MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ TỪ 24 đến 36 THÁNG CÓ THÓI QUEN TỐT TRONG ĂN UỐNG Ở TRƯỜNG MẦM NON NGA THỦY - Pdf 40

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HÓA
PHÒNG GD VÀ ĐẠO TẠO NGA SƠN (TRƯỜNG MẦM NON NGA THỦY)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ TỪ 24- 36
THÁNG CÓ THÓI QUEN TỐT TRONG ĂN UỐNG
Ở TRƯỜNG MẦM NON NGA THỦY

Người thực hiện: Nghiêm Thị Duyên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường mầm non Nga Thủy
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA NĂM 2015
1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trẻ em hôm nay- Thế giới ngày mai. Trẻ em là hạnh phúc của mỗi gia đình,
là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được hưởng sự quan tâm, chăm sóc,
nuôi dưỡng và giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội. Để có một tương lai
tươi sáng thì ngay từ tuổi ấu thơ trẻ phải được hưởng nền giáo dục phù hợp hiện
đại và toàn diện về mọi mặt. Trong đó giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên
trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- Trẻ đến trường được tham gia các hoạt động. Qua đó trẻ được tiếp thu lĩnh
hội các kiến thức khoa học cơ bản từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó.
Nhằm hình thành và phát triển toàn diện về nhân cách ban đầu của trẻ và phát
triển bốn mặt lĩnh vực của nhà trẻ như: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm
và kĩ năng xã hội.

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Như chúng ta đã biết “Ăn uống là một trong các bản năng quan trọng nhất
của con người và các loài động vật khác”. Ăn uống cần thiết cho sức khỏe của
con người. Nhờ các phát hiện của dinh dưỡng học, người ta biết trong các thức
ăn có chứa rất nhiều thành phần dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể con người
đó là protein, lopit, gluxit, vitamin, chất khoáng và nước…sự thiếu hụt một
trong các chất khoáng này có thể gây lên bệnh tật thậm chí chết người- “Ăn
uống là nhu cầu không thể thiếu với mỗi con người”. Bởi thế trong chế độ sinh
hoạt hàng ngày của trẻ mầm non không thể thiếu chương trình chăm sóc giáo
dục trẻ. Việc tổ chức chế độ ăn uống hợp lí có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
sự phát triển bình thường của một đứa trẻ, nó còn đảm bảo sự sống, sự phát triển
của các tế bào trong cơ thể trẻ…
Vì thế chẳng có một tế bào nào trong cơ thể dám từ chối thức ăn. Không
những thế thức ăn còn cung cấp những chất cần thiết để cơ thể lớn lên và phát
triển. Từ bào thai lớn lên thành em bé rồi thành người lớn, không thể trông cậy
gì khác ngoài thức ăn. Nói chung tất cả các cơ quan trong cơ thể đều nhờ đến
thức ăn để tồn tại và phát triển.
Để trẻ có cảm giác muốn ăn, ăn ngon miệng thì điều trước tiên của chúng ta
là thành lập cho trẻ phản xạ ăn uống có điều kiện, phụ thuộc vào sự ngon miệng
của trẻ, nghĩa là phụ thuộc vào sự hưng phấn của trung khu thần kinh ăn uống.
Nếu như ta cho trẻ ăn kẹo trước bữa ăn thì sự ngon miệng sẽ bị hạ thấp theo cơ
chế phản xạ. Như vậy muốn tạo cảm giác muốn ăn, ăn ngon miệng thì điều trước
tiên cần hình thành những thói quen ăn uống. Đặc biệt cần hình thành thói quen
ăn uống đúng giờ giấc, theo chế độ sinh hoạt một ngày ở trường mầm non. Khi
thói quen đã có thì chỉ cần đến giờ ăn quen thuộc các cơ quan tiêu hóa bắt đầu
3


tiết dịch trước khi ăn. Khi đó trẻ có cảm giác muốn ăn và khi được ăn sẽ ngon
miệng, đồng thời thức ăn sẽ được tiêu hóa nhanh hấp thụ tốt. Bên cạnh đó còn

học tập, sinh hoạt, ăn uống đảm bảo vệ sinh. Trường trang bị nhà bếp một chiều
4


rộng rãi, thoáng mát, lớp học có chỗ ăn thuận tiện cho cháu sinh hoạt. Trong ăn
uống trẻ đã tự xúc ăn, không bị rơi vãi ra ngoài. Có đồ chơi ngoài trời cho các
cháu vui chơi.
- Có đội ngũ cán bộ giáo viên năng động có kiến thức, tay nghề về kinh
nghiệm giảng dạy, chăm sóc trẻ. Bản thân được nhà trường phân công trực tiếp
chăm sóc trẻ 24- 36 tháng, có trình độ chuyên môn trên chuẩn, có kinh nghiệm
nuôi dạy trẻ. Bên cạnh đó được sự quan tâm, giúp đỡ từ Ban giám hiệu nhà
trường, chị em đồng nghiệp, sự ủng hộ của gia đình phụ huynh, đặc biệt là tình
cảm yêu quí của các bé dành cho tôi.
- Phụ huynh học sinh quan tâm và đã cho con em ra lớp đúng độ tuổi.
- Nhà trường đã phân trẻ theo đúng độ tuổi nên tạo điều kiện thuận lợi cho
giáo viên đứng lớp trong quá trình giảng dạy, chăm sóc.
2. Khó khăn:
- Về cơ sở vật chất trường đang còn thiếu một số phòng chức năng như
phòng thể chất, phòng âm nhạc, phòng y tế, phòng hiệu bộ, đồ chơi ngoài trời và
các trang thiết bị hiện đại.
- Giáo viên mặc dù đã rất sáng tạo trong dạy trẻ nhưng việc vận dụng các
ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế.
- Một số trẻ đi học chưa đúng độ tuổi, đến 24- 36 tháng mới ra nên nề nếp ăn
uống, vệ sinh còn kém, chưa có ý thức trong khi ăn, chưa có ý thức tự phục vụ
bản thân, chưa tự xúc ăn …
- Là vùng bãi ngang, một số gia đình khó khăn về kinh tế, phải đi làm ăn xa
để con với ông bà, nên đã không có điều kiện quan tâm đến việc ăn uống của
con cái. Dó đó một số trẻ còn biếng ăn, ngậm cơm, dùng tay bốc cơm, trẻ không
hứng thú trong bữa ăn, ăn không ngon miệng.
3. Thực trạng học sinh:

Chiều
cao

Trẻ mắc
bệnh

Trẻ có
thói
quen vệ
sinh rửa
tay bằng

phòng
dưới vòi
nước
chảy
trước và
sau khi
ăn, sau
khi đi vệ
sinh.

Trẻ có
thói
quen
ngồi
đúng qui
định (Kí
hiệu ghế
của trẻ)

hiệu của
mình và
cất cốc
đúng nơi
qui định

K
B
T

K
T TB
C

T
K
M

Đ



Đ



Đ




5

17

4

86

14

10

90

76

24

76

24

81

19

76

24


Ăn xong biết cất bát thìa, ngồi ăn gọn gàng, không đùa giỡn nói chuyện trong
khi ăn. Ăn xong biết lau mặt đúng cách và thường xuyên cho trẻ thực hiện hàng
ngày, đúng giờ.
Ví dụ: a, Thói quen rửa tay dưới vòi nước chảy: Để hình thành được cho trẻ
thói quen rửa tay dưới vòi nước chảy thì hàng ngày vào trước bữa ăn tôi thường
đặt ra những câu hỏi trẻ: Trước khi ăn các con phải làm gì? “Rửa tay, rửa mặt
ạ”
Cô nhắc lại: “Đúng rồi các con ạ, phải rửa tay, rửa mặt trước khi ăn vì sau mỗi
buổi học và buổi chơi tay cầm vào đồ dùng, đồ chơi nên bị nhiễm vi khuẩn xong
lại bôi lên mặt, lên tay rất bẩn. Chính vì thế phải rửa tay, rửa mặt trước khi ăn
nếu không rất dễ bị nhiễm bệnh đấy các con ạ!
+ Cho trẻ thực hiện thao tác rửa tay theo 6 bước.
- Làm ướt bàn tay, lấy 3- 5ml dung dịch rửa tay hoặc chà bánh xà bông lên
lòng và mu bàn tay. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho xà bông dàn đều.
- Đặt lòng và các ngón của bàn tay này lên mu bàn tay kia và chà sạch mu
bàn tay và kẽ các ngón tay (từng bên).
- Đặt lòng bàn tay vào nhau, chà sạch lòng bàn tay và kẽ ngón tay.
- Móc hai bàn tay vào nhau và chà sạch khe các ngón tay.
- Dùng bàn tay này xoay và chà sạch các ngón tay bàn tay kia và ngược lại.
7


- Chụm đầu các ngón tay của bàn tay này và chà sạch đầu các ngón tay vào
lòng bàn tay kia và ngược lại. Rửa sạch tay dưới vòi nước, sau đó dùng
khăn mặt thấm khô tay. Thời gian vệ sinh tay tối thiểu cho cả quy trình là
30 giây.

Hình 1: Hình ảnh rửa tay, rửa mặt của các bé
b, Thói quen trong khi uống:
+ Tập cho trẻ các nề nếp thói quen, ý thức tự phục vụ, như trẻ biết lấy cốc



đón bữa ăn đến và cảm thấy ăn ngon miệng với những món ăn trong ngày ở
trường cũng như ở nhà. Kết quả đạt được 21/ 21= 100 %.
2. Biện pháp 2: Xây dựng môi trường, tạo không khí, tâm trạng vui vẻ
cho trẻ ăn uống ngon miệng.
- Xây dựng môi trường, bố trí chỗ ăn cũng rất quan trọng trong việc tạo nề
nếp ăn uống ngon miệng cho trẻ. Trẻ ăn phải được ngồi ăn thoải mái, mát mẻ.
Vì thế góc ăn tôi chọn chỗ rộng rãi, trang trí tranh ảnh như ảnh các bé đang ăn
cơm, lọ hoa, rau, quả…

Hình 3: Hình ảnh môi trường lớp học
Khi kê bàn ăn các bàn cách nhau một khoảng trống để có lối đi, để trẻ dễ di
chuyển, đi lại…
+ Mỗi bàn ăn có 6 trẻ, trên mỗi bàn có một đĩa để thìa (6 cái), đĩa đựng khăn
ăn (6 cái) 2 bát nhỏ đựng thức ăn thừa.
+ Xếp ghế cho mỗi bàn ăn, mỗi bàn 6 ghế, hai bên mỗi bên hai cái và hai đầu
mỗi đầu một cái.

Hình 4: Hình ảnh tạo không khí giờ ăn
10


Cách tổ chức bữa ăn cho trẻ góp phần làm trẻ hứng thú, ngon miệng với bữa
ăn và dễ dàng ăn hết suất ở trường lớp. Điều mà giáo viên chúng ta cần phải làm
trong bữa ăn là tạo môi trường, không khí, tâm trạng ngon miệng cho trẻ như:
- Tạo không khí vui vẻ cho bữa ăn qua nét mặt, cử chỉ lời nói của cô khi
chăm sóc cho trẻ ăn.
Khi trẻ ngồi bàn chờ cô chia ăn thì cô cho trẻ đọc thơ, kể chuyện về giờ ăn,
về các chất dinh dưỡng cho trẻ hào hứng.

gắng ăn hết khẩu phần, giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi
trường…
3. Biện pháp 3: Rèn thói quen ăn uống có giờ giấc, ăn uống đúng vị trí,
số lượng, sắp xếp hợp lí số bữa ăn mỗi ngày.
Muốn tạo cảm giác ăn uống ngon miệng ở trẻ tốt thì không gì khác hơn là cô
giáo, phụ huynh, cần rèn cho trẻ thói quen ăn uống có giờ giấc tức là chúng ta
cần hình thành cho trẻ phản xạ có điều kiện ăn uống về thời gian. Đó là thực
hiện đúng chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ “Giờ nào việc nấy” không được
làm xáo trộn giờ giấc ăn uống của trẻ. Khi phản xạ có điều kiện ăn uống được
thành lập một các bền vững thì chỉ đến giờ ăn quen thuộc các cơ quan tiêu hóa
bắt đầu tiết dịch trước khi ăn. Khi đó ta có cảm giác muốn ăn và khi được ăn sẽ
ăn ngon miệng, đồng thời thức ăn sẽ được tiêu hóa nhanh.
Bên cạnh đó tôi còn phối hợp các cô giáo trong tổ nuôi chế biến món ăn,
khẩu phần ăn hợp lí, cân đối giữa thành phần dinh dưỡng phù hợp với khả năng
tiêu hóa, khẩu vị của trẻ. Ngoài ra tôi còn phối hợp với phụ huynh để có những
ngày nghỉ ở nhà phụ huynh cũng làm theo thời gian biểu ở lớp. Có như vậy quá
trình rèn luyện của trẻ không bị ngắt quãng, ngắt giai đoạn. Từ đó giúp trẻ có
thói quen ăn uống, cảm giác ăn ngon miệng trong bữa ăn, ăn hết xuất đạt kết quả
tốt.

12


- Để biện pháp này có hiệu quả tôi đã phối hợp với giáo viên trong lớp
nghiêm túc thực hiện tốt chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ (không cắt xén thay
đổi tùy tiện). Thực hiện đúng thời gian theo qui định.
- Đúng 10h là trẻ và cô chuẩn bị giờ ăn, đi làm vệ sinh trước khi ăn cùng với
trẻ.
- Đúng 10h 20 phút là trẻ được ăn cơm trưa, trẻ ra bàn ngồi ngay ngắn và
cùng xúc cơm ăn cùng các bạn.

phẩm như: gạo, khoai, thịt, trứng, sữa, rau, biết cần phải ăn những thực phẩm
tươi sạch mới tốt cho sức khỏe.
Để đạt được mục tiêu trên hằng ngày thông qua các chủ đề học (Gia đình,
Động vật, Thực vật…) và qua những giờ học dinh dưỡng, giờ chơi góc tôi đã
dạy cho trẻ hiểu được các nhóm thực phẩm nấu ăn hằng ngày. Trẻ biết được “Bé
cần gì để lớn lên và khỏe mạnh”. Biết được cần được ăn uống để sống để phát
triển, để làm việc, học tập, vui chơi. Khi đã hiểu biết về thông tin dinh dưỡng trẻ
biết ăn uống, vệ sinh, ăn đầy đủ chất, ăn nhiều loại thức ăn, không kén chọn thức
ăn, ăn hết suất.
Ví dụ: Cô cho trẻ xem những hình ảnh quá trình lớn lên của bé (bé mới đẻ, bé
mới biết ngồi, bé biết đi, bé lớn…) trò chuyện với trẻ về những thức ăn của bé.
Nhờ được chăm sóc , ăn uống đầy đủ các chất mà bé lớn lên khỏe mạnh. Cô cho
trẻ xem các hình ảnh lớn lên của bé cho trẻ gọi tên thực phẩm cần cho bé, tên
nhóm thực phẩm.

14


Sữa

Bột

Cháo

Cơm

Hình 7: Quá trình lớn lên của bé
Muốn cho trẻ thông minh, chóng lớn, cần giáo dục trẻ ăn hết suất của mình,
ăn đủ chất, đủ lượng thì mới khỏe mạnh, thông minh, học giỏi, sau này tương lai
sẽ tốt đẹp. Hằng ngày trong các bữa ăn tôi luôn chú ý giáo dục dinh dưỡng cho

đa số trẻ phát triển khỏe mạnh, cân dối và thông minh.
Kết quả đạt được của thói quen này là: 21/ 21= 100%.
6. Biện pháp 6: Phối hợp với phụ huynh rèn luyện nề nếp thói quen nâng
cao chất lượng bữa ăn, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.
Để thực hiện tốt các biện pháp rèn thói quen tốt trong ăn uống cho trẻ 24-36
tháng. Ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã tham mưu với lãnh đạo nhà trường, tổ
nuôi dưỡng thay đổi thực đơn ăn và chế biến các món ăn phù hợp với độ tuổi
của trẻ.
- Việc phối kết hợp trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ là quan
trọng. Vì vậy để đạt được kết quả cao tôi đã xây xây dựng kế hoạch phối hợp
với phụ huynh thống nhất nội dung cùng chăm sóc con em mình theo khoa học.
Tránh tình trạng cô dạy thế này, mẹ dạy thế kia.
- Ngay từ đầu năm học tôi đã thành lập hội cha mẹ học sinh để tuyên truyền
về chế độ sinh hoạt một ngày, chế độ giờ giấc ăn uống ở trường lớp cho cha mẹ
học sinh nắm. Dạy cho con em mình thực hiện ở nhà ăn uống đúng giờ như ở
trường. Trẻ có thói quen tốt trong ăn uống, ăn ngon miệng, hết xuất không kén
chọn, bỏ thừa.
16


- Xây dựng kế hoạch về nội dung nề nếp, thói quen, qua đó tổ chức hội cha
mẹ có biện pháp thực hiện. Bầu ra hội trưởng hội phụ huynh của lớp, mỗi năm
học họp phụ huynh ba lần vào đầu năm học, giữa, cuối năm.
Bên cạnh đó giáo viên tuyên truyền những kiến thức, nội dung chăm sóc,
nuôi dưỡng giáo dục trẻ theo khoa học ở bảng tuyên truyền trước cửa lớp…

Hình 9: Hình ảnh góc tuyên truyền lớp
Để trẻ có thói quen ăn uống, ăn ngon miệng trong bữa ăn tôi còn vận động
phụ huynh chú ý tuyệt đối không cho trẻ ăn gì trước giờ ăn như: bánh kẹo, uống
nước ngọt…Vì những trẻ thường xuyên ăn quà hoặc đồ ngọt thì thường thiếu


Chiều

Trẻ

Trẻ có

Trẻ có

Trẻ có

Trẻ ăn

số trẻ nặng

cao

mắc

thói

thói

thói

hết khẩu xong

bệnh

quen vệ


định

nói

định và

dưới vòi (Kí

chuyện,

biết lấy

nước

hiệu

ăn vừa

ca cốc,

chảy

ghế của phải

trước và trẻ)

trong

Trẻ ăn


khi ăn

định

uống

21

Tỉ lệ %

K KSD K KTC TB
BT D BT

T
K
M

Đ



Đ



Đ




0

21

0

21

0

10
0

0

100

0

0

100

100

0

100

0


động theo chủ đề, hằng ngày tạo thói quen tốt trong các bữa ăn của trẻ đem lại
hiệu quả cao.
* Đối với cha mẹ học sinh:
- Cha mẹ của các cháu thấy được mỗi ngày con mình ngoan hơn, có nề nếp
trong ăn uống, bố mẹ, ông bà rất thích và tự hào con mình khỏe mạnh, thông
minh, biết tự ăn uống và có thói quen vệ sinh tốt…
C. KẾT LUẬN:
Qua một thời gian tìm tòi, nghiên cứu các biện pháp thích hợp, lớp tôi đã có
một kết quả thật tốt. Có được kết quả như vậy đó là sự nỗ lực phấn đấu của bản
thân tôi kết hợp với đồng nghiệp, đặc biệt là Ban giám hiệu nhà trường luôn sát
cánh cùng tôi chỉnh sửa những biện pháp, hình thức sao cho phù hợp với khả
năng nhận thức của trẻ. Để có được kết quả như vậy tôi đã rút ra những kinh
nghiệm sau:
1. Trước hết giáo viên phải hiểu rõ việc tạo cho trẻ có thói quen tốt trong ăn
uống là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình tổ chức bữa ăn cho trẻ. Vì vậy
giáo viên luôn phải học hỏi nắm bắt kiến thức ăn uống để từ đó vận dụng các
biện pháp tổ chức bữa ăn, rèn luyện tạo cho trẻ có thói quen nề nếp trong giờ ăn
để tạo thành các phản xạ có điều kiện cho trẻ.
2. Yêu nghề, mến trẻ, tận tụy với công việc của mình, luôn kiên trì, tìm tòi
nghiên cứu các phương pháp, hình thức dạy trẻ phù hợp, có kết quả cao.
3. Luôn tạo môi trường ăn uống tốt, biết tạo tình huống dẫn dắt đến các món
ăn, hấp dẫn tùy vào từng hoàn cảnh, để chào đón các cháu vào bữa ăn góp phần
rất lớn cho trẻ có thói quen tốt trong bữa ăn.
4. Mọi lúc, mọi nơi luôn tổ chức lồng ghép giáo dục, nề nếp, thói quen vệ sinh,
hành vi văn minh trong ăn uống, giáo dục dinh dưỡng, các thực phẩm bằng
nhiều hình thức trò chơi, bài tập và các hoạt động trong ngày cho trẻ. Tạo cho
trẻ có ý thức giữ gìn nề nếp, thói quen, hành vi tốt trong ăn uống, tạo cho trẻ
cảm giác thích ăn, ăn nhiều các món ăn khác nhau và ăn ngon miệng.


21


22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status