Tiểu Luận
PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG SỰ NGHIỆP CNH-HĐH Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
Mục Lục
1
Mục Lục 1
I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ NGUỒN NHÂN LỰC 2
1. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (CNH, HĐH) 3
a. Khái niệm công nghiệp hóa hiện đại hóa 3
b. khái niệm nguồn lực con người 3
2. Các quan điểm và chủ trương của đảng về phát huy NNL trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước 3
II. PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CNH, HĐH Ở NƯỚC 5
1. Vấn đề nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH 5
a. Thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta 5
2. Các giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH 8
c. Về giáo dục- đào tạo 11
III. THỰC TRẠNG VỀ NNL NGÀNH TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 12
Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mục tiêu
quan trọng nhất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thì nguồn nhân
lực chính là chìa khoá của sự thành công. Nguồn nhân lực với trình độ tiên tiến sẽ
chính là nhân tố đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với một
nước đang ở trình độ thấp kém phát triển như nước ta hiện nay không thể không xây
dựng một chính sách phát triển lâu bền, nâng cao dần chất lượng của người lao động,
phát huy nhân tố con người để phục vụ tốt nhất cho mục tiêu lớn lao của toàn dân tộc,
đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó cũng chính là lý do mà nhóm chúng em
chọn đề tài “Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam hiện nay.”
I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
VÀ NGUỒN NHÂN LỰC
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng do con người, vì con người. Chính
vì mục tiêu cao cả của cuộc cách mạng đó mà khi hình dung trên những nét đại thể về
xã hội tương lai, Marx và Engels đã đặt con người vào vị trí trung tâm. Con người là
chủ thể xây dựng, đồng thời là kết quả của sự phát triển xã hội đó.
Công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN hiện nay ở nước ta do Đảng Cộng sản
Việt Nam khởi xướng cũng là nhằm đạt tới mục tiêu cao cả trên. Để đạt tới mục tiêu
đó, nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ là thực hiện thành công sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước. Tức là phải bằng mọi cách phát huy vai trò tích cực của con người
Việt Nam cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước. Điều đó có nghĩa là phải tìm
những giải pháp tốt nhất nhằm phát huy nhân tố con người –chủ thể của toàn bộ tiến
trình đó. Nhận thức được tầm quan trọng của nhân tố đó, trong các nghị quyết ban
chấp hàng trung ưng đảng khóa VII, VIII, IX, X đảng ta luôn đánh giá cao sự phát
huy nguồn nhân lực con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
- Nghị quyết IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII nêu rõ: Cùng với khoa
học, công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy. Như
vậy, giáo dục là một dạng đầu tư cho sự phát triển vì nó là động lực thúc đẩy kinh tế
phát triển. Sự nghiệp giáo dục đao tạo có tính xã hội hóa cao. Nền giáo dục và đào tạo
tốt sẽ cho chúng ta nguồn nhân lực với đủ sức mạnh, đáp ứng yêu cầu trước mắt và
lâu dài. Do vậy sự nghiệp giáo dục phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, đồng
thời phải tranh thủ sự hợp tác, ủng hộ của các nước trên thế giới thông qua việc hợp
tác giáo dục.
- Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã quán triệt một trong những quan điểm về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất
nước, không ngừng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn với
cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội, bảo vệ môi trường.”
- Tiếp theo đến đại hội thứ IX đảng ta đã xác định: Phát triển giáo dục và đào tạo là
một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
4
điều tra.
Được biết, tính đến thời điểm 0 giờ ngày 1/4/2009, cả nước có 43,8 triệu người
trong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 51,1% dân số. Trong đó, thành thị có
11,9 triệu người (chiếm 27%), nông thôn có 31,9 triệu người (73%). Lao động nữ
chiếm 46,6% tổng lực lượng lao động.
Với số lượng người bước vào độ tuổi lao động đạt mức kỷ lục như hiện nay, cùng
với hàng chục vạn lao động dôi dư từ các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước, 2 thập kỷ
đầu tiên của thế kỷ 21 sẽ tạo ra áp lực rất lớn về việc làm và nguồn vốn đang căng
thẳng với tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao (một số lao động thất nghiệp rơi vào nhóm lao
động trẻ được đào tạo, gây ra nhiều hậu quả cả về kinh tế xã hội. Bên cạnh đó còn có
hàng triệu người già tuy tuổi cao nhưng vẫn còn khả năng và mong muốn được làm
việc.
Trên phạm vi cả nước, cấu trúc dân số biến đổi tạo cơ hội thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế, tuy nhiên do hoàn cảnh địa lý và tình hình kinh tế - xã hội khác nhau
giữa các vùng miền, nên ở các tỉnh đồng bằng do mức sinh sống thấp trong nhiều năm
qua và "cơ cấu dân số vàng" đã bắt đầu phát huy tác dụng, tạo ra nhiều thách thức lớn
về việc làm cho địa phương vốn đất chật người đông. Tại các tỉnh vùng Tây Nguyên,
miền núi Tây Bắc, do mức sinh ở những vùng này vẫn còn cao nên cấu trúc dân số
còn trẻ. Luồng di cư tự phát rất lớn đổ từ các vùng nông thôn, miền núi đến các thành
phố, Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Trong một số doanh nghiệp ở các vùng
này, số lao động ngoại tỉnh chiếm đến 80%.
* Chất lượng
Trong những năm gần đây chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) của Việt Nam
đã được cải thiện 114/179 nước (năm 2008), tuy nhiên chỉ số đó con khá khiêm tốn so
với các nước trong khu vực như singapore (thứ 27 ), Malaysia (thứ 63), Thái Lan
( thứ 77 )
Những nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng trong nhiều năm qua đã chứng minh,
chiều cao của người Việt Nam đang được cải thiện. Nạn đói và chiến tranh đã ảnh
hưởng đến tầm vóc của người Việt Nam; chiều cao trung bình của người Việt Nam
trong thời gian từ năm 1938-1985 hầu như không thay đổi (nam cao 160cm, nữ cao
Tỷ lệ lao động kỹ thuật đã thấp lại phân bổ không đồng đều giữa các ngành và các
thành phần kinh tế. Rất nhiều lao động kỹ thuật tập trung ở các cơ quan trung ương.
Các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, các thành phần kinh tế tập thể , tư nhân, cá thể
7
còn thiếu nhiều lao động kỹ thuật. Ở khu vực nông thôn, số lao động đã qua đào tạo
chiếm tỷ lệ càng thấp (chỉ khoảng 4%). Đặc biệt vùng miền núi, hải đảo, đang thiếu
lao động kỹ thuật và trí thức trầm trọng, trong khi số tri thức dư thừa giả tạo ở thành
phố ngày càng nhiều. Không những vậy, có những lao động sau khi được đào tạo đã
không làm đúng ngành nghề, thậm chí còn làm công việc của lao động giản đơn.
b. Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn yếu
kèm.
- Thứ nhất là cho đến nay nền kinh tế nước ta vẫn là nền kinh tế nông nghiệp. Tính
đến hết năm 2007, tỷ trọng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp vẫn còn cao
(29,6%), số lao động trong các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp vẫn còn lớn
(56,8%), tỷ lệ lao động xã hội chưa qua đào tạo chiếm một tỷ lệ đa số. Những chỉ số
này cho thấy đây là một trong những nguyên nhân cơ bản đang tạo ra sự hạn chế
trong sự phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay.
- Thứ hai là thực trạng quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực nước ta những năm
qua còn quá nhiều bất cập. Cho đến nay chúng ta chưa có chiến lược tổng thể trong
việc xây dựng, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực cho quá trình phát triển đất nước
giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ít nhất là đến năm 2020. Việc quy hoạch,
phát triển và sử dụng nguồn nhân lực giữa các ngành, vùng và địa phương trong cả
nước cũng còn nhiều chồng chéo và thiếu các mục tiêu cụ thể. Điều đó dẫn đến tình
trạng khá phổ biến hiện nay là vừa “thừa” vừa “thiếu” nhân lực trong các ngành,
vùng, địa phương.
- Thứ 3 đến là sự lạc hậu về nội dung và phương pháp trong việc đào tạo nguồn nhân
lực ở Việt Nam hiện nay. Các phương pháp dạy và học của chúng ta hiện nay thường
tạo ra sự thụ động đối với người học, như nặng về lý thuyết, nhẹ về kỹ năng thực
hành. Do đó, chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo thường bất cập. Người học
thường ít vận dụng được những gì sau khi học, hoặc muốn làm việc được thì người
Center-HRDPC) trực thuộc Chính phủ, để tạo sự liên kết ngang hàng giữa các Bộ,
ngành, địa phương với Bộ Giáo dục và Đào tạo.
9
Để mô hình này hoạt động có hiệu quả, HRDPC phải là cơ quan có quyền lực đủ
lớn, do đó người đứng đầu nhất thiết phải là Thủ tướng Chính phủ, các thành viên
thường trực bao gồm các đại diện các Bộ, ngành, địa phương và các cơ sở đào tạo lớn
trên toàn quốc.
Các quốc gia trên thế giới như Singapore, Ấn Độ từ rất sớm đã xác định và thiết
lập được mối quan hệ giữa phát triển các chiến lược kinh tế và chiến lược nhân lực.
Đây được coi là một trong những nền tảng của sự thành công về mặt kinh tế, khoa
học kỹ thuật của các quốc gia này. Đã đến lúc Việt Nam đặt vấn đề lấy sự phát triển
nguồn nhân lực làm động lực cho tăng trưởng kinh tế thông qua sự kết hợp chăt chẽ
các chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược phát triển nguồn nhân lực.
b. về chính sách xã hội
Trong thời gian gần đây, việc “chảy máu chất xám”, di chuyển các nhân tài từ
doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài ngày càng gia tăng. Đặc biệt, trong thời gian tới, khi nền kinh tế được
phục hồi và trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng hoàn thiện, cạnh tranh
nguồn nhân lực sẽ tiếp tục gắt gao hơn. Do đó, Nhà nước cũng như các doanh nghiệp
cần xây dựng chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với nguồn nhân lực theo mức độ cống
hiến và khả năng phát triển tương lai. Trước hết, chính sách tiền lương cần được xây
dựng và thực hiện một cách linh hoạt theo tiêu chí tài năng. Đồng thời, cần xây dựng
chế độ chính sách ưu đãi đối với nhân lực chất lượng cao để tạo động lực thu hút
nhân tài trong và ngoài nước vào làm việc tại các cơ quan nghiên cứu, cơ quan hoạch
định chính sách để họ có điều kiện phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của mình.
Các chính sách này không chỉ dừng lại ở lương hay cổ phần mà còn là các phương
thức khác như cung cấp nhà ở, hỗ trợ dịch vụ bảo hiểm và chăm sóc sức khỏe chất
lượng cao, tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi, hỗ trợ phương tiện truyền
thông và đi lại, tín dụng cho nhân viên, du lịch và đào tạo tại nước ngoài, hỗ trợ dịch
vụ gia đình cho nhân viên. Nhà nước và doanh nghiệp cũng cần có chính sách để thu
tiêu của chủ nghĩa xã hội. Vậy mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cần
phải quán triệt việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát triển nhân tố con người Song song
với vấn đề giáo dục, đào tạo con người, chúng ta cần quan tâm đến vấn đề dân số, sức
khỏe như tăng cường chú trọng đến các chương trình bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ
em, phòng chống suy dinh dưỡng các vùng miền, vùng sâu, vùng xa.
11
CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN không thể không xuất phát từ tinh
thần nhân văn sâu sắc, không thể không phát triển con người Việt Nam toàn diện để
lấy đó làm động lực xây dựng xã hội ta thành một xã hội "công bằng, nhân ái", "tốt
đẹp và toàn diện" để bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, đặc biệt là đối với thế
hệ trẻ, nhất thiết phải từng bước hiện đại hoá đất nước và đời sống xã hội và chúng ta
"tăng trưởng nguồn lực con người khi quá hiện đại hoá các ngành giáo dục, văn hoá,
văn nghệ, bảo vệ sức khoẻ, dân số và kế hoạch hoá gia đình gắn liền với việc kế thừa
và phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc" chỉ có trên cơ sở đó khi
phát triển nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường chúng ta mới có thể tránh được
nguy cơ tha hoá, không xa rời những giá trị truyền thống, không đánh mất bản sắc
dân tộc, đánh mất bản thân mình trở thành cái bóng của người khác.
III. THỰC TRẠNG VỀ NNL NGÀNH TÀI
CHÍNH-NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM.
Lĩnh vực ngành Tài chính - Ngân hàng (TCNH) luôn được xã hội quan tâm, bởi lẽ
đây là ngành mà trong những năm vừa qua số lượng tuyển dụng lao động khá lớn do
điều kiện về kinh tế xã hội phát triển. Bất cứ một quốc gia nào để có điều kiện phát
triển tốt thì phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh. Nếu đặt vấn đề phải có hệ thống
ngân hàng vững mạnh thì rõ ràng họ phải quan tâm đến nguồn nhân lực. Đặc biệt
trong thời gian vừa qua, điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế ở các quốc gia nói
chung và Việt Nam nói riêng, nên hệ thống ngân hàng tài chính phát triển và mở rộng
rất nhanh, có điều kiện thu hút nguồn nhân lực về lĩnh vực này khá lớn.
Theo số liệu Bộ Tài chính thì trong những năm qua, quy mô đào tạo trình độ Đại
học, cao đẳng ngành Tài chính - Ngân hàng tăng nhanh. Trong tổng số khoảng 1,5
triệu sinh viên năm học 2006-2007 thì có hơn 400 nghìn sinh viên theo học ngành
nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu cho biết nhân lực ngành ngân hàng đã thực sự đến
mức báo động đỏ. Nhu cầu nguồn nhân lực cho ngành này mỗi năm cần khoảng
15.000 nhân viên tốt nghiệp đại học nhưng cộng số sinh viên tại các trường mới chỉ
đáp ứng 11.000 người, mỗi năm thiếu gần 4.000 người
Tin tưởng rằng với sự phát triển CNH,HĐH đất nước ngành ngân hàng sẽ đóng
góp số lượg cũng như chất lượng cho nền kinh tế.
Bất cứ một sự phát triển nào đó cũng đều phải có một động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội được dự trên nhiều nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực. Song chỉ
13
có nguồn lực con người mới tạo ra động học cho sự phát triển, những nguồn lực khác
muốn phát huy tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Do vậy trong bất
cứ xã hội nào, một đất nước nào, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cũng đóng một vai
trò cực kỳ quan trọng. Đặc biệt ở nước ta, vấn đề này lại càng được coi trọng hơn bao
giờ hết. Con người Việt Nam đã làm được những điều kỳ diệu trong lịch sử và con
người Việt Nam chắc chắn cũng làm được những điều kỳ diệu như thế trong tương
lai, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
14