MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với cách tiếp cận nào, con người và vũ khí cũng luôn luôn là hai yếu tố cơ bản
tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và sức mạnh quân sự quốc gia, cơ sở để
giành thắng lợi trong chiến tranh. Vì thế, việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ
giữa con người và vũ khí là một vấn đề lý luận và thực tiễnquan trọng của quá trình
xây dựng quân đội và sức mạnh quân sự quốc gia.
Trong thế giới ngày nay, xu thế hoà bình, hợp tác phát triển đan xen với đấu tranh
giai cấp, đấu tranh dân tộc quyết liệt, tình hình tiếp tục diễn biến phức tạp, khó
lường. Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang vẫn tồn tại với tính chất ngày càng
phức tạp. Khoa học công nghệ, trong đó có Khoa học công nghệ quân sự ngày càng
phát triển mạnh mẽ, dẫn tới sự ra đời vũ khí công nghệ cao, làm thay đổi nhiều quan
niệm về cách thức chuẩn bị và tiến hành chiến tranh truyền thống. Cuộc chiến tranh
xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao do Mỹ và đồng minh tiến hành ở I-rắc (1991),
ở Nam Tư (1999) và ở Áp-ga-ni-xtan (từ tháng 11 năm 2001) đã và đang đặt ra
những vấn đề rất cấp thiết trong lý luận về mối quan hệ giữa con người và vũ khí.
Kết cục của tất cả các cuộc chiến tranh và xung đột nói trên đã để lại những nhận
thức và những cách lý giải khác nhau, thậm chí đối lập nhau, của các nhà nghiên
cứu quân sự. Nhận thức về mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong các trường
hợp đó sẽ có tác động không nhỏ tới sự thành bại của các cuộc chiến tranh bảo vệ
nền độc lập của các dân tộc trong tương lai.
Việc Mỹ một lần nữa ngang nhiên tuyên bố tiến công xâm lược I-rắc, đồng thời,
tăng cường chạy đua vũ trang, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của nhiều
quốc gia, đưa quân vào một số nước trên thế giới, đã làm cho việc chuẩn bị đất nước
ta sẵn sàng đánh thắng cuộc tiến công xâm lược hằng vũ khí công nghệ cao đã trở
thành nhu cầu trực tiếp. Do vậy, một mặt cần quán triệt sâu sắc, tạo nên sự nhất trí
trong nhân dân và quân đội đối với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và của Đảng ta về mối quan hệ giữa con người và vũ khí; mặt khác
cần khắc phục tư tưởng, quan điểm cường điệu vũ khí công nghệ cao, tâm lý lo sợ,
Trung tâm Thông tin khoa học - công nghệ - môi trường, Bộ Quốc phòng tháng
11/1999... đều nhằm giới thiệu và đưa ra những nhận xét bước đầu về cuộc chiến
tranh Cô-xô-vô (1999). Trên tạp chí Khoa học quân sự số 1 (19) tháng 1/2001 có bài
viết của Võ Văn Bá về "Mối quan hệ giữa công nghệ và việc tiến hành chiến tranh".
Những công trình của các tác giả Việt Nam chủ yếu nghiên cứu bản chất, vai trò
của mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
nhân dân Việt Nam hoặc nội dung, biện pháp xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần
cho quân đội và nhân dân trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Tuy vậy, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách hệ thống, cơ bản và trực
tiếp về mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa chống cuộc tiến công bằng vũ khí công nghệ cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của Iuận án:
Nghiên cứu làm rõ thực chất mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chống cuộc tiến công bằng vũ khí
công nghệ cao, đề xuất yêu cầu và các giải pháp cơ bản nhằm giải quyết đúng đắn
mối quan hệ giữa con người và vũ khí nếu cuộc chiến tranh đó xảy ra.
Nhiệm vụ của luận án:
- Luận giải mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh và những đặc
điểm của nó trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chống
cuộc tiến công bằng vũ khí công nghệ cao.
- Phân tích sự tác động của cuộc tiến công bằng vũ khí công nghệ cao đến mối
quan hệ giữa con người và vũ khí và những yêu cầu mới đối với việc giải quyết mối
quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa chống cuộc tiến công bằng vũ khí công nghệ cao.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, ba chương (7 tiết), kết luận, danh mục công trình
khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục.
Chương 1
THỰC CHẤT MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ VŨ KHÍ TRONG
CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CHỐNG CUỘC TIẾN CÔNG BẰNG VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO
1.1 Mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh và những nét
mới của nó trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao
1.1.1. Khái niệm về mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh
Chiến tranh là một hiện tượng xã hội - chính trị có nhiều mối quan hệ phức hợp,
trong đó mối quan hệ giữa con người và vũ khí là một trong các mối quan hệ cơ bản.
Có nhiều cách khái quát về mối quan hệ này. Theo chúng tôi, mối quan hệ giữa con
người và vũ khí trong chiến tranh cần được tiếp cận từ sự thống nhất, tương tác
giữa con người với vũ khí nhằm tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù, bảo vệ lợi ích
của một giai cấp, nhà nước, dân tộc nhất định.
Con người trong mối quan hệ với vũ khí trước hết là những cá nhân hiện thực,
những thực thể xã hội sinh động thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội, giữa
nhân tố vật chất và nhân tố tinh thần cùng toàn bộ hoạt động và ý nghĩa của các hoạt
động ấy. Trong chiến tranh, con người tác động vào vũ khí bằng tất cả phẩm chất,
năng lực, sở trường và sở đoản vốn có của yếu tố người trong mối quan hệ với yếu
tố vũ khí. Con người trong mối quan hệ với vũ khí còn là những tập thể quân sự
gồm các thành viên quan hệ với nhau theo một cơ chế tổ chức quân sự nhất định,
nhằm tạo nên sự thống nhất về nhận thức và hành động trong quá trình sử dụng vũ
khí để đạt được mục đích hoạt động của cả tập thể. Song, dù là cá nhân hay tập thể
đợt tác chiến, chiến dịch chiến cuộc...”[9, tr. 119] và tổng thể các cách thức, thủ
đoạn biện pháp sử dụng con người, vũ khí để đánh địch. Tuy nhiên, nói tới phương
thức tác chiến chủ yếu là đề cập đến tổng thể các hình thức, quy mô, cách thức, biện
pháp sử dụng con người, vũ khí trong sự kết hợp theo một phương thức nào đó để
đánh địch phù hợp với những nguyên tắc tác chiến nhất định; còn nói đến phương
thức kết hợp con người và vũ khí chủ yếu là đề cập đến tổng thể các hình thức, cách
thức biện pháp để tạo ra những điều kiện và động lực nhằm duy trì, gia tăng sự liên
kết, tương tác giữa con người và vũ khí, từ đó phát huy cao nhất sức mạnh của
chúng trong chiến tranh.
Sự ra đời, vận động, biến đổi của phương thức tác chiến cũng như phương thức
kết hợp con người và vũ khí phụ thuộc có tính quyết định vào số lượng, chất lượng
con người, vũ khí. Sự biến đổi của số lượng, chất lượng con người, vũ khí đến một
mức độ nào đó buộc phương thức tác chiến phải thay đổi theo. Song đến lượt nói
phương thức tác chiến cũng tác động trở lại rất lớn đến số lượng, chất lượng con
người, vũ khí. Phương thức tác chiến phù hợp sẽ thúc đẩy số lượng, chất lượng con
người, vũ khí phát triển, theo đó kết quả đấu tranh vũ trang được củng cố, tăng
cường và ngược lại. Xét dưới góc độ phương pháp luận, đây là sự phù hợp trong sự
thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, giữa xu hướng có tính ổn định tương
đối của phương thức tác chiến với xu hướng thường xuyên biến đổi của số lượng,
chất lượng con người, vũ khí trong chiến tranh, và do đó, với phương thức kết hợp
con người và vũ khí. Sự phù hợp luôn có xu hướng bị phá vỡ, và bản thân nó cũng
là quá trình thường xuyên vận động biện chứng từ phù hợp đến không phù hợp và
đến phù hợp cao hơn.
Có nhiều phạm vi và cấp độ phù hợp khác nhau của phương thức tác chiến với
phương thức kết hợp con người và vũ khí - lý luận và thực tiễn đã chỉ rõ: ngoài
phạm vi và cấp độ chung, sự phù hợp giữa phương thức tác chiến với phương thức
yếu tố hợp thành sức mạnh chiến đấu của LLVT.
Không chỉ đóng vai trò chủ thể sáng tạo ra vũ khí, mà trong chiến tranh, vai trò
chủ thể của con người đối với vũ khí còn được thể hiện trên rất nhiều nội dung.
Trước hết, con người điều khiển, định hướng, kiểm soát mọi quá trình sử dụng vũ
khí như một quá trình thống nhất giữa mặt kỹ thuật - quân sự và mặt chính trị - xã
hội, ở góc độ kỹ thuật - quân sự, trình độ, tính chất của quá trình điều khiển, sử dụng
vũ khí trong chiến tranh phụ thuộc trực tiếp vào trình độ KHCN, nên mỗi trình độ
KHCN sẽ có phương thức điều khiển vũ khí riêng. Về mặt xã hội, điều khiển vũ khí
thực chất là quá trình định hướng việc sử dụng vũ khí cho mục đích chiến thắng kẻ
thù, là mặt thể hiện tập trung nhất vai trò của con người đối với vũ khí trong chiến
tranh. Như vậy, nếu như về mặt kỹ thuật, việc điều khiển trực tiếp vũ khí ngày càng
được chuyển giao cho các phương tiện kỹ thuật và vai trò con người ngày càng trở
nên gián tiếp, thì về mặt chính trị - xã hội, chỉ có con người mới xác định được mục
đích sử dụng vũ khí mà không thể có bất cứ một phương tiện kỹ thuật nào thay thế
được.
Vai trò của con người đối với vũ khí trong chiến tranh còn được thể hiện như một
trung tâm điều phối, tiếp nhận, xử lý các Thông tin, hình thành mối liên hệ giữa vũ
khí với các yếu tố khác, duy trì sự cân bằng, ổn định của sức mạnh chiến đấu, tạo
môi trường thuận lợi thúc đẩy vũ khí phát triển. Điều đó khẳng định một trong
những nội dung quan trọng nhất thể hiện vai trò của con người đối với vũ khí là con
người quyết định hiệu quả thực tế của vũ khí. Trước hết, môi trường sử dụng vũ khí
trong chiến tranh là môi trường nguy hiểm, mang tính đối kháng quyết liệt. Đối
tượng mà vũ khí hướng tới huỷ diệt là con người và các phương tiện kỹ thuật của
đối phương. Tất nhiên, đối phương cũng luôn luôn sẵn sàng tìm mọi cách phòng
tránh, đánh trả, làm giảm thiểu, thậm chí triệt tiêu sức mạnh của vũ khí. Đó là đặc
điểm lớn nhất, chi phối hiệu quả sử dụng vũ khí trong chiến tranh. Thứ hai, môi
trường sử dụng vũ khí trong chiến tranh là tổng hoà sự tương tác bên trong và những
gia quân sự hàng đầu thế giới thường xuyên được huy động để nghiên cứu cải tiến
các loại vũ khí. Để đánh bại vũ khí hiện đại cùng những thủ đoạn xảo quyệt và tàn
bạo của địch, dân tộc ta không những dũng cảm, kiên cường, mà còn thông minh,
sáng tạo, từng bước chế tạo và cải tiến vũ khí, đồng thời tạo nên những phương thức
độc đáo kết hợp giữa con người và vũ khí, phù hợp với con người, vũ khí và môi
trường tác chiến của Việt Nam.
Chúng ta đã tạo ra phương thức kết hợp giữa con người Việt Nam với vũ khí ở
nhiều trình độ khác nhau, từ thô sơ, tương đối hiện đại tới hiện đại; thực hiện kết
hợp giữa con người và vũ khí ở nhiều quy mô và không gian khác nhau. Con người
và vũ khí được kết hợp trong các trận đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn; kết hợp ở
trên bộ, trên biển và trên không; ở cả rừng núi, đồng bằng và thành thị; ở tiền tuyến,
hậu phương của ta và cả trong vùng tạm chiếm, hậu phương của địch. Hình thức kết
hợp đa dạng, nội dung kết hợp phong phú đã giúp chúng ta huy động được mọi lực
lượng của toàn dân tộc với tất cả các phương tiện VKTBKT của đất nước, thực hiện
chiến lược tiến công, làm cho địch ở đâu cũng bị đánh, đến đâu cũng bị diệt, luôn
luôn lâm vào thế bị động và buộc phải chấp nhận thất bại hoàn toàn.
Đặc biệt, sự kết hợp chặt chẽ giữa con người Việt Nam với VKTBKT ở nhiều
trình độ khác nhau là một sáng tạo lớn, tạo nên khả năng mới, chất lượng mới của
mối quan hệ. Thứ nhất, trong một đội hình tác chiến, sự kết hợp đó cho phép huy
động được lực lượng chiến đấu đông đảo, bao gồm : dân quân du kích, bộ đội địa
phương, bộ đội chủ lực để hình thành một thế trận liên hoàn, hiểm hóc, vừa có chiều
rộng vừa có chiều sâu; có khả năng đánh địch ở mọi hướng, mọi tầm...; vừa có khả
năng phòng ngự kiên cường, vừa bảo đảm hiệu quả cơ động tiến công địch, tạo nên
lưới lửa vô hình luôn bủa vây quân thù. Thứ hai, việc sáng tạo phương thức kết hợp
vũ khí thô sơ “có nguyên lý hoạt động và cấu tạo đơn giản, thường được chế tạo
bằng các phương pháp thủ công, tận dụng những nguyên liệu sẵn có, khai thác dễ
dàng”[76, tr. 927] với những con người có bản lĩnh chính trị vững vàng, được trang
bị kiến thức KHCN hiện đại sẽ đem lại sức mạnh mới, hiệu quả to lớn đủ khả năng
cho sức một thành mười, mười thành một trăm”[23, tr. 9].
Rõ ràng là, vũ khí chỉ được sử dụng với hiệu quả cao khi nằm trong tay những
con người sung mãn về thể chất và tinh thần, về trí tuệ và mưu lược. Và ngược lại,
hiệu quả của vũ khí sẽ bị hạn chế, thậm chí phản tác dụng nếu những con người sử
dụng nó yếu đuối, hèn kém cả về tư duy và hoạt động, bản lĩnh và tài năng, ý chí và
nghị lực. Thực tiễn của các cuộc chiến tranh gần đây như ở Trung Đông đã chứng
minh rằng, nếu vũ khí ở trong tay những con người hèn nhát nhu nhược thiếu thông
minh sáng tạo thì nhất định hiệu lực của vũ khí sẽ suy giảm, thất bại là khó tránh
khỏi.
Xét đến cùng, con người là chủ thể sáng tạo và sử dụng vũ khí. Song, trong chiến
tranh, vũ khí tác động trở lại rất lớn đến con người. Trước hết, vũ khí là phương tiện
vật chất chủ yếu nhất để đấu tranh vũ trang, để tiến hành hoạt động quân sự. Không
có vũ khí, con người không thể tiêu diệt được kẻ thù, không thể tự bảo vệ được
mình. V.I.Lê nin chỉ rõ: “Một quân đội giỏi nhất, những người trung thành nhất
cũng đều lập tức bị kẻ thù tiêu diệt nếu họ không được vũ trang đầy đủ” [39, tr.
497]. Mặt khác, con người, với tư cách là nhân tố trung tâm điều khiển, xử lý, liên
kết, duy trì các mối liên hệ trong sức mạnh chiến đấu, cũng chỉ có thể điều khiển,
định hướng, kiểm soát được vũ khí trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nó,
đặc biệt là nhận thức về vai trò tác động trở lại của vũ khí đối với chính con người.
Sự tác động của vũ khí đối với con người trong chiến tranh biểu hiện trên nhiều
góc độ khác nhau. Vũ khí trở thành một trong những tiền đề khách quan cơ bản để
xác lập phương thức tư duy và hành động chiến đấu của con người. Số lượng, chất
lượng của vũ khí là căn cứ của tư duy lý luận chiến lược, chiến dịch, chiến thuật và
các hoạt động chiến đấu, bồi kỹ thuật quân sự bao giờ cũng là cơ sở của nghệ thuật
quân sự. Việc hoạch định phương thức tiến hành chiến tranh, xác định nội dung và
hình thức của chiến dịch, của một trận chiến đấu đều có cơ sở khách quan từ thực
trạng số lượng, chất lượng và xu thế vận động, biến đổi của VKTBKT. Vũ khí
không chỉ tác động đến nhận thức và hoạt động tổng hợp của con người trong chiến
của con người đối với vũ khí. Bước nhảy vọt đó phụ thuộc vào mức độ giải phóng
con người của từng cuộc cách mạng cụ thể. Điều này có thể thấy rất rõ đối với cuộc
cách mạng vô sản. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin, bằng thế giới
quan, phương pháp luận khoa học đã dự đoán một cách đúng đắn rằng, với khả năng
giải phóng con người ở mức cao nhất, triệt để nhất, cách mạng vô sản sau khi giành
được thắng lợi sẽ giúp giai cấp vô sản có một phương thức tiến hành chiến tranh ưu
việt hơn hẳn giai cấp tư sản. Thực tiễn của cuộc nội chiến cách mạng ở nước Nga
xô-viết ( 1918 - 1922) diễn ra sau Cách mạng Tháng Mười (1917) cũng như cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta diễn ra sau Cách mạng
Tháng Tám (1945) đã chứng minh điều đó.
1.1.2. Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự vận động của mối quan hệ con
người và vũ khí trong chiến tranh
Như mọi sự vật, hiện tượng khác mối quan hệ giữa con người và vũ khí cũng
luôn luôn vận động, phát triển. Sự vận động đó khởi đầu từ nhu cầu của con người
dẫn đến sự phát triển, hoàn thiện của VKTBKT. Và từ sự phát triển của VKTBKT
lại làm bộc lộ sự hạn chế, bất cập về phẩm chất, năng lực của con người, buộc con
người phải hoàn thiện phẩm, chất năng lực chiến đấu của mình. Sự phát triển của
hai nhân tố này tới một giới hạn nhất định sẽ mâu thuẫn với phương thức kết hợp
giữa con người và vũ khí về phương thức tác chiến hiện có. Sự vận động của mâu
thuẫn đó chính là nguồn gốc, động lực của sự phát triển của mối quan hệ giữa con
người và vũ khí trong chiến tranh.
Tuy nhiên, sự vận động, phát triển của mối quan hệ giữa con người và vũ khí
không chỉ phụ thuộc vào mâu thuẫn ấy, mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác.
Những nhân tố thường xuyên tác động tới con người, vũ khí, và phương thức kết
hợp chúng từ đó chi phối sự vận động, phát triển của mối quan hệ giữa con người và
vũ khí. Vì thế, việc nghiên cứu những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự vận động,
đều xác định mục đích tiến hành chiến tranh, với tư cách là hình ảnh một kết quả
được hình dung trước của chiến tranh mà toàn bộ hoạt động của giai cấp, nhà nước
hướng tới nhằm biến nó thành hiện thực. Mục đích tiến hành chiến tranh phản ánh
những điều kiện khách quan nhất định, trong đó cái bản chất nhất chính là lợi ích cơ
bản, lâu dài, có ý nghĩa sống còn của giai cấp, nhà nước, dân tộc. Vì thế mục đích
tiến hành chiến tranh không phải là động thái tư tưởng mang tính tự phát, nhất thời
mà là động lực cơ bản thường xuyên thúc đẩy mọi hoạt động của các giai cấp trong
cả thời bình và thời chiến, trong đó có hoạt động nhằm giải quyết mối quan hệ giữa
con người và vũ khí. Với ý nghĩa này, mục đích tiến hành chiến tranh như “một quy
luật”, “quyết định phương thức hành động” của các bên tham chiến và “bắt ý chí của
họ phải phục tùng nó”[42, tr. 267].
Mục đích tiến hành chiến tranh tác động đến mối quan hệ giữa con người và vũ
khí chủ yếu được thể hiện dưới hai hình thức. Thứ nhất, mục đích tiến hành chiến
tranh là động lực thúc đẩy chính chủ thể đã sinh ra nó, tức là giai cấp thống trị, phải
nhận thức và xử lý đúng về mối quan hệ giữa con người và vũ khí. Thứ hai, mục
đích tiến hành chiến tranh của giai cấp, nhà nước khi được chuyển hoá thành mục
đích của cả quốc gia, dân tộc sẽ là nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy toàn thể
quần chúng nhân dân tham gia chiến tranh, từ đó làm chuyển hoá vai trò của con
người và vũ khí trong chiến tranh. Cho nên, khả năng tác động của mục đích tiến
hành chiến tranh đến mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh phụ
thuộc trực tiếp vào tính chất xã hội của cuộc chiến tranh, cũng như hiệu quả các hoạt
động tuyên truyền, giáo dục trong quân đội và nhân dân về mục đích đó. Song, tính
chất tiến bộ hay phản động của mục đích tiến hành chiến tranh bao giờ cũng ảnh
hưởng lớn nhất đến sự tương tác giữa con người và vũ khí trong chiến tranh.
Mục đích tiến hành chiến tranh tiến bộ luôn luôn phù hợp với quy luật phát triển
tất yếu của lịch sử, với xu thế của thời đại và với nguyện vọng chính đáng của nhân
dân lao động. Cho nên, nó không chỉ đáp ứng lợi ích của những người lãnh đạo