PHÒNG GD & ĐT PHÚ VANG
TRƯỜNG THCS VINH PHÚ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CỦA CÁ NHÂN
NĂM HỌC 2015 – 2016
I. THÔNG TIN CÁ NHÂN
1. Họ và tên: TRẦN ĐỨC ĐÔNG
Giới tính: Nam
2. Ngày tháng năm sinh: 06/09/1985
Năm vào ngành giáo dục: 2011
3. Trình độ học vấn: Thạc sĩ chuyên ngành Địa lí Tự nhiên
4. Nơi đào tạo: Đại học Sư phạm Hà Nội
5. Loại hình đào tạo: Chính quy tập trung
6. Trình độ Tin học: C
7. Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh bậc 3/6 (B1)
8. Tổ chuyên môn: Khoa học xã hội
9. Nhiệm vụ được giao: Giáo viên KHXH 6, Địa lí 7, 8, 9; Em học sống Xanh 7; Bồi dưỡng
HSG Địa lí 9; Chủ nhiệm lớp 6/1; Tổ phó Tổ Khoa học xã hội; Phó Bí thư Chi Đoàn trường
THCS Vinh Phú
II. NỘI DUNG BÀI THU HOẠCH
DANH MỤC CÁC NỘI DUNG BÀI THU HOẠCH
Bồi dưỡng thường xuyên cá nhân năm học 2015 – 2016
Nội dung bồi dưỡng 1
Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Nội dung bồi dưỡng 2
Bồi dưỡng chính trị đầu năm học
Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học
vừa phải thực hiện trong hoạt động học tập, vừa phải được cụ thể hóa trong các hoạt động tập
thể. Việc tổ chức HĐGDNGLL với những hình thức đa dạng do học sinh quản lí và điều khiển
có vị trí rất quan trọng ở lứa tuổi này. Đây là hoạt động không thể thiếu, có tác dụng thiết thực
đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của các em.
HĐGDNGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục trong nhà trường phổ thông, nó giữ
vai trò quan trọng trong trong quá trình giáo dục toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu
giáo dục đề ra. HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, với nhiều hoạt động
phong phú, đa dạng, diễn ra trên bình diện rộng. HĐGDNGLL tạo môi trường gắn lí luận với
thực tiễn. Trong HĐGDNGLL học sinh có điều kiện sử dụng kiến thức, kinh nghiệm tri thức đã
học, khắc sâu kiến thức, mở rộng vốn hiểu biết, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, kích thích sự phát
triển tư duy.
HĐGDNGLL là môi trường rèn luyện phẩm chất, nhân cách, tài năng, thiên hướng cá
nhân, hình thành các mối quan hệ giữa con người với đời sống xã hội, với thiên nhiên và môi
trường sống. Các hoạt động thực tiễn về khoa học kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội,
hoạt động nhân đạo, văn hóa, văn nghệ, vui chơi giải trí…cùng tập thể có tác động mạnh mẽ,
sâu sắc tới đời sống tình cảm của các em. Có thể nói HĐGDNGLL là môi trường tốt cho việc
phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh, là điều kiện tốt nhất để các em phát huy vai trò chủ
thể, chủ động, sáng tạo trong quá trình rèn luyện và học tập, góp phần hình thành tình cảm và
niểm tin đúng đắn ở các em.
HĐGDNGLL tạo điều kiện để học sinh hòa nhập vào cuộc sống xã hội. Khi tham gia
các HĐGDNGLL, các em được hòa mình vào sự vận động chung của đời sống xã hội phong
phú phức tạp và sôi động. Chính HĐGDNGLL đã bước đầu đặt học sinh trước những vấn đề
của thời đại, của xã hội, của đất nước cũng như những thách thức thực tiễn mà các em sẽ phải
tiếp cận và đối mặt…Từ thực tế đó các em hiểu được sâu sắc hơn sự cần thiết phải chuẩn bị cho
mình hành trang để đảm đương trách nhiệm làm chủ bàn thân, chủ nhân tương lai của đất nước,
của xã hội đang ngày càng phát triển.
Mục tiêu của chương trình HĐGDNGLL đặt ra là:
- Về nhận thức: Giúp học sinh nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, hiểu
và tiếp thu các giá trị tốt đẹp của nhân loại; củng cố, bổ sung, nâng cao và mở rộng kiến thức đã
2
pháp tổ chức HĐGDNGLL phải kiên quyết khắc phục tính áp đặt, bao biện làm thay học sinh.
Phải đưa học sinh vào những tình huống cụ thể với công việc được giao cụ thể.
Phát huy cao độ khả năng của đội ngũ cán bộ lớp, đồng thời khéo léo lôi cuốn mọi thành
viên trong lớp cùng tham gia vào các khâu của quá trình hoạt động.
Đổi mới phưong pháp tổ chức HĐGDNGLL theo phương hướng tăng cường vận dụng
thiết bị và phương tiện dạy học của các môn học.
Đánh giá hoạt động cần nhấn mạnh đến kĩ năng và hành vi, coi đó là yêu cầu cơ bản cần
đạt được sau hoạt động. Đánh giá nhằm giúp học sinh tự nhận ra được những tiến bộ cũng như
những tồn tại cần khắc phục trong quá trình tham gia hoạt động của bản thân. Như vậy, học
sinh được chủ động tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.
Một số phương pháp tổ chức HĐGDNGLL
Các phương pháp tổ chức HĐGDNGLL đều cần có sự phối hợp phương pháp giáo dục
với phương pháp dạy học sao cho phù hợp với nội dung hoạt động một cách linh hoạt và sáng
tạo.
- Phương pháp thảo luận
Thảo luận là một dạng tương tác nhóm đặc biệt mà trong đó, các thành viên cùng giải
quyết một vấn đề và cùng quan tâm nhằm đạt tới một sự hiểu biết chung. Thảo luận tạo ra một
3
môi trường an toàn cho học sinh kiểm chứng ý kiến của mình, có cơ hội để làm quen với nhau
và để hiểu nhau hơn.
Thảo luận trong HĐGDNGLL là hoạt động trao đổi ý kiến giữa các em học sinh với
nhau về một chủ đề nào đó.
- Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp thực hành của học sinh trong một số tình huống ứng xử cụ thể
nào đó trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩa sáng tạo của các em. Đóng vai rất có tác dụng
trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp, ứng xử, do vậy mang tới cho các em cơ hội, môi trường
rèn luyện các kĩ năng này.
- Phương pháp giải quyết vấn đề
Tháng 1: “Mừng Đảng mừng xuân”
Tháng 2: “Mừng Đảng mừng xuân"
Tháng 3: “Tiến bước lên Đoàn”
Tháng 4: “Hòa bình, hữu nghị”
Tháng 5: “Bác Hồ kính yêu”
4
HĐGDNGLL thường được chúng tôi đi theo 6 bước cơ bản sau:
Bước 1: Lựa chọn và đặt tên cho hoạt động
Mỗi chủ đề cần được tiến hành bởi nhiều hoạt động khác nhau tùy thuộc vào đối tượng
học sinh. Theo chúng tôi tên của hoạt động cũng có thể được chính học sinh điều chỉnh cho phù
hợp hơn với mối quan tâm, tính cách và sự dí dỏm của các em và của chính hoạt động cụ thể
mà các em xây dựng.
Bước 2: Xác định mục tiêu của hoạt động
Mục tiêu thể hiện sự định hướng của hoạt động. Mục tiêu của mỗi hoạt động đều hướng
tới mục tiêu chung của chủ đề theo từng tháng. Tùy thuộc vào nội dung, hình thức cụ thể của
hoạt động và đối tượng học sinh mà đặt ra những mục tiêu riêng cho hoạt động. Mục tiêu hoạt
động cần được xác định một cách rõ ràng, cụ thể, có tính xác định và có thể lượng hóa được để
dễ thực hiện, dễ kiểm tra đánh giá. Các vấn đề về kiến thức, kỹ năng, thái độ hay tình cảm được
mục tiêu hướng tới ít hay nhiều tùy thuộc vào hoạt động cụ thể.
Bước 3: Xác định nội dung và hình thức của hoạt động
Các căn cứ để xác định nội dung và hình thức của hoạt động: chủ đề của hoạt động, mục
tiêu của hoạt động, điều kiện của hoạt động (về cơ sở vật chất của trường, lớp, năng lực và lứa
tuổi học sinh, các lực lượng hỗ trợ…) , thời điểm diễn ra hoạt động.
Trong bước này, theo chúng tôi, việc xác định nội dung và dự kiến hình thức hoạt động
có thể được giáo viên chuẩn bị nhưng để hoàn thiện nó thì nên có sự tham gia ý kiến của học
sinh. Việc này không những tạo thêm điều kiện cho các em phát huy tính chủ động và sáng tạo
mà hơn nữa, sự tin cậy của thầy cô sẽ cho các em thêm tự tin, tạo thêm động lực và hứng thú
khi tham gia hoạt động.
chuẩn bị trong hoạt động chung.
Trong bước này chúng tôi nhận thấy rằng, sự hoàn thành nhiện vụ của mỗi cá nhân học
sinh là yếu tố quyết định tạo nên sự thành công của hoạt động. Có thể nói cụ thể về vai trò chủ
động của học sinh trong bước này như sau:
Cán sự lớp, cán sự Đoàn có thể giữ vai trò của người chỉ đạo hoạt động hay người dẫn
chương trình tùy theo hình thức của hoạt động.
Mỗi học sinh đều là những “diễn viên” tích cực và sáng tạo trong “vai diễn” tự nhiên
của mình trước tập thể.
Kịch bản của hoạt động tuy có sự chuẩn bị trước, nhưng trong hoạt động cụ thể với các
vai diễn tự nhiên của học sinh chắc chắn sẽ có những tình huống mới, những vấn đề phát sinh
cần được giải quyết tức thời. Chính điều này tạo môi trường cho các em rèn luyện sự năng
động, sáng tạo trong giải quyết tình huống và góp phần tạo thêm yếu tố bất ngờ hấp dẫn cho
hoạt động.
Bước 6: Kết thúc hoạt động
Đây chính là phần cuối cùng của hoạt động. Trong bước này học sinh vẫn tiếp tục giữ
vai trò chủ động hoàn toàn.
Có nhiều cách kết thúc, giáo viên cần tư vấn cho học sinh lựa chọn cách kết thúc cho
phù hợp với hình thức hoạt động đồng thời như một sự tiếp nối tự nhiên không khí vui vẻ sôi
động của hoạt động. Cần tránh sự nhàm chán tẻ nhạt, chú ý việc để lại ấn tượng tốt đẹp về buổi
hoạt động cho học sinh. Điều này chắc chắn sẽ góp phần nâng cao tính tích cực, tự giác của học
sinh trong những hoạt động sau.
Theo chúng tôi, những ý kiến tổng kết hoạt động của thầy cô giáo là rất cần thiết, giúp
các em thấy được ưu, nhược điểm của hoạt động từ đó có thêm kinh nghiệm cho các hoạt động
sau. Và quan trọng là những ý kiến đó của thầy cô sẽ có tác động cổ vũ, động viên rất nhiền
đến hoạt động của các em.
C. TỰ ĐÁNH GIÁ NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 1
- Hoàn thành kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng nội dung 1 theo kế hoạch bồi dưỡng thường
xuyên đã đề ra đầu năm học.
- Điểm:
- Xếp loại:
nước”, “hiếu với dân”.
Tư tưởng Hồ Chỉ Minh về trách nhiệm:
Trách nhiệm thì bao gồm ý thức trách nhiệm và tinh thần trách nhiệm. Chủ tịch Hồ Chí
Minh coi trách nhiệm là bổn phận mỗi người phải làm:
- Trách nhiệm đầu tiên là trách nhiệm với Tổ quốc. Mỗi một người đều phải có trách nhiệm với
Tổ quốc. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Bác viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ
người già người trẻ, không phân biệt tôn giảo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải
đứng lên chống thực dân Pháp”.
- Mỗi một người đều có trách nhiệm đối với gia đình, quê hương.
- Mỗi người đều có trách nhiệm đối với nhân dân, cộng đồng dân tộc.
- Đối với cán bộ, đảng viên, công chức phải có trách nhiệm đối với công việc, đối với Đảng,
đối với Chính phủ.
Tấm gương đạo đức Hồ Chỉ Minh về trung thực, trách nhiệm:
- Đầu tiên chúng ta thấy ở Bác Hồ là trách nhiệm của người dân đối với Tổ quốc. Khi trong
cảnh “nước mất, nhà tan”, Bác tự xác định trách nhiệm của mình phải ra đi tìm đường cứu
nước.
- Trong cuộc đấu tranh cùng nhân dân giành lại nền độc lập cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
7
nhận trách nhiệm đi cùng với đồng bào trong cuộc đấu tranh đó.
- Khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong bối cảnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, là
người đứng đầu hệ thống quyền lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận trách nhiệm cùng toàn Đảng,
lãnh đạo nhân dân để bảo vệ nền độc lập vừa giành đượcắ •
- Khi Đảng và Nhà nước mắc khuyết điểm, với vai trò là người đứng đầu, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đứng ra chịu trách nhiệm trước dân, chịu trách nhiệm trước Đảng, đứng ra xin lỗi nhân
dân và hứa quyết tâm sửa chữa, kêu gọi đồng bào đoàn kết để tiếp tục đẩy mạnh sản xuất.
* Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về suốt đời gắn bó với nhân dân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về gắn bó với nhân dân bắt nguồn từ quan niệm của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về nhân dân:
- Mỗi chính sách đưa ra, mỗi kế hoạch được xây dựng ... đều phải xuất phát từ lợi ích của dân.
- Mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải có nhiều mối liên hệ với nhân dân hơn nữa.
- Cần phải gắn bó nhân dân để xây dựng Đảng, cần có ý kiến của nhân dân góp ý cho đảng
viên, cho cán bộ, cho Đảng.
8
B. VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN GIẢNG DẠY
Năm học 2015 – 2016 là dịp để tập thể trường THCS Vinh Phú tiếp tục đẩy mạnh việc
học tập tư tưởng của Bác về “trung thực và trách nhiệm” nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao, nâng cao chất lượng dạy và học, tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp trồng người.
Vận dụng sáng tạo và linh hoạt tư tưởng, tấm gương của Bác, bản thân tôi đã xây dựng
chuyên đề học tập và làm theo gương Bác về trung thực, trách nhiệm. Theo đó yêu cầu của việc
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về trung thực, trách nhiệm là:
Thứ nhất, phải thật sự trung thực, trách nhiệm với chính mình, với học sinh, trung thực,
trách nhiệm với đồng nghiệp và nhà trường. Duy trì quan điểm “Dạy thực chất, đánh giá trung
thực kết quả học tập của học sinh”.
Thứ hai, phải khắc phục cho được tình trạng thiếu trung thực, dối mình, dối đồng
nghiệp, dối học sinh, dạy không thực chất, thiếu trách nhiệm với nhiệm vụ được giao trong
công tác giảng dạy và công tác kiêm nhiệm.
Thứ ba, luôn luôn thực hiện phê và tự phê bình. Một trong những phẩm chất đạo đức
của Bác là ý thức tự giác, tự phê và tính trung thực của cá nhân. Để thực sự học tập có hiệu quả
việc tự phê bình và phê bình, việc làm này phải trở thành một hoạt động bình thường trong sinh
hoạt hàng tháng.
Thứ tư, chú trọng việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua học tập 5 Điều Bác Hồ dạy
bằng các hoạt động Đoàn, các giờ học chính khóa, ngoại khóa, các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Tăng cường các hoạt động giáo dục học sinh ý thức tự giác, đức tính trung thực và trách nhiệm
trong học tập. Đi đôi với công tác giáo dục là việc thực hiện nghiêm túc trong thi cử, nói không
với bệnh thành tích và học sinh ngồi nhầm lớp.
Là những thầy giáo, cô giáo của tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi thực hiện nhiệm vụ là đào tạo
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học của học sinh; tăng
cường kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; đa
dạng hóa các hình thức học tập, chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa
học của học sinh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.
Thứ năm: Tiếp tục thực nghiệm mô hình trường học mới cấp trung học cơ sở đối với
lớp 7 và triển khai mở rộng mô hình trường học mới đối với lớp 6.
Cụ thể, tiếp tục triển khai thực nghiệm mô hình trường học mới cấp THCS đối với một
số lớp 7 của các trường THCS thuộc các tỉnh: Hà Giang, Lào Cai, Hòa Bình, Kon Tum, Đắk
Lắk, Khánh Hòa. Triển khai mở rộng áp dụng mô hình trường học mới đối với lớp 6 cho năm
học 2015 – 2016 ở các tỉnh/thành phố trên cả nước
Thứ sáu: Tập trung phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục về năng lực
xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh; năng
lực đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng
tạo; đổi mới sinh hoạt chuyên môn; nâng cao vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp, của tổ chức
Đoàn, Hội, Đội, gia đình và cộng đồng trong việc quản lí, phối hợp giáo dục toàn diện cho học
sinh.
Các văn bản chỉ đạo của Sở Giáo dục & đào tạo Thừa Thiên Huế, phòng Giáo dục
và đào tạo Phú Vang:
Một số văn bản chỉ đạo được chúng tôi nghiêm túc thực hiện cho năm học 2015 – 2016
như:
10
11
B. VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN GIẢNG DẠY
Các văn bản hướng dẫn, điều hành của Bộ GD & ĐT, Sở GD & ĐT Thừa Thiên Huế,
của Phòng GD & ĐT huyện Phú Vang là các nhiệm vụ mà giáo viên chúng tôi luôn thực hiện
nghiêm túc trong năm học vừa qua. Ở đây tôi nhấn mạnh thêm về mô hình trường học mới
những khó khăn khi dạy theo mô hình VNEN.
Thời gian đầu mới áp dụng, nhiều giáo viên chưa hình dung được phương pháp mới nên
vẫn còn bỡ ngỡ, lúng túng. Qua quá trình vừa dạy vừa tìm tòi, hiện nay giáo viên đã cơ bản
nắm được tinh thần của mô hình. Ngoài ra, mô hình VNEN triển khai ở cấp THCS do không có
kinh phí, các nhà trường phải chủ động về cơ sở vật chất, sách giáo khoa, phòng học cho học
sinh nên dù cố gắng nhưng vẫn còn nhiều thiếu thốn. Nhà trường đã và đang triển khai công tác
xã hội hóa để huy động các nguồn lực ủng hộ cơ sở vật chất cho việc triển khai mô hình. Đối
với đội ngũ giáo viên, nhà trường cũng quan tâm hướng dẫn các giáo viên trong giảng dạy,
khuyến khích tinh thần trách nhiệm cao để đảm nhiệm việc giảng dạy các bộ môn của lớp 6.
Để mô hình VNEN triển khai thành công và đạt hiệu quả, Sở Giáo dục và Đào tạo Thừa
Thiên Huế đã hướng dẫn Phòng Giáo dục và Đào Phú Vang tuyên truyền, phổ biến về chủ
trương, giải pháp triển khai mô hình ở cấp THCS cũng như đặc điểm, ý nghĩa của mô hình
trong việc triển khai đổi mới giáo dục phổ thông đến từng cán bộ giáo viên và cha mẹ học sinh.
Bên cạnh đó, tích cực tham mưu, tuyên truyền với cấp ủy, chính quyền địa phương về mô hình
để thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động địa phương, phụ huynh cùng tham gia xây dựng mô
hình. Thông qua các hoạt động kiểm tra, dự giờ và rút kinh nghiệm trực tiếp với giáo viên để
kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện mô hình, đặc biệt là những khó
khăn trong quản lí, chỉ đạo, trong việc khai thác và sử dụng tài liệu, tổ chức các hoạt động dạy
học, đổi mới phương pháp.
Để phát huy hiệu quả của mô hình VNEN, cùng với ngành Giáo dục còn cần sự vào
cuộc của cả phụ huynh và các cấp, các ngành địa phương. Thời gian tới, trường tiếp tục nâng
cao nhận thức cho cán bộ quản lí, giáo viên về mô hình, chỉ đạo các giáo viên cần chuẩn bị tâm
thế để chủ động thực hiện đổi mới chương trình khi mô hình được nhân rộng ở diện đại trà.
Đồng thời, tiếp tục tuyên truyền về mô hình đến nhân dân để tạo sự đồng thuận, góp phần huy
động xã hội hóa giáo dục trong thực hiện mô hình. Ngoài ra cần chủ động xây dựng kế hoạch
bồi dưỡng kiến thức liên môn cho giáo viên, nhất là những giáo viên được đào tạo đơn môn
trong các trường sư phạm.
C. TỰ ĐÁNH GIÁ NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 2
- Hoàn thành kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng nội dung 2 theo kế hoạch bồi dưỡng thường
xuyên đã đề ra đầu năm học.
Hoạt động 4: Tìm hiểu chức năng của đánh giá.
* Kiểm tra, đánh giá có ba chức năng:
- Chức năng đánh giá
- Chức năng phát hiện lệch lạc
- Chức năng điều chỉnh
Như vậy, kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định giải pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất
lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục thông qua việc điều chỉnh phương pháp dạy học của giáo
viên và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá để điều chỉnh phương pháp học tập.
* Thông qua các chức năng này, đánh giá kết quả học tập sẽ là điều kiện cần thiết để:
- Giúp giáo viên nắm đuợc tình hình học tập, mức độ phân hoá về trình độ học lực của
học sinh trong lớp, từ đó có biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém và bồi dưỡng học sinh giỏi,
giúp giáo viên điều chỉnh và hoàn thiện phương pháp dạy học.
- Giúp học sinh biết đuợc khả năng học tập của mình so với yêu cầu của chương trình,
xác định nguyên nhân thành công cũng như chưa thành công, từ đó điều chỉnh phương pháp
học tập, phát triển kĩ năng tự đánh giá.
- Giúp cán bộ quản lí giáo dục đề ra phuơng pháp quản lí phù hợp để nâng cao chất
lượng giáo dục.
- Giúp cha mẹ HS và cộng đồng biết được kết quả GD của từng HS, từng lớp và của cả
cơ sở giáo dục
Hoạt động 5: Tìm hiểu mục đích, ý nghĩa và vai trò của kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập của HS
* Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá
- Công khai hoá nhận định về năng lực và kết quả học tập của mọi học sinh và tập thể
lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ của
mình; khuyến khích, động viên việc học tập.
14
- Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của
mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy
dạy học và chúng có tác dụng tương hỗ lẫn nhau
- Đánh giá học tập cần phải dựa trên nền tảng thông tin mà hoạt động giảng dạy cung
cấp.
15
- Chất lương giảng dạy đuợc phát triển liên tục trên cơ sở thường xuyên xử lí thông tin
từ đánh giá học tập, từ sự tìm hiểu yêu cầu, ưu - nhược điểm của người học và từ đánh giá
giảng dạy cùng các yếu tố tác động đến học tập của nó.
Hoạt động 8: Yêu cầu đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
của môn học.
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học là thành phần của chương trình giáo
dục phổ thông nên việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng sẽ tạo
nên sự thống nhất, hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đưa thêm nhiều nội dung nặng nề, quá
cao so với chuẩn kiến thức, kĩ năng vào dạy học, kiểm tra, đánh giá; góp phần làm giảm tiêu
cực của dạy thêm, học thêm, tạo điều kiện cơ bản, quan trọng để tổ chức dạy học, kiểm tra,
đánh giá và thi theo chuẩn kiến thức, kĩ năng.
Hoạt động 9: Tìm hiểu yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới công tác kiểm tra,
đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học.
* Yêu cầu đối mới công tác kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học
- Giáo viên đánh giá đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh và hướng
dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình;
- Trong quá trình dạy học, cần kết hợp một cách hợp lí hình thức tự luận với hình thức
trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, chuẩn bị tốt cho
việc đổi mới các kì thi theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Thực hiện đúng quy định của quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở, học
sinh trung học phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tiến hành đủ số lần kiểm tra
thường xuyên, kiểm tra định kì, kiểm tra học kì cả lí thuyết và thực hành
- Điểm kiểm tra thực hành điểm hệ số 1, giáo viên căn cứ vào quy trình thí nghiệm một
bài thực hành (được thống nhất trước trong toàn tỉnh) theo hướng dẫn, rồi thu và chấm lấy
quan, chính xác, công bằng.
- Phải đảm bảo sự cân đối các yêu cầu kiểm tra về kiến thức (nhớ, hiểu, vận dụng), rèn
luyện kĩ năng và yêu cầu về thái độ với học sinh và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá kết quả
học tập, rèn luyện năng lực tự học và tư duy dộc lập.
Hoạt động 10: Tìm hiểu những cơ sở của việc đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Để đánh giá kết quả học tập của học sinh cần dựa vào mục tiêu môn học, mục đích học
tập và mối quan hệ giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá kết quả học tập:
* Mục đích học tập là những điều học sinh cần có được sau khi đã học xong một đơn vị kiến
thức, một quy tắc nào đó.
- Hệ thống các kiến thức khoa học, gồm cả các phương pháp nhận thức.
- Hệ thống kĩ năng, kĩ xảo.
- Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế.
- Thái độ, tình cảm đối với nghề nghiệp, đối với xã hội.
* Mục tiêu của môn học là những điểu học sinh cần phải đạt đuợc sau khi học xong môn học
- Lĩnh hội tri thức của nhân loại nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về tự nhìên và xã hội.
- Trang bị kiến thức để đáp ứng nhu cầu về thi tuyển, nghề nghiệp và nhu cầu cuộc sống.
- Thu thập những kinh nghiệm sáng tạo để có thể độc lập nghiên cứu và hoạt động sau này.
Hoạt động 11: Tìm hiểu những yêu cầu cần đạt được của việc kiểm tra, đánh giá.
Bốn trụ cột của một nền giáo dục là: Học để biết, học để làm, học để chung sống và học
để khẳng định mình. Phương pháp và nội dung đánh giá còn cần phải hướng đến những mục
tiêu đáp ứng cả 4 trụ cột trên, có thể xem đây là những định hướng thể hiện tính nhân bản của
đánh giá học tập vì chúng hướng đến sự phát triển toàn diện của con người.
Hoạt động 12: Tìm hiểu việc triển khai kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
trung học phổ thông.
* Quy trình đánh giá gồm những nội dung sau:
- Trình bày vấn đề và mục đích đánh giá
- Xác định đối tượng
- Xác định các loại hình và kĩ thuật đánh giá
- Khai thác và xử lí thông tin
- Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học.
- Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định.
- Đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công khai.
- Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh giá.
* Những nguyên tắc khi đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Khi đánh giá phải chọn mục tiêu đánh giá rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu hiện dưới
dạng những điều có thể quan sát được.
- Giáo viên cần phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử dụng công cụ
đánh giá một cách có hiệu quả.
- Khi đánh giá, GV phải biết đây chỉ là phuơng tiện để đi đến mục đích, chứ không phải là
mục đích.
- Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của HS, nghĩa là trước tiên phải chú ý đến
việc học tập của học sinh. Sau đó mới kích thích sự nổ lực học tập của học sinh, cuối cùng mới
đánh giá bằng điểm số.
- Đánh giá bao giờ cũng đi kèm theo nhận xét để học sinh nhận biết những sai sót của mình
về kiến thức, kĩ năng, phương pháp để học sinh nghiên cứu, trau dồi thêm kiến thức.
- Qua những lỗi mắc phải của học sinh, giáo viên cần rút kinh nghiệm để phát hiện ra
những sai sót trong quá trình dạy và đánh giá của mình để thay đổi cách dạy sao cho phù hợp.
- Trong đánh giá, nên sử dụng nhiều phuơng pháp và hình thức khác nhau nhằm tăng độ tin
cậy và chính xác.
- Lôi cuốn và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình đánh giá.
- Giáo viên phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi để kiểm tra, đánh giá giúp HS định
hướng khi trả lời.
- Phải dựa trên những cơ sở của phương pháp dạy học mà xem xét kết quả của một câu trả
lời, một bài kiểm tra, kết hợp với chức năng chẩn đoán hoặc quyết định về mặt sư phạm.
- Trong các câu hỏi về mặt định lượng, giáo viên thông qua các câu hỏi yêu cầu học sinh
giải thích bằng lời để xác định rõ nhận thức của học sinh.
- Phương pháp và cách thức tiến hành kiểm tra, đánh giá phải diễn ra trong không khí thoải
mái, học sinh cảm thấy tự nguyện, không lo lắng hay sợ sệt
- Không nên đặt những câu hỏi mà bản thân giáo viên không thể trả lời một cách chắc chắn
Đổi mới kiểm tra đánh giá sẽ là động lực thúc đẩy các quá trình khác như đổi mới
phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học, đổi mới quản lý…. Nếu
thực hiện được việc kiểm tra đánh giá hướng vào đánh giá quá trình, giúp phát triển năng lực
người học, thì lúc đó quá trình dạy học trở nên tích cực hơn rất nhiều. Quá trình đó sẽ nhắm
đến mục tiêu xa hơn, đó là nuôi dưỡng hứng thú học đường, tạo sự tự giác trong học tập và
quan trọng hơn là gieo vào lòng học sinh sự tự tin, niềm tin “người khác làm được mình cũng
sẽ làm được”… Điều này vô cùng quan trọng để tạo ra mã số thành công của mỗi học sinh
trong tương lai.
b. Tại sao người ta nói kiểm tra đánh giá rất quan trọng và kiểm tra đánh giá thế nào thì việc
dạy học sẽ bị lái theo cái đó.
* Nếu chúng ta chỉ tập trung đánh giá kết quả như một sản phẩm cuối cùng của quá
trình dạy và học, thì HS chỉ tập trung vào những gì GV ôn và tập trung vào những trọng tâm
GV nhấn mạnh, thậm chí những dạng bài tập GV cho trước… HS chỉ việc thay số trong bài
toán mẫu, bắt trước câu văn mẫu … để đạt được điểm số tối đa theo mong muốn của thầy/cô
giáo. Và như vậy, kiểm tra đánh giá đã biến hình không còn theo đúng nghĩa của nó. Bởi khi
xây dựng chương trình, người ta cần làm rõ triết lý kiểm tra đánh giá… tức là xác định rõ mục
tiêu của kiểm tra đánh giá là gì? Kiểm tra đánh giá xem HS có đạt mục tiêu học tập, giáo dục,
có đạt được kết quả mong đợi theo chuẩn? Và sử dụng kết quả kiểm tra đó để làm gì? Làm thế
nào để GV cải tiến nâng cao chất lượng quá trình dạy và học nếu không có đánh giá phản hồi từ
HS?
*Đánh giá kết quả học tập của học sinh là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đã
đề ra sau một giai đoạn học tập. Nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình giáo
dục:
- Thể hiện kết quả của quá trình GD và đào tạo: kết quả từng giai đoạn, từng học kỳ,
từng năm học
- Tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường : giúp giáo viên
trong việc đánh giá xếp loại năng lực học sinh, kịp thời có những quyết định khen thưởng – kỷ
luật hợp lý.
- Giúp bản thân HS thấy được kết quả học tập của mình, đồng thời thúc đẩy họ học tập
tiến bộ hơn.
5. Phân tích các yêu cầu đối với kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS
- Đảm bảo sự phù hợp của phương pháp kiểm tra đánh giá với các mục tiêu đã xác định
- Đảm bảo tính giá trị, những thông tin thu được phải là những bằng chứng để đi đến
những kết luận phù hợp
- Đảm bảo tính tin cậy: phản ánh đúng kết quả học tập của người học
- Đảm bảo tính công bằng: tạo điều kiện cho tất cả học sinh có cơ hội như nhau
6. Phân tích thực trạng và yếu điểm của kiểm tra đánh giá học sinh tại các trường phổ thông
hiện nay
Điểm yếu nhất của kiểm tra đánh giá giáo dục phổ thông hiện nay là chưa xác định rõ
triết lý đánh giá: đánh giá để làm gì, tại sao phải đánh giá, đánh giá nhằm thúc đẩy, hình thành
khả năng gi ở học sinh?...
Đánh giá trước hết phải vì sự tiến bộ của học sinh, giúp học sinh nhận ra mình đang ở đâu trên
con đường đạt đến mục tiêu bài học/chuẩn kiến thức, kỹ năng… Đánh giá không làm học sinh
lo sợ, bị thương tổn, mất tự tin. Đánh giá phải diễn ra trong suốt quá trình dạy học, giúp học
sinh liên tục được phản hồi để biết mình mắc lỗi, thiếu hoặc yếu ở điểm nào để cả giáo viên và
học sinh cùng điều chỉnh hoạt động dạy và học. Đánh giá phải tạo ra sự phát triển, phải nâng
cao năng lực của người học, tức là giúp các em hình thành khả năng tự đánh giá, đánh giá lẫn
nhau… để phát triển năng lực tự học. Hiện nay rất nhiều giáo viên, các cán bộ quản lý giáo dục
chưa thấu hiểu triết lý đánh giá, chủ yếu mới chỉ tập trung vào đánh giá kết quả học tập, để xếp
loại học sinh…Giáo viên cũng gặp rất nhiều khó khăn khi phải đánh giá các hoạt động giáo dục
(không biết đánh giá các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đánh giá đạo đức, giá trị sống,
kỹ năng sống như thế nào…). Nếu đánh giá chỉ là kiểm tra sự học thuộc bài (ghi nhớ), làm lại
theo các kiểu, dạng bài mẫu thầy đã cho… sẽ triệt tiêu sự phát triển, sự nỗ lực vươn lên ở người
học.
Điểm yếu khác trong đánh giá học sinh hiện tại là đánh giá (chấm điểm) mà không có sự
phản hồi cho học sinh. GV chấm bài kiểm tra, thường chỉ cho điểm hoặc chỉ phê “sai”, “làm
lại” hay chỉ viết ký hiệu sai hay ký hiệu đúng chứ chưa giải thích được rõ cho học sinh biết tại
sao sai, sai như thế nào. Một số GV chấm bài có sự phản hồi nhưng phản hồi không đủ, phản
hồi tiêu cực, không mang tính xây dựng (Vi dụ, GV phê: làm sai, làm ẩu, không hiểu…làm học
sinh mất niềm tin, không có động lực để sửa lỗi), làm cho người học chán nản… Khi phản hồi
nghiệm, thói quen…) mà ít khi để ý đến cơ sở khoa học, tính quy chuẩn của việc thiết kế đề thi
hay đề kiểm tra. Các đề thi/kiểm tra chủ yếu là nhằm đánh giá việc nhớ, hiểu kiến thức, kỹ
năng thực hành, mà ít chú ý đánh giá khả năng học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết các
tình huống trong thực tiễn đời sống, ít chú ý đến việc đánh giá năng lực người học theo chuẩn
mong đợi.
Giáo viên chọn kiểu câu hỏi, cách thức ra đề thi đánh giá học sinh chủ yếu do bắt trước
những đề mẫu, theo “sách”… mà ít khi để ý đến mục tiêu đo lường, đánh giá, ít khi suy nghĩ về
cơ sở khoa học của việc ra đề thi hay đề kiểm tra là nhằm kiểm tra kiến thức, kỹ năng gì, đặc
biệt là kiểm tra năng lực gì trong đó, họ không định hình rõ ràng. Chính vậy mà GV sưu tầm
một số đề cảm thấy “hay” trong sách GK hay sách tham khảo, trên cơ sở đó bắt chước cách
làm. Còn các kiến thức được tập huấn về thiết kế đề thi như thế nào cho khoa học,… nhiều lúc
còn mới lạ với họ. GV không đủ thời gian để làm những cái đó, mặt khác GV cũng không được
các cấp quản lý như sở, phòng, BGH, tổ bộ môn hỗ trợ về thời gian, kinh phí, cũng như bồi
dưỡng cho GV các kỹ thuật để xây dựng các đề kiểm tra, đề thi... theo một quy trình, dựa trên
cơ sở khoa học đo lường và đánh giá.
Điểm nữa là, sau mỗi bài kiểm tra/ kỳ thi, giáo viên thường chỉ quan tâm đến điểm số
của học sinh để lên bảng điểm, xếp loại, đánh giá, chứ không nghĩ rằng cần phân tích đánh giá
chất lượng các đề kiểm tra/thi để rút kinh nghiệm… giúp phát hiện những thiếu hụt gì ở học
sinh, để điều chỉnh hoạt động dạy và học. Nhiều giáo viên chỉ quan tâm, kiểm tra đánh giá để
có điểm, thực hiện yêu cầu theo quy chế…mà quên rằng kiểm tra đánh giá còn có nhiều chức
năng khác…
8. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS
Muốn nâng cao hiệu quả đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS, đánh giá phải tạo
ra động lực để đối tượng được đánh giá vươn lên. Do vậy, đánh giá phải linh hoạt, mềm dẻo có
tác dụng khích lệ, động viên. Tiêu chí đánh giá cũng như kết quả đánh giá phải được công bố
công khai và kịp thời cho học sinh.
Nội dung 2: Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
21
Nêu những căn cứ để lựa chọn và sử dụng có hiệu quả từng phương pháp
Phương pháp kiểm tra dạng tự luận
-Ít câu hỏi, chỉ tập trung ở 1 số chủ đề, thể
loại do đó không thể kiểm tra tổng thể lượng
kiến thức cần đánh giá
-Điểm số khó đánh giá 1 cách tuyệt đối, có
thể bị thiên lệch giữa các giám khảo
-Có thể đánh giá mức độ hiểu sâu, khả năng
nắm bắt thông tin, khả năng sắp xếp, diễn
đạt, đưa ra ý tưởng mới
Phương pháp trắc nghiệm khách quan.
-Nhiều câu hỏi, nhiều vấn đề do đó có thể kiểm
tra tổng thể lượng kiến thức cần đánh giá
-Điểm số có độ tin cậy cao, mang tính khách
quan
-Khó đo được mức độ diễn đạt, sắp xếp, trình
bày và đưa ra ý tưởng mới
4. Thảo luận về thực trạng sử dụng phương pháp vấn đáp trong kiểm tra, đánh giá kết quả của
học sinh hiện nay
Kiểm tra vấn đáp là 1 phương pháp được sử dụng phổ biến trong kiểm tra, đánh giá kết
quả của học sinh hiện nay. Phương pháp này giúp giáo viên thu được tín hiệu từ mọi đối tượng
học sinh một cách nhanh chóng. giúp cả giáo viên và học sinh kịp thời điều chỉnh các hoạt
động. Phương pháp này thật sự cần thiết, có thể kích thích học sinh học bài mỗi ngày,giúp học
sinh tự kiểm tra tri thức thông qua câu trả lời của mình hoặc của bạn. Phương pháp này có thể
được sử dụng ở mọi thời điểm trong tiết học, cũng như ở mỗi cuối học kỳ hoặc cuối năm khi
học sinh cần trình bày, diễn đạt bằng ngôn ngữ nói. Tuy nhiên, kiểm tra vấn đáp còn gặp 1 số
hạn chế, đòi hỏi người giáo viên phải nêu câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, phải khéo léo trong dẫn dắt
22
Bước 1. Xác định mục đích của đề kiểm tra
Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học
xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học, nên người biên soạn đề
kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương
trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp.
Bước 2. Xác định hình thức đề kiểm tra
Đề kiểm tra có các hình thức sau:
- Đề kiểm tra tự luận;
- Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan;
- Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và câu hỏi dạng
trắc nghiệm khách quan. Trong trường hợp này nên ra đề riêng cho phần tự luận và phần trắc
nghiệm khách quan độc lập với nhau.
Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp lý các
hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng cao hiệu quả,
tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của học sinh chính xác hơn.
23
Nếu đề kiểm tra kết hợp hai hình thức thì nên cho học sinh làm bài kiểm tra phần trắc
nghiệm khách quan độc lập với việc làm bài kiểm tra phần tự luận: làm phần trắc nghiệm khách
quan trước, thu bài rồi mới cho học sinh làm phần tự luận.
Bước 3. Thiết lập ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra)
Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính cần đánh
giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinh theo các cấp độ: nhận biết, thông hiểu và
vận dụng (gồm có vận dụng ở cấp độ thấp và vận dụng ở cấp độ cao).
Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số điểm, số
lượng câu hỏi và tổng số điểm của các câu hỏi.
Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cần đánh giá,
lượng thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từng mạch kiến thức, từng cấp
độ nhận thức.
Tỉ lệ
KT,Chuẩn
kiểmKNcần
tra
KT,
Chuẩn
KT,
kiểm
KNcần kiểm tra
Số câu
Số câu
Số câu
Số điểm
Số điểm
Số điểm
Số điểm
KT,Chuẩn
kiểmKNcần
tra
Cộng
(cấp độ 4)
Số câu
Chuẩn
Chuẩn
KT,
KNcần
KNcần kiểm tra
tra
Chủ đề 2
Số điểm
%
Thông hiểu
(cấp độ 3)
Chủ đề 1
Số điểm
%
Nhận biết
Số câu
Số câu
Số điểm
Số điểm
Số điểm
Số điểm
Tổng số câu
Số câu
Số câu
Số câu
Tổng số điểm
Số điểm
Số điểm
Số điểm
Tỉ lệ %
%
Số câu
TNKQ TL
Cấp độ thấp
Cấp độ cao
(cấp độ 3)
(cấp độ 4)
TNKQ TL
TNKQ TL
TNKQ
TL
Chuẩn
KT,
KNcần
kiểm tra
Chuẩn Chuẩn Chuẩn
KT,
KT,
KT,
KNcần KNcần KNcần
KT,
KT,
KT,
KNcần KNcần KNcần KNcần
kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra
Số câu
Số câu Số câu Số câu
Số câu Số câu Số câu Số câu
Cộng
Số câu
Số điểm Tỉ
… điểm=…
Số điểm Số điểm Số điểm Số điểm Số điểm Số điểm Số điểm Số điểm
lệ %
%
Chủ đề 2
Số câu
Số câu
Số điểm Tỉ
… điểm=…
Số điểm Số điểm Số điểm Số điểm Số điểm Số điểm Số điểm Số điểm