ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI
TRƯỜNG MẦM NON KIM THƯ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CHUYÊN ĐỀ PHÁT TRIỂN VẬN ĐỘNG
TẠI TRƯỜNG MẦM NON KIM THƯ”
Tên tác giả: Nguyễn Thúy Nga
Trường mầm non Kim Thư
Lĩnh vực: Quản lý
Cấp học: Mầm non
1
Năm học 2015-2016
PHÒNG GD&ĐT THANH OAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG MẦM NON KIM THƯ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học 2015 – 2016
SƠ YẾU LÝ LỊCH
- Họ và tên : Nguyễn Thúy Nga
- Ngày, tháng, năm sinh : 10/03/1981
- Năm vào nghành: 2002
- Chức vụ : Phó hiệu trưởng
- Đơn vị công tác : Trường mầm non Kim Thư
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát, thực nghiệm
Phạm vi và thời gian thực hiện
Giải quyết vấn đề
Cơ sở lý luận
Thực trạng
Những giải pháp hữu ích
Biện pháp 1
Biện pháp 2
Biện pháp 3
Biện pháp 4
Kết quả thực nghiệm
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Chữ viết tắt trong sáng kiến: Trò chơi vận động
( TCVĐ), Vận động cơ bản( VĐCB)
3
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đề tài: “Một số biện bồi dưỡng giáo viên nâng cao chất lượng chuyên đề phát
triển vận động tại trường mầm nonKim Thư”.
1. Lý do chọn đề tài:
Giáo dục phát triển vận động là một trong những nhiệm vụ của giáo dục
phát triển thể chất, nhằm góp phần phát triển toàn diện cho trẻ mầm non. Dưới góc
đọ sinh lý học, vận động là sự chuyển động của cơ thể con người trong đó có sự
tham gia của hệ cơ, hệ xương và sự điều khiển của hệ thần kinh. Vận động (dù ở
4
mầm non Kim Thư- Thanh Oai- Hà nội” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc
giáo dục của nhà trường đi lên.
2. Mục đích nghiên cứu: Nhằm nâng cao chất lượng chuyên đề phát triển vận
động tại trường mầm non Kim Thư- Thanh Oai- Hà Nội
3. Đối tượng nghiên cứu: Các đồng chí giáo viên thuộc tổ mẫu giáo trong trường.
4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm: Các cháu khối mẫu giáo và giáo viên trường
mầm non Kim Thư
5. Thời gian nghiên cứu: 2 năm từ tháng 8/2014- 5/2016
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận:
Dưới góc độ sinh học, vận động là sự chuyển động của cơ thể con người,
trong đó có sự tham gia của hệ cơ, hệ xương và sự điều khiển của hệ thần kinh.
Đặc điểm đặc trưng của trẻ từ khi sinh ra đến 6 tuổi là sự hoạt động vận động tích
cực của chúng. Nếu trẻ không vận động vung vẩy tay, chân thì cơ, gân, khớp sẽ
kém phát triển và khó phối hợp động tác. Hơn nữa, trẻ em ít hoạt động thì quá trình
trao đổi chất chậm, dạ dày và ruột làm việc yếu hơn, tim và phổi kém phát triển.
Vận động là một trong những nguồn cơ bản để trẻ nhỏ nhận thức thế giới
xung quanh trẻ càng nắm được nhiều động tác và hành vi phong phú thì tiếp xúc
của nó với thế giới càng rộng lớn. Trẻ ở mỗi độ tuổi thì khả năng vận động của trẻ
là khác nhau, trẻ càng nhỏ thì yêu cầu vận động đối với trẻ càng ít và đơn giản,
ngược lại trẻ càng lớn thì mức độ yêu cầu vận động đối với trẻ càng nhiều và mức
độ khó dần, vận động tinh với yêu cầu cao hơn và sự phối hợp vận động trở nên
chính xác hơn.
Do đó nhà sáng lập lý luận giáo dục thể chất ở nước Nga đó là ông
P.Ph.Lexgap, ông cho rằng, cơ sở để lựa chọn bài tập thể chất là tính đến những
đặc điểm giải phẫu sinh lý và tâm lý, mức độ khó dần, đa dạng của các bài tập thể
phòng học, phòng chức năng nên Phòng giáo dục không cho trường tuyển sinh độ
tuổi nhà trẻ ưu tiên cho trẻ trong độ tuổi mẫu giáo được học tại trường, nên không
có lớp nhà trẻ.
- Một số giáo viên còn hạn chế trong việc sáng tạo các động tác tập luyện kết
hợp với nhạc cho trẻ nghe và thực hành tập luyện.
- Lựa chọn nội dung bài tập chưa phù hợp với độ tuổi;
- Một số giáo viên còn học hệ tại chức nên khả năng vận dụng sáng tạo trong
cách dạy chưa cao.
- Phòng hoạt động giáo dục thể chất chưa có nên còn nhiều ảnh hưởng đến việc
cho trẻ làm quen với 1 số hoạt động thể chất.
Diện tích sân trường còn hẹp nên cũng có phần ảnh hưởng đến hoạt động phát
triển vận động cho trẻ.
- 4/8 lớp có ti vi, loa để hỗ trợ cho việc thực hiện chuyên đề PTVĐ.
- Cây xanh, bóng mát sân trường chưa có nên việc thực hiện hoạt động vận động
vui chơi ngoài sân với các đồ chơi ngoài trời không được thường xuyên liên tục.
Do còn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết.
c. Số liệu khảo sát thực tế:
- Về đội ngũ giáo viên:
* Năm học 2014-2015:
- Tổng số: 27 đồng chí.
- Trình độ chuyên môn: + Đại học:
8 đồng chí
+ Trung cấp: 19 đồng chí
* Năm học 2015-2016:
- Tổng số giáo viên:
- Trình độ chuyên môn: + Đại học:
14 đồng chí
+ Trung cấp: 21 đồng chí
- Về nhận thức của giáo viên:
Đa số giáo viên hiểu được mục đích, yêu cầu và phương pháp thực hiện lĩnh
GV thao
giảng
chuyên đề
2014-2015
21
Đ. năm học
2015-2016
26
Đầu năm học 2015-2016
Số
lượng/Tổng
số
Tỷ lệ %
Số lượng/
Tổng số
Tỷ lệ %
184/275
66,9
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
4
19,1
10
47,6
7
33,3
7
thuật thu hút trẻ khi tham gia hoạt động, cách xử lý tình huống sư phạm, tạo môi
trường trong và ngoài nhóm lớp cho trẻ hoạt động nhằm phát huy tính tích cực của
trẻ.
Trước tiên bồi dưỡng cho giáo viên nắm chắc về cấu trúc, phương pháp hướng
dẫn giờ thể dục và thể dục sáng.
* Đối với giờ thể dục: Giáo viên phải nắm được cấu trúc và phương pháp hướng
dẫn như sau:
Giờ thể dục cấu trúc gồm 3 phần: + Khởi động
+ Trọng động
+ Hồi tĩnh
Mỗi phần giải quyết một nhiệm vụ nhất định phù hợp với việc lựa chọn, sắp xếp
bài tập vận động và cách thức tiến hành.
+ Khởi động: Thời gian cho phần khởi động ở mỗi độ tuổi yêu cầu thời gian là
khác nhau: Đối với trẻ 3-4 tuổi từ 2-3 phút, trẻ 4-6 tuổi 3-4 phút. Trong phần khởi
động gồm tập hợp đội hình( Theo đội hình trẻ đã được làm quen như: Hàng ngang,
hang dọc, vòng tròn…)
Phần khởi động của các bé lớp 5 tuổi
Rèn luyện các vận động đi, chạy nhẹ nhàng, đi kết hợp với chạy với tốc độ khác
nhau, đi thường kết hợp với các kiểu đi khác. Kết thúc phần khởi động giáo viên
cho trẻ xếp đội hình để tiện cho việc tập các bài tập phát triển chung( Hàng ngang,
hang dọc, chữ U…
+ Trọng động: Thời gian cho phần trọng động từ 10-15 phút đối với trẻ 3,4 tuổi,
15-20 phút đối với trẻ mẫu giáo lớn.
8
Đây là phần trọng tâm của giờ thể dục, nó có tác dụng nhiều nhất đến sự phát
triển cơ thể của trẻ, tùy theo các loại giờ học mà phần trọng động có cấu trúc gồm 2
hay 3 giai đoạn: Thực hiện bài tập phát triển chung( BTPTC), vận động cơ
mẫu giáo lớn. Giáo viên sử dụng các biện pháp hồi sức, có thể cho trẻ đi chạy nhẹ
nhàng 1-2 vòng, thả lỏng các bắp thịt bị căng thẳng khi tham gia vận động.
* Đối với bài thể dục sáng cho trẻ mẫu giáo: Yêu cầu giáo viên phải nắm được cấu
trúc của thể dục sáng cũng gồm 3 phần: + Khởi động
+ Trọng động
+ Hồi tĩnh
Trong phần khởi động của thể dục sáng thực hiện như thể dục giờ học, nhưng phần
trọng động của thể dục sáng tập các động tác theo trình tự: Hô hấp, Tay-Vai, Chân,
Bụng- lườn, Bật. Thời gian tập của từng độ tuổi là khác nhau: trẻ 3-4 tuổi( 6-7
phút) tập các động tác phát triển chung 3-4 lần bằng nhịp 2, trẻ 4-5 tuổi( 8-9 phút)
tập các động tác phát triển chung 3-4 lần bằng nhịp 4, trẻ 5-6 tuổi( 8-9 phút) tập các
động tác phát triển chung 2 lần 8 nhịp.
Khi tập thể dục sáng giáo viên có thể kết hợp với dụng cụ như: Nơ, vòng, gậy…Và
tập kết hợp với âm nhạc có nội dung chủ đề đang thực hiện
Ví dụ: Với chủ đề “ Thế giới động vật” giáo viên cho trẻ tập theo nhạc bài: “Tiếng
chú gà trống gọi” hoặc với chủ đề “ Nước và các hiện tượng tự nhiên” tập kết hợp
với bài: “Nắng sớm”.
* Hướng dẫn và chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giảng dạy đi từ dễ đến khó từ
đơn giản đến phức tạp sao cho phù hợp với độ tuổi mà mình phụ trách.
Ví dụ: Đối với trẻ 3 tuổi đầu năm giáo viên có thể lựa chọn các VĐCB sau: Đi
trong đường hẹp, đi theo đường dích dắc, Bò theo hướng thẳng, Bò chui qua
cổng…
Cuối năm giáo viên có thể lựa chọn các VĐCB khó hơn như: Ném trúng đích bằng
một tay, Bật xa 20-25cm, Trườn theo đường dích dắc…
* Bồi dưỡng cho giáo viên qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, qua các buổi dự
giờ, kiến tập chuyên đề: Khi tổ chức sinh hoạt tổ tôi cũng chỉ đạo cho tổ trưởng
10
chuyên môn, tổ phó các khối phải xoáy sâu vào những điểm giáo viên trong tổ còn
chức hoạt động phát triển vận động, bình tĩnh, tự tin, linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức
hoạt động.
* Biện pháp 2:Tăng cường sử dụng thiết bị, dụng cụ vận động và tạo môi
trường cho trẻ hoạt động.
Qúa trình giáo dục thể chất cho trẻ không thể có hiệu quả nếu không có sự trợ
giúp của các trang thiết bị, dụng cụ. Thiết bị, dụng cụ thể dục giúp cho các bài tập
thể dục có tác dụng tốt hơn đối với cơ thể trẻ, nó làm tăng hiệu quả các bài tập, vì
bài tập được thực hiện với cường độ và biên độ lớn hơn. Việc sử dụng đa dạng các
dụng cụ khác nhau sẽ có ảnh hưởng đều khắp đến tất cả các bộ phận của cơ thể trẻ.
Do vậy ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu đã chỉ đạo tới tất cả các lớp cùng phối
hợp rà soát những thiết bị, dụng cụ vận động để mua sắm bổ sung bằng nguồn thu
11
tiền đầu năm trang thiết bị đồ dùng 150.000đ/ trẻ/năm do cha mẹ trẻ đóng góp.
Ngoài ra năm học 2014-2015 được sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể, Quỹ
bảo trợ trẻ em Thành phố Hà Nội đã thăm và tặng quà cho nhà trường các thiết bị,
đồ dùng như: Thang leo, thú nhún, đồ chơi hạt muồng…Phục vụ cho chuyên đề
phát triển vận động với tổng trị giá 50 triệu đồng, có thêm những thiết bị phục vụ
cho học và chơi các cháu rất thích chơi và thích đến trường.
Quá trình chuyển các kỹ năng vận động thành kỹ xảo diễn ra nhanh chóng hơn
nếu giáo viên sử dụng những dụng cụ thích hợp vào việc luyện tập cho trẻ.
Ví dụ: Sử dụng ghế thể dục để luyện tập vận động đi cho trẻ, ghế thể dục có tác
dụng tăng độ khó của bài tập, qua đó vận động đi sẽ được củng cố.
Bằng việc chỉ đạo giáo viên các nhóm lớp sử dụng có hiệu quả các thiết bị, dụng cụ,
các tố chất thể lực nhanh, mạnh, khéo, bền cũng được phát triển
Các cháu 4,5 tuổi giao lưu thi “Ném bóng”
Ví dụ: Khi cho tập bài tập “ Tung bóng cho cô, bạn” độ tuổi 3 tuổi sẽ giúp trẻ có
được các tố chất khéo léo và khả năng kết hợp giữa mắt và tay, giúp trẻ có được
Góc vận động bố trí (Đồ dùng, dụng cụ giúp trẻ tập luyện)
Ví dụ: Làm túi cát, quả bông bằng dây ni lông, dây nơ bằng vải vụn…
Do điều kiện diện tích nhà trường trật hẹp vì vậy tôi đã chỉ đạo các đồng chí giáo
viên nhóm lớp thay phiên các lớp cho trẻ ra sân tập thể dục sáng thứ 2,4,6 các lớp
khu 2 tầng, thứ 3,5 các lớp khu 1 tầng với mục đích giúp trẻ được tắm nắng, hít thở
không khí trong lành của buổi sáng. Ngoài ra còn tận dụng những khoảng không
gian trống như hành lang các lớp học dán đề can các vòng tròn, các ô bật và các
đường đi dích dắc…Để trẻ có thể tham gia vận động mọi lúc, mọi nơi.
Giáo viên tận dụng hành lang giúp trẻ vận động mọi lúc, mọi nơi
13
Và tận dụng mảng tường trang trí góc vận động để cho trẻ được xem các hình ảnh
minh họa các vận động nhìn vào hình ảnh trẻ có thể bắt chước các bạn trong ảnh
thực hiện vận động một cách khéo léo, tự tin.
* Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động chơi ngoài trời nhằm tăng cường vận
động cho trẻ.
Không gian chơi ngoài trời có rất nhiều lợi thế cho việc tổ chức các hoạt động
đa dạng tích cực của trẻ. Mặt bằng rộng rãi của sân chơi là nơi trẻ được thoat sức
chạy nhảy, leo trèo, được thỏa mãn nhu cầu vận động mà điều kiện phòng học
không thể đáp ứng, tại đây trẻ được tiếp xúc với thiên nhiên, với nắng, với gió, với
hoa lá, cây cỏ…Trẻ cũng có cơ hội được thấy các hiện tượng diễn ra xung quanh
mà trong lớp không có: Khi là chiếc xe ba bánh chở nước uống cung cấp cho nhà
trường, lúc lại được xem những chiếc xe ô tô con chạy qua cổng trường…Ngoài
trời trẻ có thể thoải mái chơi với cát, nước được chăm sóc tưới cây mà không sợ lỡ
tay làm đổ, bẩn. Được ra sân chơi, trẻ giống như những chú chim sổ lồng bay nhảy
ngó nghiêng các nơi, thử nghịch với thứ này, thứ khác. Cũng có những bạn chỉ
thích ngồi trên lặng yên trên xích đu chăm chú nhìn các bận ồn ào chơi xung
quanh…Do vậy để đảm bảo nâng cao các giờ chơi chơi ngoài trời theo hướng tăng
chơi với cát, lao động chăm sóc cây, vận động tự do…Các trò chơi theo nhóm hoặc
cả lớp góp phần làm nên nội dung hoạt động ngoài trời của trẻ. Để duy trì hứng thú
của trẻ với các TCVĐ mà cũng là duy trì độ tích cực vận động của trẻ, giáo viên
không chỉ biết cách dẫn dắt trẻ vào trò chơi mà còn phải biết cải biên trò chơi khi
việc thực hiện quy tắc và vận động đã trở nên dễ dàng đối với trẻ.
Ví dụ: Trò chơi vận động “ Đi trên ghế thể dục” giáo viên có thể cải biên và nâng
cao lên bằng hình thức “ Đi trên ghế thể dục kết hợp gáng gồng cải biên thành trò
chơi Gánh lúa qua cầu”. Còn riêng đối với trẻ 5-6 tuổi trẻ có thể chỉ cho nhau cách
chơi nên giáo viên có thể phổ biến cách chơi với một số trẻ và trò chơi sẽ như “ vết
dầu loang” mà lan đến những trẻ khác.
* Giáo viên nên tạo cơ hội cho trẻ được vận động tự do với đồ chơi, thiết bị vận
động ngoài trời.
Thiết bị cho trẻ tự do vận động ngoài trời: Cầu trượt, xích đu, thang leo, thú nhún…
Những đồ chơi này được bố trí sao cho tẻ không làm cản trở hoạt động của nhau
khi chơi và giáo viên cũng dễ bao quát trẻ. Lưu ý cần hướng dẫn trẻ sử dụng mỗi
khi có đồ chơi thiết bị mới.
Trẻ chơi với thiết bị ngoài trời
15
Ví dụ: Với bóng có thể chơi bằng nhiều cách như lăn, ném xa, ném trúng đích, tung
hứng…cũng có thể chuyền qua lại với bạn, có thể lăn bóng cho nhau qua gầm ghế.
Tuy nhiên giáo viên cũng cần quan sát để nhắc nhở trẻ không quá say sưa kéo dài
thời gian chơi với một dụng cụ nào đó. Trẻ cần kịp thời thay đổi dụng cụ, đồ chơi
để không vận động quá sức.
Như vậy để tổ chức tốt giờ chơi ngoài trời mà trong đó đặc biệt hướng đến việc
đáp ứng nhu cầu vận động của trẻ nhỏ, những điều kiện giáo viên cần lưu ý đó là:
- Đảm bảo thời gian trong chế độ sinh hoạt,
- Sân chơi với những đồ chơi thiết bị đa dạng, phù hợp,
16
Phần thi đồng diễn thể dục của lớp 5 tuổi A1, A2
Phần thi thứ hai các đội thể hiện tinh thần đồng đội, thực hiện tốt các kỹ năng vận
động cơ bản trong thời gian là một bản nhạc gồm các vận động: Bò chui qua cổng,
bật vào vòng và ném bóng vào rổ. Hội thi đã tạo được sân chơi sôi nổi, hào hứng và
bổ ích cho các cháu, góp phần tạo điều kiện để các cháu phát triển toàn diện cả về
thể chất và tinh thần. Kết thúc hội thi, Ban tổ chức đã trao giải Nhất, nhì, ba cho
các đội đạt thành tích cao trong hội thi.
Phối hợp thực hiện các vận động: Bò chui qua cổng, bật liên tục vào vòng, ném
bóng vào rổ ( Khối 3 tuổi)
Mặt khác ngoài những trò chơi vận động ra thì việc sưu tầm và lựa chọn trò chơi
dân gian cho trẻ theo từng chủ đề là một công việc cần thiết trong quá trình tổ chức
hoạt động giáo dục cho trẻ, có thể tổ chức trong các giờ đón, trả trẻ, hoạt động
chung, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc... Ở mỗi độ tuổi giáo viên nên lựa chọn
những trò chơi dân gian phù hợp với độ tuổi của trẻ, tránh để trẻ chơi quá sức sẽ
ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ. Các trò chơi dân gian giúp trẻ được tham gia tập
17
thể phát huy tính tích cực của trẻ ở các hoạt động trong ngày tôi đã chỉ đạo đến các
lớp đưa nội dung tổ chức các hoạt động giao lưu giữa các lớp trong khối, trong
trường vào các ngày không có hoạt động vận động để tránh sự quá sức đối với trẻ,.
Các trò chơi trong hoạt động giao lưu được xen kẽ trò chơi động và trò chơi tĩnh.
Trò chơi “ Bịt mắt bắt dê” lớp 4 tuổi B1 và Trò chơi “ Ô ăn quan” lớp 5 tuổi
Các trò chơi dân gian manh tính chất tĩnh như “Cắp cua bỏ giỏ”, “ Nu na nu nống”,
“ Cờ lúa ngô”, “ Ô ăn quan”…. Các hoạt động mang tính chất động như trò chơi
động có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đứa trẻ thì các cô giáo phải làm cho
cha mẹ và cộng đồng hiểu về sự cần thiết phải xây dựng các môi trường giáo dục
phát triển vận động phù hợp, an toàn cho trẻ, giúp họ nắm vững các yêu cầu về môi
trường giáo dục phát triển vận động bên trong, bên ngoài lớp học.
Chia sẻ các điều kiện của nhà trường, giúp nhận ra khả năng khác nhau của cha mẹ
và cộng đồng, tao điều kiện cho cha mẹ và cộng đồng tham gia vào việc lập kế
hoạch và thực hiện kế hoạch xây dựng môi trường giáo dục phát triển vận động cho
trẻ.
Ví dụ: Khi lên kế hoạch tháng này, chủ đề này lớp cần những đồ dùng, dụng cụ để
trẻ tập luyện thì giáo viên có thể tuyên truyền với phụ huynh cùng giúp đỡ sưu tầm
những nguyên vật liệu phế thải như: vải vụn, chai nhựa, thùng cattoong… đồ dùng
mà gia đình có nhưng không sử dụng mang đến lớp ủng hộ cho lớp, sau đó giáo
viên nhóm lớp có thể sơn lại cho đẹp tạo điều kiện cho trẻ được tập luyện với đồ
dùng dụng cụ mới.
+ Phối hợp với cha mẹ và cộng đồng tham gia các hoạt động giáo dục phát triển vận
động cho trẻ.
Giáo viên có thể tuyên truyền với các bậc phụ huynh cùng giúp đỡ tập luyện các
vận động ở nhà giúp cơ thể trẻ khỏe mạnh, cơ bắp săn chắc như hoạt động thể dục
buổi sáng gia đình mình cùng tập thể dục sáng kết hợp với bài thơ để trẻ dễ nhớ
động tác mà lại hứng thú tham gia tập luyện.
Ví dụ: Bài thơ “ Bé tập thể dục” giúp trẻ nhớ các động tác bài tập thể dục sáng.
Chuông đồng hồ báo thức
Bé chạy ra ngoài sân
Tập thể dục cùng bố
Hít thở cho thật đều
Hai tay đưa lên cao
Rồi sang ngang bé nhé
Tiếp theo bé chống tay
Quay ngang 90 độ
Động tác chân tiếp nối
Các cô giáo thường xuyên khen ngợi trẻ khuyến khích động viên trẻ để trẻ cố gắng
thực hiện.
Cháu Minh Trí luyện tập một số vận động đơn giản
Để chuyên đề phát triển vận động đạt kết quả tốt tôi đã chỉ đạo giáo viên
nhóm lớp tuyên truyền bằng nhiều hình thức để cha mẹ và cộng đồng tham gia giáo
dục phát triển vận động như thông qua buổi họp phụ huynh đầu năm, gặp gỡ trao
đổi với phụ huynh về tình hình sức khỏe và vận động của trẻ trong giờ đón và trả
trẻ, qua tuyên truyền trên đài phát thanh, góc tuyên truyền của lớp và qua hội thi để
giúp phụ huynh nắm được sự phát triển của con mình để phối hợp với nhà trường
trong việc giáo dục phát triển vận động cho trẻ. Năm học 2015-2016 với sự ủng hộ
nhiệt tình của các bậc phụ huynh và tiền ngân sách của nhà trường, đã đầu tư cho 4
20
lớp có ti vi loa đài để giáo viên sử dụng phục vụ cho giảng dạy. Hiện nay 8/8 lớp
đều có ti vi và có kết nối mạng Internet phục cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
4. Những kết quả đạt được khi thực hiện các biện pháp bồi dưỡng giáo viên
nâng cao chất lượng chuyên đề phát triển vận động tại trường Mầm Non Kim
Thư.
4.1.Đối với phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn:
- Xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện tốt chuyên đề phát triển vận động,
- Bồi dưỡng cho giáo viên nắm chắc về cấu trúc, phương pháp hướng dẫn giờ thể
dục và thể dục sáng,
- Bồi dưỡng cho giáo viên qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, qua các buổi dự giờ,
kiến tập chuyên đề,
- Chỉ đạo giáo viên làm và sử dụng đồ dùng, dụng cụ phát triển vận động hợp lý,
- Chỉ đạo giáo viên lựa chọn các trò chơi vận động, các trò chơi dân gian vào
chương trình giáo dục của lớp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi.
- Tổ chức tốt các hội thi nhằm thực hiện tốt chuyên đề, giúp trẻ tích cực vận động.
- Trẻ hứng thú tham gia tập
185/275
luyện mọi lúc, mọi nơi
Đầu năm học
2015-2016
Số lượng Tỷ lệ
%
Cuối năm học
2015-2016
Số lượng Tỷ lệ %
66,9
227/290
78,3
272/290
93,8
65,8
231/290
79,6
279/290
Loại Tốt
Hoạt
động
21
Đ. năm học
2015-2016
26
Cuối năm học
2015-2016
(Sau khi thực
hiện đề tài)
26
Thao
giảng
Loại Khá
Loại ĐYC
Số
lượng
%
4
15,4
12
46,2
14
53,8
0
0
Qua đối chiếu Bảng thống kê kết quả hội giảng từ năm học 2014 – 2015 đến
đầu năm học 2015-2016 với Bảng thống kê hết quả hội giảng cuối năm học 2015 –
2016 cho thấy tỉ lệ giáo viên được xếp loại Tốt tăng cao so với năm học trước,
không còn giáo viên bị xếp loại Đạt yêu cầu sau khi thực hiện đề tài này.
III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1.Kết luận :
- Muốn chỉ đạo tốt chuyên đề phát triển vận động ở trường mầm non đạt kết quả
trước hết bản thân tôi người phụ trách chuyên môn phải thường xuyên nghiên cứu
tài liệu, nắm vững chương trình mầm non mới, có kế hoạch chỉ đạo cụ thể sát sao
từng tháng, từng tuần, làm tốt công tác tham mưu với lãnh đạo nhà trường;
- Nắm bắt được năng lực chuyên môn của giáo viên để có kế hoạch bồi dưỡng phù
hợp cho từng đối tượng. Tổ chức cho giáo viên đi tham quan học tập ở những đơn
vị điển hình trong huyện và ngoài huyện.
Tác giả
Nguyễn Thúy Nga
Nhận xét đánh giá xếp của Hội đồng khoa học cơ sở
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Chủ tịch hội đồng
(Ký,đóng dấu)
Ý kiến nhận xét đánh giá và xếp loại của Hội đồng khoa học Huyện
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Chủ tịch Hội đồng
(Ký tên, đóng dấu)
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương trình giáo dục mầm non( Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam)
2. Hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong
trường mầm non ( Bộ giáo dục và đào tạo)
3. Tạp chí giáo dục Mầm Non
4. Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới- Nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam.
5. Giáo trình: Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non ( Nhà
xuất bản Đại học sư phạm)