầng lớp nhân dân yêu nước nhằm mục tiêu đánh Pháp giành độc lập dân tộc.
Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược là mâu thuẫn lớn
nhất, tất cả mọi hành động yêu nước đều vì mục đích cứu nước. Phong trào rộng
lớn từ Nam ra Bắc cả ở miền xuối lẫn miền ngược. Trung tâm kháng chiến ở khắp
mọi nơi trong lực lượng lãnh đạo và lực lượng tham gia phong trào có đầy đủ mọi
tầng lớp nhân dân. Từ những Vương tôn quý tộc, quan lại cao cấp trong triều
6
đình đến người nông dân, đồng bào các dân tộc miền núi đều nhất tề đứng lên
chống Pháp.
Sự bế tắc và khủng hoảng về đường lối cứu nước của phong trào cách
mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX diễn ra trong điều kiện vai trò lịch sử của giai cấp
tư sản thế giới đã bộc lộ rõ tính chất phản động trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.
Cách mạng tháng 10 Nga bùng nổ và thắng lợi, bởi vậy ngọn cờ cách mạng theo
tư tưởng tư sản lúc này đã lỗi thời. Tình trạng khủng hoảng về đường lối và lực
lượng lãnh đạo cách mạng chỉ được thực sự giải quyết khi chính đảng của giai
cấp công nhân Việt Nam ra đời mà người đầu tiên mở đường là lãnh tụ thiên tài
Nguyễn ái Quốc.
Nguyễn Tất Thành – Nguyễn ái Quốc tuy khâm phục tinh thần đấu tranh
của các vị tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… Nhưng Người không
tán thành con đường và phương pháp đấu tranh của họ. Nhờ có tư duy độc lập tự
chủ, Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng, đánh giá đúng đắn các phong trào yêu
nước của cách mạng Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XX.
Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh nhờ có tâm hồn cao thượng của một nhà
thờ cúng tổ tiên, chế độ hiếu, hỉ. Tất cả làm thành một tổng thể khiến gia đình
Việt Nam rất khác gia đình của một xã hội khác. Xét gia đình trong quan hệ với
Tổ quốc. Phải cứu lấy Tổ quốc đã mới có điều kiện đổi mới gia đình, lo cho hạnh
phúc gia đình “Nước mất, nhà tan”. Chính vì vậy mà trong các cuộc đấu tranh
chống giặc ngoại xâm đã có hàng triệu con người phải đặt quyền lợi của Tổ quốc
lên trên quyền lợi của gia đình. Để có điều kiện bảo đảm hạnh phúc cho gia đình
trước hết phải giành cho được độc lập, thống nhất Tổ quốc.
Truyền thống văn hoá Việt Nam quyền lợi gia đình và Tổ quốc không bao
giờ đối lập nhau. Chính gia đình Việt Nam là cái lò tạo nên tinh thần yêu nước
của dân tộc Việt Nam.
Vấn đề thân phận người Việt Nam là rất quan trọng trong đời sống văn hoá,
người Việt Nam luôn ý thức sâu sắc thân phận, bản thân với làng quê đất nước.
Con người Việt Nam trước khi Pháp xâm lược có một thân phận riêng, không
phải ai muốn làm gì anh ta cũng được, anh ta không hoàn toàn lệ thuộc vào kinh
tế, chính trị của kẻ mạnh. Anh ta được hưởng một sự che chở đặc biệt bảo đảm
8
cho anh ta có thể sống yên ổn, nếu như anh ta sống lương thiện, có đạo đức đúng
như Nguyễn ái Quốc nói “Theo thừa nhận của những nhân vật Pháp, từ viễn
cổ. Người Việt Nam đã có một nền văn hoá đạo đức cao”.
Con người Việt Nam có mối quan hệ nhiều chiều trong làng xã. ở nông
thôn Việt Nam con người trọng tuổi hơn trọng chức vụ tiền bạc. Bởi vì tuổi mà
cái mọi ngưòi đều có gặp nhau người ta không hỏi nhau là có bao nhiêu tiền mà
người ta hỏi nhau có bao nhiêu con cái. Con người Việ Nam sống trong làng xã
được làng xã che chở về mọi mặt. Về kinh tế anh ta được chia một phần ruộng
của làng, mỗi làng có một đình là nơi tất cả những người đàn ông trên mười tám
tuổi được quyền họp để bàn những công việc chung, có đền thờ thành hoàng làng
là một thứ thần linh chung cho cả làng. Làng là cơ sở văn hoá của dân gian.
Những người cùng làng có bổn phận giúp đỡ nhau, an ủi nhau, giúp đỡ nhau cho
Truyền thống văn hoá của dân tộc là nhân tố quan trọng tác động to lớn đến
sự hình thành tư tưởng và nhân cách vĩ đại hồ Chí Minh.Người được sinh ra trên
quê hương Nghệ An mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, đánh giặc giữ nước.
Nơi sản sinh ra biét bao anh hùng từ cổ chí kim, mà Nam Đàn quê hương Hồ Chi
Minh lại là một địa phương hội tụ nhiều nhân tài, anh hùng, chí sĩ. Quê hương,
đất nước, gia đình cũng là một nhân tố quan trọng trong việc sinh thành Hồ Chi
Minh. Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh và cũng là người dạy chữ Hán
đầu tiên của Nguyễn Tất Thành đã có ảnh hưởng thực sự sâu sắc. Cụ Sắc tin
tưởng vào người con hiếu thảo, thông minh, chăm học lại sớm có ý chí vươn lên
làm người. Việc đổi tên cho con từ Nguyễn Sinh Cung ra Nguyễn Tất Thành
nhân dịp làm lễ vào làng cho hai con trai đã thể hiện niềm tin của Cụ.
Cuộc sống của người mẹ Bà Hoàng Thị Loan cũng ảnh hưởng đến tư tưởng
tình cảm của Nguyễn Sinh Cung về đức tính nhân hậu, đảm đang, sống chan hoà
với mọi người. Còn phải kể đến mối quan hệ và tác động qua lại giữa ba chị em
Nguyễn Thị Thanh, Nguyên Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung về lòng yêu nước,
thương dân, thương những người cùng khổ.
Hồ Chí Minh rất tôn trọng truyền thống dân tộc. Người đã sớm nhận biết
điều này ngay trên quê hương mình,nơi đã sản sinh ra nhiều anh hùng, nhiều chí
sĩ yêu nước. Vì vậy Người khẳng định " Dân ta có một lòng nồng nàn yêu
10
nước. Đó là một truyền thống quí báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay mỗi khi
Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô
cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm
tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước..."
Đối với Người, không chỉ tự hào về truyền thống dân tộc, chủ yếu là tinh
thần yêu nước, mà còn phát huy nó trong cuộc sống "Tinh thần yêu nước cũng
như các thứ của quí. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê,
rõ ràng, dễ thấy. Nhưng có khi cất kín trong rương trong hòm. Bổn phận của
nhưng chưa có ai đặt vấn đề, hay có chủ trương sang phương Tây tìm con đường
cứu nước như Nguyễn Tất Thành.
Khi trả lời nhà văn Mỹ An-na Luy-xtơ-rông Hồ Chí Minh đã nói rõ động
cơ khiến Người rời Tổ quốc.” Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh
ra tôi lúc này thường tự hỏi nhau ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống
trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra
nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp
đồng bào tôi”.
Việc Hồ Chí Minh ra nước ngoài xuất phát từ ý thức dân tộc, từ hoài bão
cứu nước. Qua cuộc hành trình đến nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc, tư bản, đế
quốc. Người đã xúc động trước những cảnh ngộ khổ cực, bị áp bức bóc lột của
nhân dân những nơi đây, cũng giống như đồng bào nơi quê hương mình. Người
nhận thấy ở đâu cũng có mong muốn là thoát khỏi ách thống trị, áp bức bất công.
Từ lòng yêu thương đồng bào, Hồ Chí Minh mở rộng đến sự đồng cảm
với những người cùng cảnh ngộ trên khắp thế gian và có cùng một kẻ thù
chung. ở người đã nảy sinh ý thức về sự cần thiết phải đàon kết những người
bị áp bức để đấu tranh cho nguyện vọng, quyền lợi chung. Đây là biểu hiện
đầu tiên của ý thức về sự đoàn kết quốc tế giữa những người dân thuộc địa
nhằm đấu tranh thoát khỏi sự thống trị của thực dân đế quốc.
Cuộc hành trình qua nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc, tư bản, đế quốc
không chỉ hình thành ở Hồ Chí Minh tình cảm, ý thức đoàn kết quốc tế giữa các
dân tộc bị áp bức mà còn rèn luyện Người trở thành một công nhân có đủ phẩm
chất, tư tưởng, tâm lý xã hội của giai cấp vô sản. Lênin đã chỉ rõ rằng, muốn hiểu
sự hình thành tâm lý xã hội, phẩm chất tư tưởng của giai cấp công nhân ở một
con người thì phải xem trong hoàn cảnh thực tế của con người ấy đã nắm vững
“tâm lý vô sản” như thế nào. Tiêu chí này giúp chúng ta hiểu rõ chính trong quá
trình hoà nhập vào cuộc sống của những người lao động bị áp bức, của công nhân
thế giới mà từ một ngời yêu nước, có hoài bão đi tìm con đường cứu nước cho
Sự hội tụ ở Hồ Chí Minh những truyền thống của dân tộc, tinh hoa văn hoá
của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác- Lênin. Kết hợp với tài năng, phẩm
chất của Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho Hồ Chí Minh góp phần to lớn trong sự
14
nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Đúng như
điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng đọc tại lễ tang Người đã khẳng
định “ Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch,
người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta,
nhân dân ta và non sông đất nước ta”.
Nghiên cứu học tập nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ cơ bản, là một khâu quan trọng trong nghiên cứu,
học tập và giảng dạy môn học tư tưởng Hồ Chí Minh. Có nhận thức đúng đắn về
nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển mới có nhận thức sâu sắc, đầy đủ về
tính đúng đắn, giá trị cách mạng khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, hiểu rõ bản
chất, quy luật hình thành, phát triển gồm các yếu tố khách quan, chủ quan, từ lý
luận thực tiễn. Khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của tư tưởng đạo đức
tấm gương Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, trong đời sống chính trị tư
tưởng của Đảng ta, dân tộc ta. Tiếp tục củng cố niềm tin cho mỗi cán bộ, Đảng
viên và quần chúng trong việc nghiên cứu, học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh ngày càng có chiều sâu và đạt hiệu quả thiết thực. Kiên quyết
đấu tranh chống mọi biểu hiện sai trái, xuyên tạc, phản động, tách rời hoặc tuyệt
đối hoá các nhân tố khách quan, chủ quan.
Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có nguồn gốc duy nhất là chủ nghĩa
Mác- Lênin, hay truyền thống dân tộc.... mà tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa MácLênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát huy các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Từ khi có lý luận Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ khi gắn kết chặt