MỞ ĐẦU
Trong đời sống xã hội, kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản nhất. Mối
quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, tạo điều kiện cho nhau cùng tồn tại và phát triển
giữa kinh tế và chính trị đã được Triết học Mác - Lênin luận giải một cách khoa học.
Việc nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và
chính trị ở mỗi quốc gia dân tộc là cơ sở, là điều kiện cơ bản nhất đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển xã hội.
Thực tế cho thấy, sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu do
nhiều nguyên nhân, trong đó việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và
chính trị chưa đúng đắn là một nguyên nhân quan trọng. Có lúc, có nơi đã nhấn mạnh
thái quá đến yếu tố chính trị, coi nhẹ yếu tố kinh tế, dẫn đến chủ quan, duy ý chí hoặc
coi trọng yếu tố kinh tế, xem nhẹ yếu tố chính trị, làm cho kinh tế phát triển tự phát, vô
chính phủ. Ở nước ta, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng khởi xướng và
lãnh đạo, đã từng bước nhận thức và vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và
chính trị, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, nhờ vậy đã đem lại những thành tựu to
lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, có những thời điểm, chúng ta
chưa thực sự hiểu một cách thấu đáo, đầy đủ về mối quan hệ này, do vậy đã vấp phải
những sai lầm, khuyết điểm, làm nảy sinh những yếu tố tiêu cực.
Hiện nay, dưới tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu
hóa, tình hình thế giới diễn biến mau lẹ, bất trắc, khó lường, tạo ra nhiều thời cơ,
vận hội phát triển nhưng cũng đã và đang đặt ra cho sự nghiệp đổi mới ở nước ta
hàng loạt những thách thức, nguy cơ đan xen, trong đó có nhiều thách thức nảy
sinh từ quá trình đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Do đó, nhận thức và vận
dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với Đảng, Nhà nước và cả hệ thống
chính trị. Từ suy nghĩ đó , tôi chọn vấn đề nghiên cứu: “Vận dụng quan điểm triết
1
học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong sự nghiệp đổi mới
2
Kế thừa những tư tưởng trên, có thể hiểu: Kinh tế là tổng thể các quan hệ sản
xuất trong lịch sử phù hợp với mỗi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, là cơ
sở hiện thực trên đó người ta dựng nên kiến trúc thượng tầng tương ứng với cơ sở
hiện thực đó.
Nhân tố có vai trò lớn nhất trong “kinh tế” là quan hệ sở hữu về tư liệu sản
xuất, ngoài ra còn phải kể đến quan hệ giữa người với người trong quá trình tổ chức,
quản lý sản xuất và tái sản xuất, trong phân phối và tiêu dùng sản phẩm được làm ra
trên cơ sở tính chất của chế độ sở hữu đó.
Khái niệm chính trị
Chính trị theo nguyên nghĩa gốc Hy lạp là “Politica” có nghĩa là những công
việc có liên quan đến nhà nước, là nghệ thuật cai trị nhà nước, tức là phương thức nhất
định để thực hiện các mục đích của quốc gia ở bên trong và bên ngoài lãnh thổ của nó.
Thuật ngữ “Politica” có nghĩa là một tổ chức xã hội nằm dưới một quyền lực nhất định
trước hết là quyền lực Nhà nước. Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó xuất
hiện cùng với sự ra đời của giai cấp và nhà nước.
Trong các tác phẩm của mình C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem chính trị là một
hiện tượng của đời sống xã hội có liên quan tới các đảng phái và nhà nước, các ông
đã vạch ra bản chất chính trị của các giai cấp cầm quyền trong xã hội bóc lột.
C.Mác gắn chính trị với Nhà nước, C.Mác cũng chỉ rõ: “Linh hồn chính trị của
cách mạng là nguyện vọng của giai cấp không có ảnh hưởng chính trị muốn thủ
tiêu sự cô lập của mình với Nhà nước và với quyền thống trị” 2. Khi vạch ra tính
chất phản động của chính trị tư sản đương thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc giai cấp công nhân và đảng cộng sản soạn thảo ra
một đường lối chính trị độc lập.
V.I.Lênin đưa ra định nghĩa nổi tiếng: “Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp” 3.
Chính trị là cuộc đấu tranh giai cấp, là chuyên chính của giai cấp này với giai cấp
có thể khẳng định rằng bàn về chính trị thực chất là các quan hệ giai cấp xung quanh
vấn đề quyền lực nhà nước.
1.2. Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã nghiên cứu về mối quan hệ kinh tế và chính
trị rất sớm. Do nhận thức, lập trường quan điểm cá nhân, trường phái khác nhau, nên
đã có rất nhiều quan điểm, tư tưởng khác nhau điều đó. Tuy nhiên, các quan điểm
ngoài mácxít như chủ nghĩa duy tâm hoặc chủ nghĩa duy vật siêu hình mắc phải đó là
4
V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977. tr.483.
4
nhìn nhận phiến diện, hoặc tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia hoặc là không thấy được
mối quan hệ biện chứng giữa chúng. Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, trên cơ
sở mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đã luận giải
khoa học về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.
Theo quan điểm duy vật lịch sử, cơ sở hạ tầng là toàn bộ các quan hệ sản
xuất hợp thành kết cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Kiến
trúc thượng tầng là toàn bộ các quan điểm chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo,
nghệ thuật... và các thể chế tương ứng của nó. Trong các xã hội có giai cấp, mối
quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được biểu hiện tập trung ở mối
quan hệ giữa quan hệ sản xuất với kiến trúc thượng tầng chính trị.
Như vậy, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định quan hệ kinh tế, quan hệ sản
xuất là những quan hệ cơ bản quyết định mọi quan hệ xã hội khác về Nhà nước,
pháp luật, tư tưởng. Nói cách khác không phải hình thái ý thức tư tưởng, hình thái
chính trị - xã hội quyết định hình thái kinh tế - xã hội mà là hình thái kinh tế - xã hội
quyết định quan điểm chính trị, pháp luật, đạo đức, triết học, nghệ thuật, tôn giáo
cùng với thể chế chính trị thích ứng với những quan điểm đó.
Vai trò tác động trở lại của các bộ phận kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
không ngang bằng nhau, trong đó vai trò của kiến trúc thượng tầng chính trị, pháp quyền là to
lớn nhất, vì nó phản ánh trực tiếp cơ sở kinh tế, là biểu hiện tập trung của kinh tế.
Từ lý luận về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, có thể rút
ra kết luận: kinh tế quyết định chính trị và chính trị có vai trò to lớn tác động trở lại sự
phát triển kinh tế. Trong đó kinh tế là tính thứ nhất, chính trị là tính thứ hai, là cái
phản ánh của kinh tế. Các quan hệ kinh tế và cơ cấu kinh tế là nền móng trên đó xây
dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính trị tương ứng. Ngược lại, thượng
tầng chính trị pháp lý cũng có tác động mạnh mẽ tới sự vận động và phát triển của
kinh tế. Nghiên cứu sự vận động và phát triển của xã hội loài người từ khi có giai
cấp đến nay các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm sáng tỏ thực chất
mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị thông qua việc đưa ra hai luận điểm
cơ bản: “Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế’’ và “Chính trị không thể không
6
chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế’’5. Từ hai luận điểm này có thể thấy rõ mối
quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị.
Thứ nhất, kinh tế quyết định chính trị, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh
tế. Có nghĩa là so với kinh tế, chính trị là sự phản ánh, là tính thứ hai, không có những
quan hệ chính trị và quy luật chính trị độc lập tuyệt đối với các quan hệ và quy luật
kinh tế. Kinh tế là gốc của chính trị, chính trị do kinh tế quyết định và là sự biểu hiện
tập trung của kinh tế, nó phản ánh nền kinh tế.
Chính trị là biểu hiện của kinh tế, song nó không chỉ là gương soi phản
ánh nguyên xi sự phát triển của nền kinh tế, mà là biểu hiện “tập trung” của
nền kinh tế. Quá trình phản ánh những yêu cầu của kinh tế, chính trị đã loại
bỏ tất cả những gì có tính chất ngẫu nhiên, không ổn định của kinh tế nó phản
ánh vào cái bản chất nhất của đời sống kinh tế. Thực chất các quan hệ giai
cấp, đấu tranh giai cấp, quan hệ chính trị chỉ là sự phản ánh các quan hệ lợi
ích kinh tế, các mâu thuẫn trong quan hệ kinh tế, đấu tranh giai cấp là đấu
phóng sức sản xuất, kiểm soát những vấn đề cơ bản, then chốt của nền kinh tế, điều
chỉnh cơ cấu kinh tế, hoạch định chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế đúng định hướng. Sự tác động của chính trị đối với
kinh tế có thể theo những hướng khác nhau. Thúc đẩy hoặc kìm hãm hoặc vừa thúc
đẩy mặt này vừa kìm hãm mặt kia. Chính trị có thể thay đổi cơ sở kinh tế ở chừng
mực nhất định
Quan hệ giữa kinh tế và chính trị còn là quan hệ cơ bản, có ý nghĩa quyết định,
chi phối các mối quan hệ xã hội khác. Vì vậy, đòi hỏi trong xử lý những vấn đề cụ
thể, phải chủ động, sáng tạo, tránh tuyệt đối hóa hoặc đồng nhất kinh tế với chính trị.
Tuyệt đối hóa kinh tế sẽ dẫn đến tình trạng phát triển kinh tế tự phát vô chính phủ tập
trung tăng trưởng kinh tế bằng mọi cách, hy sinh các mặt khác tuyệt đối hóa chính trị
trong phát triển sẽ làm cho kinh tế bị can thiệp, áp đặt một cách duy ý chí, không theo
những quy luật khách quan. Đồng nhất chính trị với kinh tế sẽ làm cho chính trị trở lên
cứng nhắc, giáo điều. Mắc phải một trong những khuynh hướng trên đều ảnh hưởng
tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung.
Tóm lại, kinh tế và chính trị là hai mặt cơ bản nhất của đời sống xã hội.
Chúng có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại, tạo điều kiện thúc đẩy lẫn
nhau cùng tồn tại và phát triển, tác động tới mọi lĩnh vực khác của đời sống xã
hội. Trong mối quan hệ đó, xét cho cùng kinh tế là yếu tố quyết định chính trị,
song chính trị không phải là yếu tố thụ động, nó có tính độc lập tương đối và
8
tác động trở lại kinh tế. Mọi thay đổi, biến động của kinh tế đều tác động đến
chính trị và ngược lại, mọi sự biến động của chính trị đều ảnh hưởng đến quá
trình phát triển kinh tế. Cơ sở lý luận khoa học của mối quan hệ giữa kinh tế và
chính trị là quan điểm DVLS của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ giữa cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữ
kinh tế và chính trị trong thực tiễn đúng hay sai có ý nghĩa quyết định đến sự
hưng vong của nền kinh tế và chế độ chính trị xã hội của đất nước.
Trung ương 6 (khoá VI), Đảng đã có bước phát triển quan trọng trong nhận thức,
coi “chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài”.
Chính sách này cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế với quy mô và trình độ kỹ
thuật thích hợp trong từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông nhằm khai thác
mọi khả năng của các thành phần kinh tế. Đó là “sự vận dụng quan điểm của Lênin
coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”.
Nhờ sự đổi mới này, nền kinh tế của chúng ta đã chuyển từ cơ chế quản lý
kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế quản lý kinh tế thị trường. Điểm
nổi bật là chúng ta đã từng bước xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp
hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng XHCN. Cơ chế thị trường đòi hỏi sự thừa nhận cạnh tranh lành mạnh,
thúc đẩy phát triển sản xuất nhưng đồng thời cũng dẫn đến sự chênh lệch thu nhập,
phân hoá giàu nghèo. Đây chính là mặt trái của nó mang đến, đòi hỏi Nhà nước phải
có sự quản lý theo định hướng XHCN nhằm giữ cho nền kinh tế không bị chệch
hướng khỏi con đường xây dựng CNXH mà chúng ta đã lựa chọn.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta đã khẳng định: “Về quan
hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung làm tốt đổi mới kinh tế,
đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu
xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, coi đó là điều quan
trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới
kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động hệ thống chính
trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên
7
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987 tr.19-20
10
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì chính trị đụng chạm đến các mối
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996, tr.71
11
cuộc đổi mới ở Việt Nam (luôn lấy sự ổn định chính trị - xã hội làm tiền đề, điều
kiện tiên quyết). Trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị, đòi hỏi Đảng phải tập trung vào giải quyết mối quan hệ giữa ổn định,
đổi mới và phát triển. Đổi mới nhưng phải giữ được ổn định chính trị - xã hội, bảo
đảm an ninh, quốc phòng. Có giữ được ổn định chính trị thì mới có điều kiện đổi
mới kinh tế. Đổi mới phải tiến hành “từ trên xuống” và “từ dưới lên”, có những
bước đi chủ động, vững chắc.
Đến Đại hội X, Đảng ta nhấn mạnh nguyên tắc: “Đổi mới toàn diện, đồng bộ,
có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp... Đổi mới tất cả các mặt của
đời sống xã hội nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp;
bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là
trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần
của xã hội... Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng
đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” 10. Đây là một thành tựu hết sức
căn bản của công cuộc đổi mới mà ý nghĩa sâu xa của nó chính là việc tôn trọng
khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Qua đó mở đường giải phóng mọi tiềm năng xã hội, giải phóng sức
sản xuất mà nhân tố con người là quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất. Người
lao động làm chủ, được thúc đẩy bởi quy luật lợi ích, trong đó lợi ích cá nhân của
người lao động là động lực trực tiếp và là cơ sở để thực hiện và phát triển của tập
thể và toàn xã hội.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2011-2020) nhấn mạnh: “Đổi mới đồng bộ,
phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên trì và quyết liệt thực hiện
và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Ổn định về chính trị lại không thể tách rời
đổi mới về chính trị. Nhưng đổi mới chính trị không phải là đổi mới vô nguyên tắc,
mà đổi mới là để giữ vững sự ổn định về chính trị, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh
đạo của Đảng, vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước XHCN. Trên thực tế, quá trình
đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta diễn ra với những bước
đi thận trọng và vững chắc, bắt đầu từ việc giải quyết những vấn đề cấp bách đã chín
muồn. Mục tiêu căn bản của đổi mới chính trị và hệ thống chính trị cũng là mục tiêu
và động lực của công cuộc đổi mới ở nước ta, là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ
cương, pháp luật, với ý thức trách nhiệm của công dân, chống khuynh hướng dân chủ
11
12
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội. 2011, tr.99-100.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr.99
13
cực đoan và những mưu toan lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để thực hiện đa
nguyên, đa đảng, gây rối về chính trị, chống phá chế độ.
Tại Đại hội XI, Đảng ta đã xác định phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải
quyết tốt các mối quan hệ lớn: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa
đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội
chủ nghĩa; giữa phát triển LLSX và xây dựng, hoàn thiện từng bước QHSX xã hội
chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ;...Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí.” 13 Như vậy,
trong quá trình đổi mới ở nước ta, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị luôn
gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau, trong đó đổi mới kinh tế là
trọng tâm, đổi mới chính trị phải tiến hành từng bước phù hợp với đổi mới
kinh tế, đáp ứng của đổi mới kinh tế.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau 25 năm kiên trì đường lối đổi mới, nhận
thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giữa đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và toàn
diện trên các lĩnh vực. Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, đã tập trung giải quyết
những vấn đề cấp thiết của nhân dân về sản xuất và đời sống, giải phóng sức sản
xuất, hình thành và phát huy vai trò của hệ thống động lực nước ta đã thoát khỏi
tình trạng trì trệ và khủng hoảng về kinh tế - xã hội vốn kéo dài nhiều năm; duy
trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và liên tục, mở rộng các quan hệ hợp
tác kinh tế với nhiều quốc gia, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc
tế. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với sự đa dạng của các hình thức
sở hữu, các hình thức phân phối, trong đó lấy phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, cũng như mô hình quản lý theo cơ chế
thị trường định hướng XHCN được xác lập và bước đầu vận hành thông
suốt. Trên lĩnh vực chính trị, việc đổi mới về thể chế, tổ chức nội dung và
phương thức hoạt động một cách đồng bộ trong các cơ quan Đảng, Nhà
nước và các tổ chức đoàn thể theo hướng dân chủ hoá, khắc phục và loại
bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, hành chính mệnh lệnh, xơ cứng, giáo điều,
tách rời và cản trở sự phát triển của kinh tế.
Như vậy, với việc kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với
đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước
15
đổi mới chính trị, chúng ta vừa thúc đẩy được nền kinh tế của đất nước
phát triển theo quy luật khách quan, vừa tạo nên sự năng động, tích cực
trong tư duy, tư tưởng và đời sống tinh thần nói chung của xã hội, làm cho
học thuyết, tư tưởng đó, lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động của Đảng. Để có đường lối đúng đắn, cần nắm vững, vận dụng và phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy lý luận đó làm cơ sở,
phương pháp luận để phân tích tình hình, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự
thật, từ đó hoạch định và hoàn thiện đường lối đổi mới.
Xây dựng đất nước theo con đường XHCN trong bối cảnh ngày nay là một sự
nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài. Để sự nghiệp đổi mới đúng hướng,
kiên trì mục tiêu mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn cần làm tốt các
nội dung sau:
Một là, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong việc đề ra đường
lối, chiến lược phát triển kinh tế của Đảng. Xây dựng chế độ chính trị XHCN vững
mạnh và ổn định là kiều kiện đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc và lành
mạnh theo con đường XHCN. Phải gắn mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong
từng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hai là, chăm lo xây dựng Nhà nước XHCN vững mạnh, Nhà nước thực hiện
chức năng, nhiệm vụ và vai trò quản lý vĩ mô của nền kinh tế và mọi hoạt động xã
hội thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật, chính sách,
kế hoạch. Thông qua hoạt động quản lý, điều hành của Nhà nước mà phát huy tích
cực và ngăn chặn những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường cũng như những biểu
hiện đi chệch hướng XHCN.
Ba là, coi trọng và có định hướng đúng đắn trong công tác tư tưởng, bảo
đảm thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng và toàn xã hội, bảo đảm
cho sự nghiệp đổi mới không đi chệch hướng.
Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nền kinh tế
Đảng ta xác định, đổi mới kinh tế là trọng tâm, thông qua đó nhằm xây dựng
một nền kinh tế đủ mạnh đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của công cuộc xây dựng CNXH.
17
Bên cạnh đó, Đảng ta cũng xác định từng bước đổi mới về chính trị. Bởi vì, chính
18
mới, tự chỉnh đốn thành công thì sự nghiệp đổi mới đất nước mới thắng lợi. Để làm được
điều đó cần quan tâm thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một là, kịp thời thể chế hoá, cụ thể hoá, đưa các quan điểm, đường lối, nghị
quyết của Đảng vào cuộc sống, nhất là các quan điểm, đường lối, chính sách kinh
tế. Mọi đảng viên, tổ chức đảng phải gương mẫu thực hiện, đồng thời, kiểm tra,
đôn đốc việc thực hiện, kịp thời phát hiện những sai lệch, không phù hợp để sửa
chữa, điều chỉnh, bổ sung.
Hai là, đẩy mạnh công tác cán bộ, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và
quản lý cán bộ, quản lý đảng viên trong bộ máy nhà nước, trong các tổ chức kinh tế,
các đơn vị sản xuất kinh doanh. Kịp thời phát hiện, ngăn ngừa những biểu hiện quan
liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu, cản trở công việc làm ăn của nhân dân, khắc
phục sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ đảng viên.
Ba là, coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn đặt ra, nhất là vấn đề đổi mới chính trị và kinh tế nhằm thúc đẩy sự
nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta đi đến thành công.
Thứ ba, khắc phục những biểu hiện của xu hướng tuyệt đối hoá vai trò của chính
trị và xu hướng tuyệt đối hoá vai trò của kinh tế trong quá trình đổi mới hiện nay
Những năm qua, bên cạnh những quan điểm đúng đắn về mối quan hệ
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, cũng xuất hiện một số lệch lạc nhất
định trong giải quyết mối quan hệ này, tiêu biểu là xu hướng tuyệt đối hoá vai
trò của chính trị và xu hướng tuyệt đối hoá vai trò kinh tế. Đòi hỏi trong xử lý và
giải quyết những vấn đề cụ thể phải chủ động, sáng tạo, tránh tuyệt đối hoá
chính trị với kinh tế. Tuyệt đối hoá kinh tế sẽ dẫn đến tình trạng phát triển vô
chính phủ, tập trung tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, hy sinh các mặt khác.
Tuyệt đối hoá chính trị trong phát triển kinh tế sẽ làm cho nền kinh tế bị can
thiệp, áp đặt một cách duy ý chí, không theo quy luật khách quan.
* Xu hướng tuyệt đối hoá vai trò của chính trị và phương hướng khắc phục:
bằng xã hội có lúc chưa hài hoà. Một trong những vấn đề công bằng xã hội nổi lên đó
là: Việc làm và xoá đói, giảm nghèo vẫn có xu hướng tăng “Tỷ lệ thất nghiệp ở thành
20
thị giảm còn dưới 4,5%, tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 9,5%” 15. Sự phân hoá giàu nghèo
ngày càng diễn ra sâu sắc và trên diện rộng. Tại các đô thị lớn, mức chênh lệch giữa
nhóm giàu nhất với nhóm nghèo nhất lên đến vài chục lần. 3/4 cư dân nông thôn có
mức thu nhập dưới mức trung bình của xã hội. Như vậy, sự tăng trưởng kinh tế cao
không mặc nhiên đẩy mạnh việc thực hiện công bằng xã hội.
Xu hướng tuyệt đối hoá vai trò của đổi mới kinh tế còn thể hiện ở chỗ: trên
một số phương diện, đổi mới kinh tế chưa gắn chặt chẽ với chính trị, văn hoá, xã
hội. Trong quản lý và điều hành nền kinh tế có thể nói, nhiều cấp chính quyền đều
tập trung vào các vấn đề phát triển và điều tiết nền kinh tế, còn các vấn đề văn hoá,
xã hội dường như chỉ là vấn đề phái sinh của kinh tế.
KẾT LUẬN
Nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị
có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta. Đảng ta xác định
rõ, phải đổi mới toàn diện đất nước đặc biệt trên hai lĩnh vực kinh tế và chính trị. Trong
đó, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đổi mới chính trị phải thận trọng tiến hành từng
bước với những bước đi phù hợp với điều kiện khả năng của đất nước và xu thế phát triển
chung của thế giới. Đổi mới kinh tế nhằm xây dựng, phát triển đất nước đáp ứng yêu cầu
sản xuất ra lượng của cải vật chất to lớn đảm bảo thành công cho công cuộc xây dựng
CNXH. Thực tiễn sau 25 năm đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã
giành được những thành tựu hết sức to lớn, vị thế của đất nước ta dần được khẳng định
trên trường quốc tế và khu vực. Điều đó cho thấy sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong
vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam, đặc biệt là nhận thức và vận dụng giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa kinh
tế và chính trị trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb CTQG, Hà Nội, 1996.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
CTQG, Hà Nội, 2001.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
CTQG, Hà Nội, 2006.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb
CTQG, Hà Nội, 2011.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tập 37, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tập 40, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tập 43, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004.
10.V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978.
11.C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995
12.C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 19, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995.
13.PGS, PTS Trần Phúc Thăng (chủ biên): Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng chính trị trong thời kỳ phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần ở Việt Nam, Nxb Lao động, Tháng 1/2000.
14.GS. TS Đỗ Hoài Nam, Một số vấn đề nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa
đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị, Tạp chí Khoa học xã hội, 1/2011
15.Trung tâm từ điển: Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2003.
23
24