THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng
giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường mầm non”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực quản lý “Một số biện pháp chỉ
đạo giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong
trường mầm non”
3. Tác giả:
- Họ và tên: Trương Thị Toán ( nữ).
- Ngày tháng năm sinh: 10/09/1976
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
- Chức vụ, đơn vị công tác: Phó Hiệu Trưởng Trường Mầm Non Hoa ThámThị Xã Chí Linh – Tỉnh Hải Dương.
- Điện thoại: 0906.15.88.58.
4. Đồng tác giả: Không
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Mầm Non Hoa Thám – Thị Xã Chí
Linh – Tỉnh Hải Dương. Điện thoại: 03203.930.296
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Trường Mầm Non Hoa Thám – Thị Xã Chí
Linh – Tỉnh Hải Dương. Điện thoại: 03203.930.296
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
+ Cơ sở vật chất - Môi trường, trang thiết bị đồ dùng dạy học, đội ngũ giáo
viên, tài liệu, tập san...
+ Điều tra thực trạng về lực lượng đội ngũ giáo viên
+ Đối tượng áp dụng: Giáo viên Trường mầm non Hoa Thám
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Sáng kiến được áp dụng vào việc
nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường Mầm non từ
tháng 9/2014 – Tháng 2/2015.
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Trương Thị Toán
- Có đầy đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị về đồ dùng đồ chơi, nguyên vật
liệu, môi trường...
- Giáo viên trực tiếp giảng dạy tại trường mầm non có trình độ chuyên môn
đạt chuẩn trở lên.
- Đối tượng áp dụng sáng kiến là giáo viên và trẻ các độ tuổi tại trường nơi
tôi phụ trách.
2
3. Nội dung sáng kiến.
Trong nội dung sáng kiến của mình, tôi đã chỉ ra được thực trạng còn tồn tại,
hạn chế của trường, lớp, giáo viên cũng như tầm quan trọng và tính cấp thiết của đề
tài, trên cơ sở đó tôi đã xây dựng và đề xuất 8 biện pháp sau:
Biện pháp 1: Lập kế hoạch và chỉ đạo chuyên đề.
Biện pháp 2: Tăng cường tạo dựng môi trường, cơ sở vật chất, thiết bị đồ
chơi phát triển vận động cho trẻ.
Biện pháp 3: Bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên.
Biện pháp 4: Chỉ đạo đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục
phát triển vận động vào các hoạt động trong ngày.
Biện pháp 5: Lồng ghép thông qua các trò chơi vận động và trò chơi dân
gian
Biện pháp 6: Chỉ đạo lồng ghép GDPTVĐ thông qua hội thi.
Biện pháp 7: Công tác tuyên truyền phối kết hợp giữa gia đình cộng đồng và
nhà trường.
Biện pháp 8: Kiểm tra đánh giá việc thực hiện chuyên đề.
* Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến.
- Trước hết, một trong những lý do tôi lựa chọn nội dung : “Một số biện
pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ
trong trường mầm non”vì đây là một lĩnh vực khá mới mẻ trong nội dung chương
trình giáo dục mầm non. Đặc biệt là một lĩnh vực thuộc chuyên đề của Bộ giáo dục
môi trường, làm đồ dùng đồ chơi, phối hợp phụ huynh, tham gia hội thi hội giảng,
lồng ghép tích hợp vào các hoạt động trong ngày...để từ đó giúp trẻ hoạt động nội
dung này tích cực và hiệu quả hơn.
- Tăng cường nhận thức của phụ huynh về GDPTVĐ, từ đó nâng cao ý thức
trách nhiệm cùng kết hợp với giáo viên và nhà trường GDPTVĐ trẻ được tốt hơn.
- Đặc biệt là giúp giáo viên biết tận dụng nguyên vật liệu sẵn có của địa
phương, của trường, lớp, khả năng của phụ huynh để làm đồ dùng đồ chơi phục vụ
cho hoạt động.
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến.
Khi áp dụng sáng kiến: “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất
lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường mầm non” một cách đồng
bộ, linh hoạt đã mang lại hiệu quả đáng kể: giáo viên chủ động linh hoạt sáng tạo
hơn trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động có tích hợp nội dung
GDPTVĐ một cách có hiệu quả. Qua việc áp dụng hiệu quả đó giúp trẻ phát triển
các tố chất vận động, kiến thức, kỹ năng về vận động. Phụ huynh đã quan tâm, tích
cực phối hợp với giáo viên để rèn kỹ năng cũng như có thái độ đúng đắn về vấn đề
này.
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.
Để công tác chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt hơn nội dung GDPTVĐ, tôi xin
được mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị sau:
- Đối với các cấp quản lý:
4
+ Cung cấp thêm tài liệu, tập san có nội dung về GDPTVĐ để giáo viên tự
học tập và nghiên cứu.
+ Chỉ đạo các trường tổ chức các hội thi tuyên truyền về nội dung GDPTVĐ.
- Đối với cấp trường:
+ Hàng năm cần đầu tư, bổ sung trang thiết bị đồ dùng dạy học, tạo môi
trường cho trẻ được hoạt động.
Trẻ em là niểm hạnh phúc của mọi gia đình, là tương lai của cả dân tộc, việc
bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ là trách nhiệm của mọi người và của toàn xã hội.
Trong độ tuổi mầm non, đây là một thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, thời
điểm này mọi việc đều bắt đầu: bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghĩ, bắt đầu nghe,
nhìn và vận động bằng đôi chân đôi tay của mình...tất cả những cử chỉ đó đều làm
lên những thói quen, kể cả những thói quen xấu. Chính vì vậy, việc chăm sóc trẻ
em ngay những năm đầu đời là việc làm hết sức cần thiết và vô cùng quan trọng bởi
cơ thể trẻ đang phát triển mạnh mẽ, hệ thần kinh, cơ xương hình thành, bộ máy hô
hấp đang hoàn thiện, nếu cơ thể trẻ non yếu dễ bị phát triển lệch lạc, mất cân đối
nếu không được chăm sóc và vận động đúng cách thì có thể gây lên những thiếu sót
mà không thể khắc phục được.
6
1.2. Cơ sở lý luận.
Giáo dục vận động là một trong những nội dung quan trọng không thể thiếu
trong giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ trong chương trình giáo dục Mầm non.
Những nhiệm vụ quan trọng của GDPTVĐ là hình thành cho trẻ sự khéo léo, nhanh
nhẹn, dẻo dai, bền bỉ, biết phối hợp các động tác giữ thăng bằng và kỹ năng định
hướng trong không gian...nhằm bảo vệ vả tăng cường sức khỏe đồng thời giáo dục
cho trẻ phát triển trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần và trong
sáng về đạo đức. Ngày nay khoa học đã chứng minh rằng “ phần lớn những trẻ ít
vận động thì các vận động phối hợp và các chức năng thần kinh thực vật thường
kém phát triển, cơ thể yếu đuối khiến tinh thần trở nên yếu ớt sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến một cơ thể toàn diện của trẻ”.
Chính vì vậy mà Trường MN là nơi nuôi dưỡng những thế hệ đầu đời, những
con người mới của XHCN. Muốn có những đứa trẻ tốt thì phải có một môi trường
nuôi dưỡng giáo dục tốt. Nhận thức rõ tính cấp thiết và tầm quan trọng của
GDPTVĐ đối với trẻ mầm non mà năm học 2014 – 2015 là năm học Bộ giáo dục Sở giáo dục – Phòng Giáo dục triển khai chỉ đạo đi sâu chuyên đề GDPTVĐ thực
hiện ở tất cả các cơ sở giáo dục mầm non trên cả nước.
trong trường Mầm non.
1.7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận - thực tiễn
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn, phân loại giáo viên
- Phương pháp toạ đàm, khảo sát, thống kê đối chiếu
- Phương pháp nghiên cứu tổng kết rút kinh nghiệm
2. Thực trạng của vấn đề.
2.1. Thuận lợi:
- Nhà trường có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo do vậy nhà trường có khuôn
viên tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ hoạt động,
đặc biệt là rất thuận tiện cho việc tôi áp dụng để thực hiện đề tài sáng kiến.
- Được sự kết hợp nhiệt tình của hội phụ huynh học sinh, các đơn vị bộ đội
đóng quân trên địa bàn luôn tạo điều kiện để nhà trường làm tốt công tác xã hội hóa
giáo dục và công tác huy động nguồn lực.
- Trình độ đạt trên chuẩn của giáo viên cao: 100% giáo viên có trình độ đại
học rất thuận tiện cho việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên.
2.2. Hạn chế:
Trong thực tế việc GDPTVĐ cho trẻ tại trường nơi tôi công tác còn thấy một
số hạn chế như:
8
- Hiện nay cơ sở vật chất nhà trường trong những năm qua có sự chuyển
biến rõ rệt, trang thiết bị đồ chơi ngoài trời cũng như đồ dùng đồ chơi trong lớp học
tương đối đầy đủ, xong điều đáng nói ở đây là giáo viên chưa biết:
+ Tận dụng vị trí không gian ngoài trời
+ Tận dụng nguyên vật liệu sẵn có.
+ Tận dụng không gian trong và ngoài lớp học.
+ Đặc biệt là giáo viên chưa biết cách lồng ghép giáo dục phát triển vận động
Số lượng
%
1
8
10
71
3
21
Từ bảng trên cho ta thấy: số giáo viên hiểu sâu sắc về nội dung GDPTVĐ
chiếm tỉ lệ rất thấp 7%, giáo viên hiểu nhưng chưa đầy đủ nội dung chiếm 71%, số
giáo viên không hiểu nội dung còn chiếm 21%. Từ số liệu khảo sát giáo viên ta
9
nhận thấy rằng việc tích hợp lồng ghép nội dung GDPTVĐ vào chương trình
GDMN không mang lại hiệu quả cao.
Bảng 2: Kết quả giảng dạy qua dự giờ giáo viên
Số giáo
viên
14
100
1
7
8
57
5
36
Từ số liệu khảo sát của BGH nhà trường cho thấy kết quả dự giờ đạt loại
giỏi của giáo viên chiếm tỉ lệ khá thấp, một tiết loại giỏi chiếm tỉ lệ 7%, . Bên cạnh
đó số tiết đạt loại khá chiếm tỉ lệ 57%, loại đạt yêu cầu vẫn còn chiếm tỉ lệ 36%.Từ
số liệu khảo sát có thể nhận thấy rằng đa số giáo viên chưa biết cách tổ chức hoạt
động tích hợp nội dung GDPTVĐ, việc tổ chức GDPTVĐ cho trẻ vẫn dừng lại ở
mức hình thức.
Bảng 3: Năng lực chuyên môn của giáo viên:
TT
1
2
3
4
5
Nội dung
SL
3
3
4
3
4
%
22
22
29
22
29
Trung
bình
SL %
8
57
8
57
8
57
9
64
7
50
Yếu
SL
- Giáo viên gặp khó khăn trong việc khai thác nội dung giáo dục PTVĐ.Việc
lựa chọn nội dung, đề tài để xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động còn lúng
túng.
- Giáo viên khó khăn trong việc lồng ghép tích hợp GDPTVĐ vào các hoạt
động trong ngày.
- Vai trò của tổ trưởng chưa được phát huy hết. Việc xây dựng kế hoạch
GDPTVĐ của tổ còn mơ hồ chưa sát với tình hình thực tế.
Với mong muốn đóng góp phần nào đó giúp cho giáo viên có thể hiểu và dễ
dàng hơn trong việc thực hiện nội dung GDPTVĐ, tôi đã mạnh dạn lựa chọn nội
dung: “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục phát
triển vận động cho trẻ trong trường mầm non” làm đề đài nghiên cứu. Bước đầu đã
đạt được một số kết quả nhất định, xin được chia sẻ cùng các đồng chí và các bạn.
3. Các giải pháp, biện pháp thực hiện.
Từ việc nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục phát triển vận
động cho trẻ, với vai trò là một người phụ trách chuyên môn trong nhà trường tôi
đã chỉ đạo và áp dụng một số biện pháp như sau:
3.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch thực hiện giáo dục phát triển vận
động.
Muốn chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động cho
trẻ trong trường mầm non một cách khoa học, có hiệu quả thì việc xây dựng kế
hoạch là nhiệm vụ tiên quyết của người quản lý. Chính vì vậy nội dung đầu tiên tôi
quan tâm và thực hiện đó là:
- Kế hoạch năm học: Tôi đã chỉ đạo giáo viên lồng ghép tích hợp GDPTVĐ
trong các tháng. Mục đích của việc xây dựng kế hoạch giúp giáo viên hiểu được
tầm quan trọng của việc GDPTVĐ, hiểu được nhiệm vụ của mình phải thực hiện,
nắm chắc văn bản kế hoạch của các cấp quản lý để từ đó xây dựng kế hoạch để bồi
11
Sau khi đã chỉ đạo tạo môi trường xong, tôi đã xây dựng chọn 2 nhóm lớp
chọn xây dựng điểm về môi trường PTVĐ. Trong đó tạo các góc học tập để cho trẻ
12
hoạt động tích cực nhằm phát triển cả vận động thô và vận động tinh cho trẻ. Tôi đã
lựa chọn 2 lớp điểm theo nội dung sau:
- Một số nhóm lớp điểm về môi trường.
- Một số nhóm lớp điểm về tổ chức các hoạt động nhằm giáo dục thể chất
cho trẻ.
Ở mỗi lớp điểm sẽ có một số lớp xây dựng có lồng ghép nội dung PTVĐ
trong ngày và từ đó khi các lớp điểm đã làm tốt theo yêu cầu của BGH.
3.2. Biện pháp 2: Tăng cường tạo dựng môi trường, cơ sở vật chất, thiết
bị đồ chơi phát triển vận động cho trẻ.
Tùy thuộc vào điều kiện của địa phương, trường, lớp, tôi đã chủ động tham
mưu với nhà trường để có thể đầu tư xây dựng, mua sắm, sửa chữa, cải tạo, tự làm
và sắp xếp cơ sở vật chất, thiết bị, đồ chơi giúp trẻ phát triển vận động đảm bảo an
toàn và hiệu quả. Song song với việc tham mưu thì tôi chỉ đạo giáo viên tạo môi
trường vận động cho trong và ngoài lớp học cho trẻ:
- Trong lớp học: Thì cần đảm bảo theo danh mục đồ dùng, đồ chơi thiết bị
tối thiểu theo nội dung GDPTVĐ, bên cạnh đó mua sắm bổ sung thêm giúp trẻ thực
hiện được những nội dung GDPTVĐ phù hợp với độ tuổi. Chỉ đạo giáo viên sắp
xếp thiết bị, đồ chơi trong nhóm lớp theo hướng mở ( theo nhu cầu của trẻ) đảm
bảo an toàn. Sắp xếp thiết bị trong các góc chơi trong nhóm đảm bảo an toàn, tận
dụng mọi điều kiện phù hợp với từng vận động để tăng cường vận động cho trẻ
trong thời gian trẻ ở trường. Sắp xếp các thiết bị, đồ chơi cần chú ý đến các hoạt
động thể lực của trẻ( theo nhu cầu vận động của trẻ). Tích cực làm đồ dùng phục vụ
cho các hoạt động GDPTVĐ.
- Ngoài lớp học: Chỉ đạo giáo viên xây dựng góc tuyên truyền, tận dụng
việc làm không thể thiếu của BGH đó là cần chú trọng công tác bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên: Bồi dưỡng việc xây dựng kế hoạch, thiết kế môi trường
GDPTVĐ, khai thác sử dụng thiết bị, đồ chơi GDPTVĐ. Bồi dưỡng nâng cao
phương pháp, kỹ năng tổ chức các hoạt động GDPTVĐ cho trẻ để cán bộ quản lý
và giáo viên được giao lưu chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chuyên
đề.
Để công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về giáo dục phát triển vận
động có hiệu quả thì tôi đã chỉ đạo giáo viên thực hiện một số nhiệm vụ cần thiết
sau đây:
- Xây dựng nội dung chương trình vận động tối ưu về thời gian và cường độ
vận động, phân phối chúng theo tình trạng sức khỏe, sự phát triển thể chất, khả
năng cá nhân của trẻ.
14
- Lập kế hoạch chương trình vận động trong suốt cả một năm học. Có bổ
sung nâng dần mức độ từ dễ đến khó của bài tập và yêu cầu trẻ tự thực hiện bài tập.
- Khuyến khích giáo viên cần tạo ra các tình huống đặc biệt để trẻ có khả
năng thể hiện các phẩm chất như: sự quyết đoán, can đảm, tháo vát.....
- Cử cán bộ giáo viên tham gia các lớp tập huấn của tỉnh, của Thị xã.
Với các nội dung mới, nội dung về PTVĐ tôi cùng các đồng chí trong BGH nhà
trường và các GV tham gia tập huấn tiếp tục mở lớp tập huấn tại trường, giảng lại
theo bài giảng đã được đi tập huấn ở cấp trên cho toàn thể giáo viên trong trường
nắm được kiến thức đồng thời là hình thức bồi dưỡng chuyên sâu chô đội ngũ cốt
cán của nhà trường.
- Bồi dưỡng các kiến thức, kỹ năng phát triển VĐ cho giáo viên qua kiểm
tra, hội giảng, hội thi. Thông qua kiểm tra hội giảng, hội thi để nhận thấy mặt
mạnh, mặt yếu của từng cá nhân trong đội ngũ để có hướng phát huy điểm mạnh,
khắc phục mặt yếu nhằm mục đích hoàn thiện dần tập thể mà mình quản lý.
thành tên “ Thỏ bò giỏi – bật khéo” hay “Bé tập làm vận động viên thể thao”.....
Tiến hành song song các biện pháp tôi còn chỉ đạo giáo viên tổ chức các hình
thức tập khác nhau để nâng cao tính tích cực của trẻ như: tổ chức theo hình thức cả
lớp, tổ chức theo kiểu luân phiên, tổ chức theo dòng chảy ( thực hiện các bài tập
theo thứ tự lần lượt như một dòng chảy, liên tục, không gián đoạn) tổ chức luyện
tập theo nhóm, tổ chức luyện tập cá nhân.
3.3. 3.Lồng ghép tích hợp GDPTVĐ vào các hoạt động khác.
Nội dung của chuyên đề GDPTVĐ với mục đích làm thế nào để tăng cường
thời lượng vận động cho trẻ, tăng cường hệ thống bài tập vận động cho trẻ. Chính
vì vậy tôi chỉ đạo, khuyến khích giáo viên lồng ghép GDPTVĐ thông qua các hoạt
động như:
- HĐNT: VD: Đề tài: Chơi với những chiếc lá thì trò chơi vận động giáo
viên lồng ghép cho trẻ bật qua chướng ngại vật lên lấy những chiếc lá về để chơi.
Hay đề tài “ Quan sát vật chìm vật nổi”giáo viên có thể kết hợp cho trẻ chơi t/c vận
động “ Đi qua cầu lấy nước” sau đó đổ nước đó vào và tiến hành cho trẻ quan sát.
- HĐH: VD: Trong tiết làm quen với chữ cái u,ư: Phần luyện tập giáo viên
có thể cho trẻ chơi trò chơi “ tạo dáng chữ”, khi có hiệu lệnh “ tạo dáng chữ theo
yêu cầu” thì trẻ phải chạy về nhóm tạo dáng chữ đó, khi đó tất cả cùng được vận
động sau một thời gian học tĩnh.
- HĐC: Với HĐC tôi nhắc nhở giáo viên khi trẻ ngủ dậy cho trẻ chơi một số
trò chơi vận động nhẹ nhàng phù hợp bởi vì trẻ mới ngủ dậy cho nên không nên
cho trẻ chơi những trò chơi vận động mạnh tránh trẻ bị choáng và đột ngột.
VD: Với nhà trẻ thì cho trẻ chơi những t/c như: Con bọ dừa, vào rừng chơi,
qua suối hái hoa, ai đi nhẹ hơn, quả bóng tròn, thỏ trắng...
16
Với trẻ mẫu giáo thì cho trẻ chơi những trò chơi như: Nắng và mưa, thỏ con
dạo chơi, đôi bạn, bác nông dân và đàn bò, thỏ xám rửa mặt, bé tạo dáng, cá lớn, cá
bé, ai bước dài hơn, ai bay....
17
Với một chuyên đề mới mẻ và vô cùng quan trọng như vậy không thể không
chỉ đạo giáo viên lồng ghép GDPTVĐ thông qua các hội thi hội giảng. Chính vì
vậy thông qua hội thi “ Giáo viên dạy giỏi” tôi triển khai kế hoạch hội thi đồng thời
đi sâu vào chuyên đề, khuyến khích giáo viên lồng ghép tích hợp chuyên đề vào bài
giảng của mình.
Qua hội thi tôi thấy giáo viên rất tích cực tìm tòi nghiên cứu tài liệu để lồng
ghép chuyên đề và kết quả cho thấy giáo viên tổ chức linh hoạt sáng tạo tiết dạy
đồng thời lồng ghép chuyên đề phù hợp và đạt kết quả cao.
Năm học 2014 – 2015 theo kế hoạch của PGDTX Chí Linh triển khai hội thi
“ Cháu tài năng, khỏe ngoan” từ cấp trường đến cấp Thị Xã. Tôi đã triển khai rộng
rãi 100% CBGV nắm bắt và giáo viên đã tích cực tập luyện cho trẻ với sự tham gia
nhiệt tình của PHHS hỗ trợ kinh phí và may đồng phục cho trẻ. Tham gia hội thi
cấp Thị Xã thì trường đạt giải nhì của hội thi.Với một trường thuộc vùng sâu vùng
xa xong với sự quyết tâm của cô và trẻ, sự ủng hộ nhiệt tình của PHHS tôi cảm
nhận được sự nhanh nhẹn, khỏe khoắn, khéo léo của các bé và để lại trong lòng
khán giả với những tiết mục đặc sắc khó quên.
Như chúng ta đã biết các hoạt động giáo dục theo thể dục kỹ năng thường
hay thực hiện theo một khuôn mẫu nhất định chính vì vậy mà khả năng tạo hứng
thú cho trẻ không cao. Do vậy tôi đã phát động trong toàn trường tổ chức “Ngày
hội thể thao chào xuân 2015 ”. Thông qua ngày hội thể thao nhằm rèn luyện cơ
thể trẻ, khích lệ lòng yêu thể dục thể thao và củng cố kỹ năng vận động ở trẻ, nó
xác định kết quả giáo dục qua không khí thi đua. Qua ngày hội trẻ đều được tham
gia trực tiếp một cách tích cực, hào hứng sôi nổi, tạo không khí náo nức khi trẻ
tham gia “ biểu diễn’ và “ thi tài”.
Ví dụ tổ chức một số hoạt động trong ngày hội thể thao: Thi kéo co, bóng
đá, leo thang, đi cà kheo, chơi ô ăn quan...
3.7. Biện pháp 7: Công tác tuyên truyền phối kết hợp giữa gia đình cộng đồng
PTVĐ cho trẻ. Kiểm tra đánh giá việc làm đồ dùng đồ chơi tự tạo cũng vô cùng
quan trọng bởi vì muốn phát triển vận động tốt cho trẻ phải có đồ dùng dụng cụ
trực quan tốt.
Ngoài việc kiểm tra đánh giá dự giờ thì Ban giám hiệu phải thường xuyên
duyệt soạn bài cho giáo viên xem giáo viên đã biết lồng ghép tích hợp giáo dục
phát triển vận động vào công tác soạn giảng chưa? Đã lồng ghép ở mức độ nào?
Phải có phê duyệt cụ thể từng tuần, từng chủ đề để từ đó có kế hoạch cụ thể để chỉ
đạo giáo viên có hiệu quả hơn. Người cán bộ quản lý coi việc xem xét, đánh giá
giáo viên theo chất lượng giảng dạy là biện pháp cốt lõi, là chìa khoá thành công
của công tác quản lý.
19
Kết quả: Qua việc kiểm tra đánh giá dự giờ giáo viên tôi thấy 100% giáo
viên thực hiện rất tốt chuyên đề. Mạnh dạn chủ động xây dựng một số đề tài hay
vào công tác soạn giảng.
4. Kết quả đạt được.
Tõ nh÷ng biÖn ph¸p “ ChØ ®¹o giáo viên n©ng cao chÊt lîng giáo dục phát
triển vận động cho trẻ trong trường mÇm non” từ tháng 9/2014 ®Õn thêi ®iÓm học
kỳ 2 tháng 2/ 2015 kết quả đạt được như sau:
- Vai trò của tổ trưởng chuyên môn được phát huy, các tổ trưởng chuyên
môn đã chủ động trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục phát triển vận động của tổ
và chỉ đạo giáo viên thực hiện nhân rộng 100% nhóm lớp.
- Giáo viên có khả năng xây dựng kế hoạch lồng ghép chuyên đề giáo dục
phát triển vận động vào chương trình giáo dục mầm non rất có hiệu quả.
- Các nhóm lớp tích cực làm đồ dùng đồ chơi tự tạo phục vụ chuyên đề.
- Công tác phối kết hợp phụ huynh có hiệu quả được thể hiện trong việc phụ
huynh và đơn vị kết nghĩa đã tích cực ủng hộ 86 ngày giờ công, nguyên vật liệu sẵn
có để làm đồ dùng tự tạo.
%
Tháng
9/2014
1
8
10
71
3
21
Tháng
2/2015
7
50
7
50
0
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Tháng
9/2014
14
100
1
7
8
57
5
2
3
Nội dung
Trước khi áp dụng đề tài
Khả năng thiết kế hoạt động
Khả năng thiết kế điều hành
Tự học - tự rèn luyện
Tốt
Khá
TS
Trung
bình
Yếu
GV
14
14
14
21
1
1
1
4
5
1
2
3
4
5
Khả năng sáng tạo chủ động
Kỹ năng ứng dụng CNTT
Sau khi áp dụng đề tài
Khả năng thiết kế hoạt động
Khả năng thiết kế điều hành
Tự học - tự rèn luyện
Khả năng sáng tạo chủ động
Kỹ năng ứng dụng CNTT
14
14
1
2
7
14
3
4
29
7
7
6
7
7
50
50
43
50
50
1
1
0
1
3
7
7
7
21
0
0
0
0
0
- Phát huy nội dung đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn.Việc chỉ đạo phải linh
hoạt, sáng tạo, cởi mở, thoái mái tránh áp dụng biện pháp một cách máy móc, cứng
nhắc hoặc áp đặt gây áp lực với giáo viên. Cần tạo không khí thi đua tích cực, thu
hút giáo viên bằng tính tự giác để thực hiện nhiệm vụ của mình xong cũng không
buông lỏng công tác quản lý.
- Coi trọng công tác phối kết hợp với phụ huynh học sinh để nâng cao chất
lượng GDPTVĐ cho trẻ trong nhà trường.
- Các giải pháp trên phải được thực hiện đồng bộ, thường xuyên và triệt để.
5. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng.
Muốn đề tài sáng kiến thật sự có hiệu quả cần đảm bảo tối thiểu các điều kiện
sau:
- Bám sát vào sự định hướng đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt
động giáo dục “ lấy trẻ làm trung tâm”
- Phải đảm bảo các nguồn lực và đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất
trong nhà trường.
- Phải xây dựng kế hoạch chuyên đề ngay từ đầu năm học và được Hiệu
trưởng phê duyệt. Việc xây dựng kế hoạch chuyên đề, nội dung, tạo dựng không
gian cho trẻ vận động, các đề tài phải phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của
trường, lớp, khả năng của trẻ.
- Các trường mầm non chú ý lồng ghép, tích hợp các nội dung GDPTVĐ vào
hoạt động vui chơi và các hoạt động giáo dục khác. Đặc biệt phải quan tâm đến góc
vận động trong lớp học hoặc các góc có liên quan đến việc phát triển vận động thô
và các vận động tinh cho trẻ như: góc âm nhạc,góc phân vai, góc tạo hình, góc khoa
học, khám phá, văn học...
- Các nội dung PTVĐ cho trẻ trong trường mầm non phải đảm bảo tính đồng
tâm phát triển, đảm bảo vừa sức, phù hợp với đặc điểm vận động theo độ tuổi ( chú
ý các mốc phát triển vận động).
- Phải kiên trì thực hiện dần từng bước một, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
phức tạp. Chỉ đạo một cách cụ thể từ kế hoạch đến nội dung thực hiện tới giáo viên.
2. Khuyến nghị.
Để công tác chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục vận động cho trẻ
thật sự có hiệu quả hơn nữa, tôi xin được đề xuất một số ý kiến như sau:
- Đối với các cấp quản lý: Đề nghị Bộ Giáo dục – Sở giáo dục tổ chức cho
giáo viên, cán bộ quản lý cốt cán đi dự các trường điểm về tổ chức GDPTVĐ của
Bộ, của Sở. Tăng cường tổ chức hội thi các cấp có lồng ghép tích hợp hiệu quả nội
dung GDVĐ.
- Đối với các nhà trường: Cần đầu tư trang thiết bị đồ dùng phục vụ cho
chuyên đề và cần tích cực tuyên truyền về tầm quan trọng của sự phát triển toàn
diện của trẻ trong những năm đầu đời để phụ huynh nắm được để tranh thủ sự ủng
hộ của phụ huynh và cộng đồng. Tăng cường việc kiểm tra vận dụng sau chuyên
đề.
Cần làm tốt hơn nữa công tác xã hội hóa giáo dục để tăng cường nguồn ngân
sách mua sắm trang thiết bị cần thiết cho chuyên đề tạo môi trường phong phú
trong và ngoài lớp học cho trẻ hoạt động.
- Đối với giáo viên: Cần nhận thức được tầm quan trọng về nội dung của
chuyên đề và chủ động sáng tạo xây dựng kế hoạch sát với tình hình của trường lớp
25