MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
DẠY TỪ VỰNG TIẾNG ANH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
GV thực hiện : Nguyễn Thị Danh
I. Đặt vấn đề:
Tầm quan trọng của Tiếng Anh hiện nay:
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỷ của nền
văn minh hiện đại, thế kỷ của khoa học công nghệ
thông tin. Đất nước ta đang trong thời kỳ phát triển lấy
nền kinh tế tri thức làm nền tảng cho sự phát triển và
coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu và cải tiến
chất lượng dạy và học để hoàn thành tốt việc đào tạo
bồi dưỡng nguồn nhân lực con người cho CNH và HĐH
đất nước. Để tồn tại và phát triển xây dựng và bảo vệ tổ
quốc theo kịp các nước phát triển đòi hỏi chúng ta phải
nắm bắt được các thành tựu tiên tiến nhất. Nhằm đưa
đất nước Việt Nam trở thành một nước văn minh giàu
mạnh.
Bởi vậy hệ thống các môn học trong nhà trường hiện nay
là hướng tới những vấn đề cốt lõi thiết thực đó. Bộ môn
Tiếng Anh tuy đưa vào phổ biến muộn hơn so với các
môn học khác ở nhà trường nói chung và các trường
tiểu học nói riêng, nhưng nó là chìa khóa mở ra kho
tàng tri thức nhân loại. Nó là người hướng đạo đưa ta
tới với thế giới bắt tay với bạn bè năm châu, tiếp thu và
lĩnh hội những tinh hoa nhân loại. Học tiếng Anh ở tiểu
học giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giao
Nội dung chương trình xoay quanh các chủ điểm giao tiếp
gần gũi với học sinh như: bản thân, gia đình, nhà
trường, bạn bè và thế giới xung quanh. Với thời lượng
học tiếng Anh theo chương trình mới 3 tiết / tuần, học
sinh đã dần nắm được các kiến thức cơ bản về ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp. Những kiến thức cơ bản, chuẩn
xác được truyền đạt từ phía giáo viên tiếng Anh ngay từ
lúc ban đầu rất quan trọng với các em, giúp các em
vững vàng, tự tin hơn trong quá trình học sau này. Tuy
nhiên, việc tiếp thu ngôn ngữ một cách thụ động, rụt rè,
e ngại, xấu hổ khi nói sai….. sẽ tạo thói quen không tốt
và rất khó sửa, ảnh hưởng nhiều đến học tập cũng như
tính cách của học sinh. Dạy tiếng Anh cho học sinh tiểu
học chính là tạo tiền đề vững chắc, bước đầu hình
thành, phát triển kiến thức, các kĩ năng cơ bản cho học
sinh. Bước đầu cho HS làm quen với ngôn ngữ thứ hai.
Hình thành dần cho các em các kĩ năng chủ yếu: Nghe Nói - Đọc - Viết. Tạo sự hứng thú, lòng say mê và khả
năng khám phá ngôn ngữ mới, để lên các bậc học trên
các em sẽ học tốt hơn.
II. Thực trạng dạy và học Tiếng Anh ở trường Tiểu
học hiện nay:
1. Thuận lợi:
a. Đối với giáo viên:
- Được sự quan tâm, hỗ trợ của Phòng Giáo dục, Ban
giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho
b. Về phía học sinh:
- Bên cạnh một số em học hành nghiêm túc, có không ít
học sinh chỉ học qua loa, không khắc sâu được từ vựng
vào trong trí nhớ, không tập đọc, tập viết thường xuyên,
không thuộc nghĩa hai chiều. Đến khi giáo viên yêu cầu
các em sẽ không thành công.
- Đa số các em là con em nông dân nên việc giúp các em
học tiếng Anh ở nhà còn gặp rất nhiều khó khăn, hầu
hết phụ huynh chỉ chăm lo giúp đỡ con học Toán, Tiếng
Việt tại nhà, còn môn tiếng Anh phụ huynh chưa biết
hướng dẫn bằng cách nào nên tất cả giao cho giáo viên
dạy tiếng Anh ở trường.
- Ngoài ra, cách học từ vựng của học sinh cũng là điều
đáng được quan tâm, học sinh thường học từ vựng
bằng cách đọc từ bằng tiếng Anh và cố nhớ nghĩa bằng
tiếng Việt, có viết trong tập viết cũng là để đối phó với
giáo viên, chứ chưa có ý thức tự kiểm tra lại mình, để
khắc sâu từ mới và vốn từ sẵn có. Vì thế cho nên, các
em rất mau quên và dễ dàng lẫn lộn giữa từ này với từ
khác. Do vậy, nhiều học sinh đâm ra chán học và bỏ
quên.
III. Một số phương pháp dạy từ vựng tiếng Anh cho
Học sinh:
- Chúng ta biết rằng Nghe - Nói - Đọc - Viết là bốn kĩ
năng ngôn ngữ cần phải được rèn luyện và diễn ra một
Đây là phần giới thiệu từ vựng. Giáo viên phải giới
thiệu cho học sinh biết được hình thái ( cách phát âm và
chữ viết ) và ngữ nghĩa của từ. Với phần này giáo viên
có thể dùng một trong các cách sau để giới thiệu từ một
cách sinh động:
Ex: Khi dạy từ table ( cái bàn) giáo viên đọc từ này ra
và viết lên bảng ( giới thiệu hình thái từ) và giới thiệu
nghĩa từ bằng các cách sau:
- Đồ dùng vật thật trong lớp ( realia ), hoặc các đồ chơi
của trẻ em, mô hình ( toys, objects, visuals)……
- Vẽ trực tiếp hình trên bảng ( drawing), dùng tranh ảnh
(pictures), biểu đồ (chats), tranh treo tường, tấm bìa có
dán tranh cắt ra từ các họa baoshay tạp chí….
Ví dụ trong tiết học lớp 5- Unit 3: Let’s Read – Giáo viên
đã sử dụng vật thật, và tranh ảnh để giới thiệu các từ:
fin, pin, thin, hit, pit,…. Giúp học sinh dễ hiểu và năm
bắt được nghĩa của từ. Tiết học cũng trở nên sôi nổi
hơn.
- Cho học sinh bắt chước, giáo viên dùng hết nét mặt
cử chỉ điệu bộ, hành động ( body language, action)……
- Đối chiếu, so sánh với những từ đã học ( Synonym/
Antonym- đồng nghĩa và phản nghĩa).
- Liệt kê tên ( Enumeration): Ví dụ khi dạy từ house
( ngôi nhà) giáo viên có thể liệt kê các thành phần có
liên quan đến ngôi nhà như: bathroom, bedroom, living
room…..
nghĩa của từ bằng tiếng Anh/ Việt tùy trình độ. Bước
này giúp cho học sinh hiểu và khuyến khích các em
lắng nghe cách dùng từ trong văn cảnh tiếng Anh. Ví dụ
muốn kiểm tra lại học sinh nghĩa của từ house, giáo
viên có thể dùng một số hình vẽ trong đó có hình ngôi
nhà và học sinh sẽ chỉ ra nghĩa của từ house.
- Đối với học sinh tiểu học thì việc học và nhớ nghĩa từ là điều vô
cùng quan trọng trong việc học tiếng. Vì thế giáo viên không nên
cho học sinh ngồi lặp lại từ quá nhiều lần, điều này dễ làm cho các
em chán và không đem lại hiệu quả cho việc nhớ nghĩa của từ.
Các em sẽ được kiểm tra cách đọc và nghĩa từ kết hợp bằng cách
khuyến khích các cá nhân hoặc các tổ thi xem em nào nói đúng
nghĩa hoặc đọc đúng từ mà giáo viên đưa ra sẽ được tuyên
dương. Đây là một hoạt động gây nhiều hứng thú nhất ở lứa tuổi
của các em.
Lứa tuổi tiểu học là lứa tuổi dễ học theo cái gì sẵn có. Vì thế giáo viên
không nên giải thích nhiều về cấu trúc trong các đơn vị từ. Trong
chương trình tiếng Anh lớp 4, các em học mẫu câu “Would you
like some milk?”. Mặc dù đây là một cấu trúc hoàn chỉnh, nhưng
với chương trình tiếng Anh giao tiếp theo phương pháp chức năng/
ý niệm, thì giáo viên cần xem nó là một đơn vị từ vựng tránh việc
phân tích cấu trúc và chỉ đơn giản giải thích cho các em hiểu nghĩa
của câu này là dùng để “ mời ai một thứ gì” và chỉ cần đưa ra thêm
một số ví dụ nữa là đủ: “ Would you like some water?”, “ Would
you like some ice – cream?” …
- Đôi lúc giáo viên cần phải giải thích sự khác biệt về
của học sinh tiểu học như: vẽ hình trực tiếp lên bảng
không cần sắc sảo mà chỉ cần bằng những hình que
( stick figures). Hoặc là dùng các đồ vật thật chẳng hạn
như đồ chơi hay là diễn tả bằng hành động….. Sinh
động và sôi nổi hơn nữa giáo viên có thể cho học sinh
bắt chước thực hiện việc vẽ hình, đưa các đồ vật hoặc
làm những hành động cho các từ đã được học. Đây là
những cách mà thật sự thu hút sự tập trung chú ý của
học sinh đồng thời giúp các em nhớ từ lâu hơn.
- Ngoài những phương pháp cụ thể, giáo viên có thể kết
hợp một lúc nhiều kỹ thuật để dạy từ nhưng yêu cầu
thao tác phải nhanh tránh mất thời gian. Ví dụ để dạy từ
“ walking”, sau khi đọc và viết từ lên bảng, giáo viên
nói:
T: Look at the picture. He’s walking. Now, look at me.
I’m walking, too.( bắt chước hành động đang đi).
Walking, walking. It’s an action. Repeat. Walking.
Sts: walking
T: Good. St A, what does “ walking” mean in
Vietnamese?
Sts: đang đi bộ
3. Practice ( Luyện tập):
- Sau khi học sinh đã hiểu nghĩa từ giáo viên có thể cho
học sinh luyện tập bằng cách làm một số bài tập để các
em hiểu rõ thêm cách dùng từ qua các hoạt động trong
lớp đồng thời giúp học sinh rèn luyện thêm một số kỹ