MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã lùi xa gần 30 năm.
Từ sau năm 1975 đến nay đã có nhiều cơ quan và các nhà khoa học ở trong nước
và trên thế giới đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Vì sao Việt Nam thắng Mỹ ? Nhìn
chung kết quả của các công trình, những tổng kết đã lý giải dưới nhiều góc độ khác
nhau, giải đáp được nhiều vấn đề, song còn những điều tiếp tục phải làm rõ.
Kéo dài 21 năm trường kỳ, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trải qua
nhiều giai đoạn lịch sử, lúc thuận lợi lúc khó khăn. Trong đó giai đoạn 1969 - 1973
có nhiều thuận lợi, song cũng gặp không ít những khó khăn, đòi hỏi Đảng ta phải
có chủ trương đúng đắn đưa cách mạng miền Nam vượt qua những thách thức đi
đến thắng lợi.
Thắng lợi của cách mạng miền Nam trong giai đoạn 1969 - 1973 là thành quả
tổng hợp của nhiều yếu tố tạo nên, một trong những yếu tố góp phần quyết định
đến thắng lợi là Đảng đã kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến. Đảng đã khéo léo chỉ
đạo kết hợp các hình thức đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao giành thắng lợi
quyết định phù hợp với thực tiễn so sánh lực lượng giữa ta và địch, phù hợp với
tình thế thời cuộc lúc bấy giờ, tạo điều kiện cơ bản đưa cuộc kháng chiến đến
thắng lợi hoàn toàn. Đó là nghệ thuật tổ chức, chỉ đạo chiến tranh đầy tính sáng tạo
của Đảng ta. Ngay từ khi cuộc chiến bắt đầu, Đảng chỉ đạo kết hợp đấu tranh giữa
quân sự, chính trị và ngoại giao. Sự kết hợp chặt chẽ nhất, phát huy cao nhất sức
mạnh của các mặt đấu tranh đã được Đảng và nhân dân ta thực hiện trong giai
đoạn 1969 - 1973. Chính sự kết hợp đó tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn trực tiếp
làm nên thắng lợi quyết định vào đầu năm 1973. Để góp phần làm sáng tỏ về cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước oanh liệt của nhân dân ta, đã đặt ra việc nghiên
cứu sự lãnh đạo của Đảng kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị với
đấu tranh ngoại giao trong giai đoạn 1969 - 1973 là vấn đề cần thiết.
Từ năm 1975 đến nay, Đảng ta xác định: "Bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng
yếu, thường xuyên của toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của
khác nhau về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, đặc biệt là sự kết hợp giữa các hình
thức đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước nhưng chưa có công trình nào đi sâu làm rõ Đảng lãnh đạo kết hợp giữa đấu
tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong giai đoạn 1969 - 1973. Tuy nhiên kết quả
của các công trình này là nguồn tư liệu quý để tác giả kế thừa, vận dụng trong quá
trình nghiên cứu đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Làm sáng tỏ chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng kết hợp đấu
tranh quân sự, chính trị, ngoại giao giành thắng lợi quyết định trong kháng chiến
chống Mỹ cứu, nước giai đoạn 1969 - 1973. Từ đó rút ra những kinh nghiệm qua
sự lãnh đạo, chỉ đạo kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong giai
đoạn này, làm cơ sở để vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Trình bày chủ trương của Đảng về kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh
chính trị với đấu tranh ngoại giao, trước yêu cầu mới của tình hình.
- Làm rõ quá trình chỉ đạo của Đảng thực hiện kết hợp đấu tranh quân sự và
đấu tranh chính trị với đấu tranh ngoại giao trong những năm 1969 - 1973 giành
thắng lợi quyết định.
- Nêu ra và làm rõ những bài học kinh nghiệm về sự kết hợp đấu tranh quân sự
và đấu tranh chính trị với đấu tranh ngoại giao trong giai đoạn 1969 - 1973, làm cơ sở
vận dụng vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của sử học mác-xít,
những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối
quan điểm của Đảng.
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu là: Phương pháp lịch sử, phương
pháp lôgíc; và sự kết hợp hai phương pháp đó; phương pháp phân kỳ lịch sử;
phương pháp so sánh và phương pháp tổng kết thực tiễn...
tỷ USD trong năm 1968. Tỷ trọng ngoại thương giảm mạnh từ 48% xuống 10%
sau 21 năm (1948 - 1969), lạm phát tăng 6,1% năm 1969, giá sinh hoạt leo thang,
năng suất lao động xuống tới mức thấp nhất so với các nước tư bản phát triển , đội
quân thất nghiệp ngày càng đông.
Trên chiến trường miền Nam Việt Nam, lính Mỹ thương vong ngày càng
nhiều, điều đó đã gây nên sự lo ngại và tâm lý bi quan trong nhân dân Mỹ. Tình
hình trên làm cho các mâu thuẫn trong nội bộ nước Mỹ phát triển gay gắt thêm,
đưa sự chống đối của các tầng lớp nhân dân với chính quyền lên cao, nội bộ giới
lãnh đạo cao cấp Mỹ phân hoá sâu sắc, nước Mỹ lâm vào khủng hoảng xã hội và
chia rẽ về chính trị.
Trong tình hình đó, ngày 20-1-1969 Níchxơn bước vào Nhà Trắng làm Tổng
thống, thừa nhận: "Cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ra căng thẳng gay gắt với nước
Mỹ không riêng về kinh tế, quân sự mà cả xã hội cũng như chính trị, sự bất đồng cay
đắng đã xé rách cơ cấu đời sống tinh thần nước Mỹ và bất kể kết quả chiến tranh như
thế nào, vết xé rách vẫn còn lâu mới lành" [8.tr. 188].
Những khó khăn ở trong nước và thất bại của Mỹ trên thế giới nhất là ở Việt
Nam đã và đang làm biến đổi cán cân trên thế giới không có lợi cho Mỹ. Tổng
thống Mỹ Níchxơn và những người cầm quyền nước Mỹ chủ trương phải có một
chính sách đối ngoại mới trong một thế giới đã thay đổi, hòng tiếp tục thực hiện
tham vọng bá chủ toàn cầu bằng việc điều chỉnh chiến lược toàn cầu và chính sách
chiến tranh ở Việt Nam. Níchxơn thay mặt chính phủ Mỹ công bố chiến lược toàn
cầu mới mang tên "Học thuyết Níchxơn" Mục tiêu tập trung của học thuyết mới
này là ra sức phá hoại phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản thế giới, tìm
mọi cách đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, duy trì chủ nghĩa thực dân mới, giữ
vững địa vị lãnh đạo của Mỹ trong "thế giới tự do", thực hiện tham vọng làm bá
chủ toàn cầu, bảo đảm cho Mỹ đặc quyền, đặc lợi nô dịch và bóc lôt thế giới.
"Học thuyết Níchxơn" dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: "tập thể tham gia", "sức
mạnh của Mỹ", "sẵn sàng thương lượng". Trong đó "sức mạnh của Mỹ" là nguyên
quân đội này đủ sức đối phó với lực lượng vũ trang giải phóng trên chiến trường
miền Nam Việt Nam và Đông Dương.
Giai đoạn 3: Hoàn thành những mục tiêu của "Việt Nam hoá chiến tranh"
củng cố kết quả đã đạt được. Miền Nam Việt Nam trở thành một "quốc gia tự do"
dưới sự lãnh đạo của Mỹ, ngăn chặn có hiệu quả chủ nghĩa cộng sản "bành trướng"
xuống khu vực Đông Nam Á.
Trong ba giai đoạn trên, giai đoạn 1 là giai đoạn được Mỹ coi là quan trọng
nhất, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của chiến lược "Việt Nam hoá chiến
tranh". Giai đoạn này dự định thực hiện trong thời gian từ đầu năm 1969 đến hết
năm 1972, với ba bước:
Bước 1: Bắt đầu từ năm 1969 đến tháng 6 - 1970, Mỹ sẽ bình định một số
vùng đông dân cư quan trọng, xoá bỏ toàn bộ cơ sở cách mạng trong vùng do
chính quyền Sài Gòn kiểm soát, thanh lọc dân cư. Rút một số đơn vị chiến đấu Mỹ
ra khỏi Nam Việt Nam. Khống chế và đẩy lùi lực lượng vũ trang giải phóng ra xa
các vùng nông thôn và đô thị, hạn chế đến mức tối đa những hoạt động quân sự
của cách mạng.
Bước 2: Từ tháng 7-1970 đến tháng 6-1971, bình định hết các vùng đông dân
quan trọng ở Nam Việt Nam, làm cho lực lượng vũ trang giải phóng phải phân tán
nhỏ, không thể hoạt động được quy mô cấp đại đội trở lên. Hoàn thành kế hoạch
hiện đại hoá quân đội Việt Nam cộng hoà, rút phần lớn quân Mỹ về nước.
Bước 3: Từ tháng 7-1971, cơ bản bình định xong miền Nam Việt Nam. Lực
lượng vũ trang giải phóng không còn hoạt động được ở các vùng căn cứ trên biên
giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia. Quân đội Việt Nam cộng hoà đủ sức
đương đầu với quân chủ lực miền Nam Việt Nam. Rút đại bộ phận quân chiến đấu
Mỹ về nước.
Hoàn thành bước này là cơ bản hoàn thành "Việt Nam hoá chiến tranh", phục
vụ cho Níchxơn thắng cử trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11- 1972.
Trong báo cáo về đường lối ngoại giao ngày 25-2-1971, Níchxơn cho rằng
Gòn, vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Khu V với các kế hoạch "bình
định cấp tốc" (cuối năm 1968 đến giữa năm 1969)," bình định xây dựng "(giữa
năm 1969 đến giữa năm 1970), "bình định đặc biệt" (từ hè 1970). Mỗi tháng trung
bình địch mở 337 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn ở Đông Nam Bộ và 427 cuộc hành
quân ở đồng bằng sông Cửu Long. Địch tập trung, lực lượng tổ chức những cuộc
hành quân để yểm trợ bình định với số lượng ngày càng tăng: Năm 1968 có 2.192
cuộc, năm 1969 có 4.344 cuộc và 10 tháng đầu năm 1970 đã có 6.745 cuộc. Phối
hợp cùng với các cuộc hành quân bình định, địch tăng cường hành quân càn quét,
dùng máy bay, pháo binh bắn phá, tung biệt kích phá hoại kho tàng, căn cứ của ta.
Kết hợp đánh phá ác liệt tuyến vận chuyển chiến lược Trường Sơn, với phong toả
bịt các cửa khẩu thu mua, tiếp tế lương thực của ta từ hướng
Campuchia, thực
hiện bóp nghẹt cách mạng miền Nam. Vì trên hướng này 40% gạo xuất cảng của
Campuchia giao cho ta, 70% đồ tiếp tế của ta đưa qua cảng Sihanúcvin. Ở Khu V
từ chỗ có 42 cửa khẩu thu mua, ta chỉ còn duy trì được vài ba cửa khẩu [10.tr.331].
Địch đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, gián điệp, tình báo bằng phương thức hoạt động
của các tổ chức Phượng Hoàng, Thiên Nga. Hàng chục nghìn nhân viên của các tổ
chức này được tung về xã, ấp hoạt động chỉ điểm ám sát, thủ tiêu cán bộ, đánh phá
các cơ sở cách mạng.
Ở khu vực đô thị, dưới danh nghĩa "bài trừ may tuý", chống lưu manh, gái
điếm... chúng phát động nhiều hình thức thanh lọc và phân lọai quần chúng, triệt
phá những cơ sở bí mật của ta, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng,
mua chuộc, lừa mị bằng kinh tế. Vì thế, các bàn đạp tiến công của ta bị mất, lực
lượng vũ khí và trang bị kỹ thuật, lực lượng, thực phẩm và thuốc men bị tiêu hao
nhiều nhưng chưa được bổ sung, sức chiến đấu của bộ đội giảm sút. Trong những
tháng cuối năm 1968 và đầu năm 1969, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của
cách mạng miền Nam tổn thất nặng nề. Trên toàn miền Nam, đến cuối năm 1969
địch lập dược 5.800 ấp chiến lược, kiểm soát 10 triệu dân. Năm 1968 vùng giải
phóng và vùng làm chủ của ta gồm 1.140 xã với 7,7 triệu dân, đến cuối năm 1969
tụt xuống còn 590 xã với 4,7 triệu dân. Phần lớn vùng đồng bằng Nam Bộ bị địch
chiếm. Tại hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long vùng giải phóng từ 182 ấp, chỉ còn lại
1 ấp. Riêng Khu V địch kiểm soát thêm 46 vạn dân, lập thêm 237 khu dồn dân lập
ấp chiến lược, ta chỉ còn 84 vạn dân trong vùng giải phóng . Ở miền Trung Nam
Bộ (khu VIII) trong năm 1969 ta có 123 xã và 1.000 ấp giải phóng đến cuối năm
1969 ta chỉ còn 4 xã, 312 ấp. Từ năm 1969 đến đầu năm 1970, địch cho là thời kỳ
bình định đạt kết quả tốt nhất (phụ lục 3).
Trước sự phản kích đánh phá quyết liệt của kẻ thù, lực lượng vũ trang của ta ở
miền Nam bị thương vong nhiều. Trong khi đó, quân số tuyển tại chỗ để bổ sung
được rất ít, cả Nam bộ chỉ tuyển được 100 chiến sĩ mới (năm 1968 tuyển được
16.000 người). Khu V bộ đội địa phương giảm 2.000 người so với năm 1968 [10.
tr.341], trong khi đó chỉ tuyển được 1.500 người (năm 1968 tuyển được 8.000
người). Bộ đội địa phương ở các huyện, nhiều đại đội chỉ còn 10 chiến sĩ, có nhiều
tiểu đoàn tập trung của các tỉnh chỉ còn 100 chiến sĩ. Các sư đoàn chủ lực Miền bị
tổn thất không còn địa bàn đứng chân ở miền Nam phải trú chân trên đất bạn
Cămpuchia. Các đơn vị chủ lực ở Trị Thiên phải kéo ra Quảng Bình để củng cố,
một số đơn vị phải giải thể. Chỉ trong 2 năm 1968 đến 1970 có tới 10 vạn cán bộ,
chiến sĩ cơ sở của ta bị thương vong, con số thương vong trong thời gian này xấp
xỉ với số thương vong trong cuộc kháng chiến chống Pháp [3.tr. 327]. Do số quân
bị thiếu hụt nên các quân khu giảm đầu đơn vị. Khu VIII có 2 trung đoàn dồn lại
thành 1 trung đoàn. Khu IX có 3 trung đoàn dồn lại còn 1 trung đoàn và 1 tiểu
đoàn. Đây là thời kỳ khó khăn nhất của ta kể từ cuộc kháng chiến chống Pháp đến
nay [46.tr.394].
Trong bối cảnh chung lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang cơ sở miền
Nam bị tổn thất lớn, ở Khu V, trong năm 1969 có 3.640 cán bộ, đảng viên các đảng
đội Sài Gòn chỉ có 30 tiểu đoàn cơ động, năm 1969 đã có tới 63 tiểu đoàn. Quân
địa phương đã đảm nhận được một phần nhiệm vụ "bình định", lực lượng cơ động
tại chỗ và cơ động chiến lược đã tăng lên 2 lần. Vì vậy, từ tháng 4 - 1969 Níchxơn
bắt đầu cho rút dần một bộ phận quân viễn chính về nước. Đến tháng 4 - 1970, 11
vạn quân chiến đấu Mỹ đã rút ra khỏi miền Nam Việt Nam (phụ lục 4).
Trước tình hình khó khăn ác liệt, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và
chiến sĩ đã xuất hiện tư tưởng bi quan, ngại hy sinh, gian khổ có hiện tượng đào bỏ
ngũ về phía sau, thậm chí ra đầu hàng địch. Ở Nam bộ, chỉ tính trong 6 tháng đầu
năm 1969 đã có tới 37 cán bộ và 267 đảng viên đầu hàng địch [4.tr.257]. Khu IX
có 50 xã trong tổng số 250 xã có đảng viên bỏ chạy khỏi xã, 40 xã có 1 đến 2 đảng
viên, không có chi bộ. Toàn khu có 12.000 cán bộ, chiến sĩ bỏ hàng ngũ trở về nhà
(chưa tính tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh) [14.tr.471].
Trong tình hình đó, vấn đề giữ và sử dụng khối bộ đội chủ lực đặt ra gay gắt ở
tất cả các chiến trường. Mỹ nguỵ có ý đồ buộc chủ lực ta phải phân tán, đẩy chủ
lực ta ra ngoài biên giới. Trong nội bộ ta cũng nảy sinh nhiều ý kiến khác nhau.
Một số cán bộ cho rằng cần thiết phải phân tán chủ lực thành những đơn vị nhỏ về
các địa phương chống bình định, giành dân vừa giải quyết khó khăn về hậu cần.
Một số khác thì cho rằng cần phải củng cố khối chủ lực để đánh tiêu diệt địch hỗ
trợ nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ, nhưng việc bảo đảm hậu cần lại khó
khăn.
Cách mạng miền Nam đang đứng trước nhiều thử thách nghiêm trọng, so
sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường có sự thay đổi, "địch chiến ưu
thế hơn ta, từ thế bị động đến nay địch giành được thế chủ động. Phong trào ở
đồng bằng bị thất thế không còn ở thế tiến công liên tục rộng khắp" [40.tr. 444].
Sở dĩ có tình hình trên, là vì "về chỉ đạo chiến lược ta có nhiều khuyết điểm"
[3.tr.91]. Đó là đánh giá địch chưa đúng, chưa nhận thấy hết những âm mưu, thủ
đoạn mới của địch trong kế hoạch "bình định nông thôn", trong chiến lược "Việt
Nam hoá chiến tranh" để có chủ trương đối phó phù hợp, việc đánh giá địch, ta
hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ. Đảng ta chỉ đạo từng bước xây dựng lực
lượng cách mạng mọi mặt, tích cực đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ
trang tự vệ khi cần thiết và thực hiện đấu tranh quân sự đưa cách mạng miền Nam
từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng, đánh bại chiến
lược Aixenhao của đế quốc Mỹ (1954 - 1960). Bị thất bại đế quốc Mỹ phải thay
đổi chiến lược chiến tranh, trước tình hình đó Đảng tiếp tục duy trì kết hợp đấu
tranh quân sự, chính trị, ngoại giao. Đặc biệt là Đảng quyết định đưa đấu tranh
quân sự lên song song với đấu tranh chính trị, đáp ứng và phù hợp với yêu cầu mới
của cuộc kháng chiến, từng bước làm thất bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt"
(1961 - 1964) của Mỹ. Liên tiếp bị thất bại buộc đế quốc Mỹ phải tiến hành một
chiến lược, chiến tranh mới, thay thế cho chiến lược "chiến tranh đặc biệt", đó là
chiến lược "chiến tranh cục bộ" và leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân,
hải quân. Với sự chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự trên các chiến
trường và đấu tranh chính trị của quần chúng ở các thành phố, thị xã cùng hoạt
động quốc tế, đấu tranh ngoại giao của Đảng để nhân dân thế giới nhận thức đúng
và ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Vì vậy, mặc dù
chiến lược "chiến tranh cục bộ" với nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt song nó
cũng chỉ là sản phẩm của thế thua, thế bị động và là chiến lược chứa đầy mâu
thuẫn và bế tắc. Nên nó cũng bị phá sản trước sức mạnh tổng hợp của đấu tranh
quân sự, chính trị, ngoại giao.
Trước tình hình đó, đế quốc Mỹ chấp nhận xuống thang chiến tranh, nhưng lại
cố tạo nên một thế mạnh nhằm kéo dài chiến tranh xâm lược, tiếp tục duy trì chủ
nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam với hình thức mức độ khác, bằng chiến
lược "Việt Nam hoá chiến tranh ".
Trước những âm mưu thâm độc, xảo quyệt về chính trị, quân sự, và ngoại
giao trong chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh " của Mỹ. Để tháo gỡ tình hình
khó khăn, từng bước khôi phục lực lượng và thế trận cho cách mạng miền Nam
tiến lên giành thắng lợi quyết định. Tháng 5 - 1969, Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã họp bàn về tình hình nhiệm vụ mới. Bộ
mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị khẳng định những thắng lợi mà
quân và dân ta ở miền Nam đã giành được, đồng thời phân tích những khuyết điểm
và nguyên nhân trong thời gian qua. Về âm mưu thủ đoạn của Mỹ và chính quyền
Sài Gòn, Hội nghị Trung ương 18 cơ bản nhất trí với nhận định, đánh giá của Bộ
Chính trị đưa ra tại hội nghị tháng 5 - 1969. Hội nghị đề ra nhiệm vụ cho cách
mạng miền Nam trong năm 1970 và những năm tiếp theo là: "Động viên sự nỗ lực
cao nhất của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi
đã đạt đựơc, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược
tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự và
tiến công chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao vừa tiến công địch vừa ra sức
xây dựng lực lượng quân sự và chính trị ngày càng lớn mạnh" [12.tr.140-141]. Về
phương châm hành động, Trung ương nhấn mạnh đến việc kết hợp chặt chẽ linh
hoạt giữa tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao.
Hội nghị lần thứ 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đánh dấu bước
chuyển biến quan trọng về sự chỉ đạo của Đảng trước tình hình mới. Hội nghị tổng
kết thực tiễn cuộc đấu tranh đã qua, rút ra những kinh nghiệm sâu sắc trong vận
dụng đường lối chiến tranh của Đảng, mở ra phương hướng mới khắc phục những
khó khăn trước mắt và chuẩn bị cho thắng lợi trong năm 1970 và những năm tiếp
theo.
Như vậy, để tháo gỡ khó khăn tiếp tục đưa cách mạng miền Nam phát triển
tiến tới giành thắng lợi quyết định, chủ trương của Đảng thể hiện trong các Hội
nghị của Bộ Chính trị, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng giai đoạn này
là: Đẩy mạnh xây dựng lực lượng cách mạng về mọi mặt, nhất là lực lượng chính
trị, lực lượng vũ trang. Đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị kết hợp với đấu
tranh ngoại giao.
Kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao là chủ trương nhất
quán của Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước. Đặc biệt là trong giai đoạn 1969 - 1973, trước âm mưu quân sự, chính trị,
Cùng với đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự là hai hình thức đấu tranh cơ bản
của bạo lực cách mạng, nó luôn được kết hợp chặt chẽ với nhau. Ngoài nhiệm vụ
đấu tranh tiêu diệt lực lượng và phương tiện chiến tranh của đối phương, đấu tranh
quân sự còn có nhiệm vụ quan trọng là giữ đất, giành dân, bảo vệ dân, hỗ trợ cho
quần chúng đấu tranh chính trị và nổi dậy giành chính quyền.
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đấu tranh quân sự vẫn là "một mặt
đấu tranh cơ bản và giữ vị trí ngày càng quan trọng. Nhiệm vụ của nó một mặt là
tiến công địch mạnh mẽ, dồn dập, phát triển thanh thế tổng công kích rộng khắp
với các đòn đánh của bộ đội chủ lực kết hợp chặt chẽ với tác chiến của bộ đội địa
phương và du kích trên các hướng và các mục tiêu nhất định, tiêu diệt nhiều sinh
lực địch, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh của chúng, đồng thời ra sức kiềm
chế và phân tán lực lượng của địch, đánh bại chiến lược, chiến thuật phòng ngự
của chúng; một mặt phối hợp với đấu tranh chính trị và binh vận giúp sức cho khởi
nghiã giành thắng lợi ở hướng trọng điểm và các hướng khác, đánh cho Mỹ phải
rút quân, đánh cho nguỵ phải suy sụp [21.tr.136].
Trong kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại
giao, đấu tranh quân sự là hình thức chủ yếu trực tiếp quyết định trong quá trình
tiến hành cuộc kháng chiến. Đây là quy luật cơ bản trong chiến tranh nhân dân
chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ thực hiện chiến tranh
xâm lược thực dân kiểu mới, giấu mặt trá hình với những âm mưu quân sự, chính
trị, ngoại giao xảo quyệt nhằm che giấu bộ mặt thật của chúng, đánh lừa dư luận
thế giới và nhân dân Mỹ. Những biện pháp cơ bản, chủ yếu xuyên suốt trong quá
trình tiến hành chiến tranh xâm lược vẫn là quân sự; đưa quân viễn chinh và chư
hầu vào trực tiếp tham chiến ở chiến trường miền Nam (từ năm 1965). Điều này
phản ánh mâu thuẫn không thể khắc phục trong âm mưu thực dân mới của đế quốc
Mỹ, đó là mâu thuẫn giữa mục đích chính trị với biện pháp quân sự. Chính vì đế
quốc Mỹ sử dụng biện pháp quân sự là chủ yếu, cho nên chúng ta phải đánh thắng
Trong giai đoạn 1969 - 1973, đấu tranh chính trị có khả năng rất to lớn, đặc
biệt là "trong lúc địch phải xuống thang đang tìm cách rút quân Mỹ ra, tinh thần
địch đang xuống dốc, nội bộ đang mâu thuẫn gay gắt và phân hoá mạnh, tình hình
chính trị ngay trong các đô thị có thể có những chuyển biến đột ngột, tiến công
chính trị phải nắm vững thời cơ, kết hợp chặt chẽ với tiến công quân sự và binh
vận, tiến công về ngoại giao, phát triển thế tiến công rộng khắp và mạnh mẽ từ
thấp đến cao, từ khởi nghĩa từng phần ở nông thôn và thành thị tiến lên tổng khởi
nghĩa, từ đấu tranh chính trị tiến lên khởi nghĩa vũ trang giành thắng lợi lớn nhất.
Nếu tiến công và bao vây thành thị là một thế trận mới trong thời kỳ này thì sự
phát triển mạnh mẽ của đấu tranh chính trị ở thành thị, của khởi nghĩa từng phần
tiến lên tổng khởi nghĩa là một đặc điểm quan trọng của thế trận đó để đưa cách
mạng đến thắng lợi" [21.tr.136].
Như vậy trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cũng như trong
suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò
của đấu tranh chính trị. Trong giai đoạn 1969 - 1973 trước âm mưu thâm độc xảo
quyệt của đế quốc Mỹ thì vai trò của đấu tranh chính trị càng được nâng cao.
Cùng với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao luôn
được Đảng ta đánh giá đúng vị trí, vai trò và coi trọng đấu tranh ngoại giao là một
biểu hiện đặc biệt của đấu tranh chính trị dưới một hình thức khác, đấu tranh bằng
lý lẽ để góp phần chiến thắng kẻ thù.
Đấu tranh ngoại giao góp phần tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho cuộc
kháng chiến, tuyên truyền mục đích chính nghĩa tiến hành chiến tranh của nhân
dân Việt Nam, làm cho nhân dân thế giới biết đến và hiểu rõ bản chất "cuộc chiến
tranh ăn cướp bẩn thỉu" của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Từ đó tranh thủ sự đồng tình
ủng hộ giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đối với cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta.
Hoạt động ngoại giao thời chiến thực hiện mục tiêu thêm bạn bớt thù, tìm
kiếm thêm bạn đồng minh cho cách mạng, kể cả đồng minh chiến lược và đồng