PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài khóa luân
Phật giáo có bề dày phát triển hàng ngàn năm, có sức ảnh hưởng rất lớn
đối với người Việt Nam nói chung và người Huế nói riêng. Những tư tưởng
triết học Phật giáo, đặc biệt là nhân sinh quan Phật giáo, là một trong những
nhân tố có tác động mạnh nhất đến việc hình thành nhân cách, đạo đức, lối
sống, nếp sống của con người Việt Nam và con người xứ Huế.
Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo luôn tỏ rõ vai trò quan trọng,
có ảnh hưởng sâu rộng và toàn diện trong đời sống xã hội Việt Nam. Và Huế
là một trong ba trung tâm Phật giáo lớn nhất của cả nước. Trong hơn 300 năm
từ 1636 đến 1945, với tư cách là trung tâm chính trị và văn hoá của Đàng
Trong và là kinh đô của cả nước, Huế cũng là thủ đô Phật giáo của cả nước.
Từ khi du nhập cho đến nay, Phật giáo Huế luôn có nhiều biến đổi rất phức
tạp và phong phú, đôi lúc Huế cũng đã trở thành điểm nóng về tôn giáo của cả
nước thu hút dư luận thế giới.
Phật giáo Huế có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần con người
Huế hiện nay. Nhắc đến Huế, người ta nghĩ ngay đến cầu Trường Tiền, sông
Hương, núi Ngự Bình, hệ thống lăng tẩm đền đài triều Nguyễn và tháp Phước
Duyên của chùa Thiên Mụ. Đó là những biểu tượng về văn hoá Huế, mà Phật
giáo Huế là một trong những thành tố chung tạo nên nền văn hoá Huế.
Những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo luôn biến đổi trải qua
những bước thăng trầm trong lịch sử. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, những lệch chuẩn các giá trị đạo
đức truyền thống đang diễn ra khá phức tạp, thì ảnh hưởng của nhân sinh
quan Phật giáo trong đời sống tinh thần người Việt Nam nói chung và người
Huế nói riêng càng diễn ra khá rõ nét.
1
Vậy xu hướng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến con người
Huế là gì? Đây là vấn đề đang đặt ra và cần được làm sáng tỏ ở nhiều góc
Đàng Trong, Nxb thành phố Hồ Chí Minh .v.v.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đều thống nhất ở một số
điểm: Phật giáo có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội Việt Nam, đặc
biệt là đời sống tinh thần. Những triết lý đầy tính nhân sinh của Phật giáo kết
hợp với văn hóa truyền thống đã tạo nên sự phong phú của đời sống tinh thần
của con người Việt Nam, nhưng họ rất ít bàn đến ảnh hưởng nhân sinh quan
Phật giáo đến người Huế, nếu không nói là không bàn.
Ở Huế cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về Phật giáo Huế nhưng họ
chủ yếu nói về lịch sử, tín ngưỡng hay là về sự kết hợp danh lam thắng cảnh
của Huế như: Đỗ Bang, Ngô Thời Đôn, Nguyễn Duy Hới…
Còn trong cuốn “Lịch sử Phật giáo xứ Huế” của tác giả Thích Hải Ấn
và Hà Xuân Liêm, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001, đã nêu
lên được một số khác biệt của chùa tháp, pháp khí, tượng phật ở Huế với các
vùng quê khác và nêu lên được một số đóng góp tích cực của Phật giáo Huế
như: nó làm cho con người Huế trở nên thanh nhã, cảnh chùa Huế là môi
trường sinh thái đầy thú vị, hay là những đóng góp về nghệ thuật rất Huế. Tuy
nhiên, Phật giáo Huế còn đóng góp vào việc nâng cao nhận thức, hoạt động từ
thiện hay phát triển du lịch.
Trong luận văn thạc sĩ “Nhân sinh quan Phật giáo Huế qua góc nhìn
lịch sử triết học” của Hoàng Ngọc Vĩnh và đề tài khoa học cấp bộ “Phật giáo
Huế với đời sống văn hóa tinh thần con người Huế” của Thạc sĩ Hoàng Ngọc
Vĩnh. Có thể nhận xét một cách khái quát, công trình nghiên cứu trên đã
khẳng định: Phật giáo có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội Huế, đặc
biệt là đời sống văn hóa tinh thần. Đã chỉ ra được những đặc trưng riêng của
văn hóa Huế và Phật giáo Huế, qua đó đã làm rõ những tác động mạnh mẽ
3
của Phật giáo đến con người Huế trên nhiều phương diện như: tín ngưỡng,
cấu trúc xã hội, hệ tư tưởng và nhân sinh quan người Huế.
b) Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt phép biện chứng duy vật. Phương
pháp nghiên cứu cụ thể là các phương pháp phân tích-tổng hợp, phương pháp
lôgic-lịch sử, phương pháp điều tra-phỏng vấn và kết hợp các phương pháp
khái quát hóa, trừu tượng hóa v.v.
6. Đóng góp mới của khóa luân
Đề tài góp phần vào việc tìm hiểu có hệ thống hơn ảnh hưởng của nhân
sinh quan sinh Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần con người Huế.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, hoặc
tư liệu nghiên cứu cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của khóa luân
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
khóa luận gồm 2 chương, bốn tiết:
Chương 1: Những nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo
1.1. Vai trò của nhân sinh quan Phật giáo
1.2. Những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh quan Phật giáo
Chương 2: Một số ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến con
người Huế hiện nay
2.1. Quá trình ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh
thần của con người Huế trong lịch sử
2.2 Ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến một số lĩnh vực trong đời
sống tinh thần của con người Huế hiện nay
5
NỘI DUNG KHÓA LUẬN
CHƯƠNG 1
NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
1.1. Vai trò của nhân sinh quan Phât giáo
1.1.1 Đối với Phật giáo
là hoàng đế trị vì thiên hạ, nếu không thì cũng là đức Phật cứu nhân độ thế.
Ông sinh năm 563 mất năm 483 trước công nguyên ở Ấn Độ. Ông
được vua cha cưới vợ vào năm 19 tuổi. Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ
cuộc đời vương giả đi tu luyện tìm con đường diệt trừ nổi khổ của chúng
sinh. Sau sáu năm liền tu luyện, Tất Đạt Đa đã ngộ đạo, tìm ra chân lý tứ
diệu đế và thập nhị nhân duyên. Tất Đạt Đa đã trở thành Phật Thích Ca
Mầu Ni. Khi đó ngài vừa tròn 35 tuổi.
Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viết
thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn, gọi là “Tam
tạng” gồm ba bộ phận:
- Bộ kinh thứ nhất đó là Tạng kinh (sutra-Pitaka) ghi lời Phật dạy.
- Bộ kinh thứ hai đó là Tạng luật (Vinaya-Pitaka) gồm các giới luật
của đạo Phật.
- Bộ kinh thứ ba đó là Tạng luận (Abhidharma-Pitaka) gồm các bài
kinh giảng về ý nghĩa của những lời Phật dạy và ý nghĩa của việc giữ giới
luật trong tu hành. Về sau được bổ sung thêm các tác phẩm luận giải, bình
chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả đời sau.
Dù trải qua lịch sử thăng trầm hơn 2500 năm, với nhiều cách nhìn
nhận đánh giá khác nhau, nhưng Phật giáo, mà trước hết là triết lý nhân
sinh giàu lòng vị tha, thương người, rất gần gũi với con người.
7
Giáo lý Phật giáo bao gồm hệ thống quan niệm về nhận thức luận,
thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng về tính thiện có kết cấu chặt chẽ
với nhau. Mỗi yếu tố chứa đựng nội dung với chức năng riêng là tiền đề và
hệ quả của nhau. Nhân sinh quan Phật giáo là bắt nguồn từ thế giới quan.
Tuy nhiên mục đích chủ yếu của Phật giáo là thoát khổ, giải phóng con
người, mang giá trị nhân sinh sâu sắc.
Thích Ca Mầu Ni đã nhìn thấy rõ sự đau khổ ở đời sống của con
Thích Ca Mầu Ni đã xây dựng học thuyết mang đậm giá trị nhân sinh để
giải thoát, cứu khổ cho con người ra khỏi khổ nạn. Trong xã hội chiếm hữu
nô lệ ở Ấn Độ, với sự thống trị của tư tưởng duy tâm tôn giáo Bàlamôn và
chế độ phân biệt đẳng cấp khắt nghiệt, Phật giáo là tiếng nói trong làn sóng
phủ nhận Brahman và Atman. Phật giáo phủ nhận uy thế của kinh Vêđa và
Bàlamôn, tố cáo chế độ xã hội bất công đòi tự do tư tưởng và sự bình đẳng
xã hội, xóa bỏ nổi khổ trong đời sống nhân dân Ấn Độ. Đây là sự thể hiện
tinh thần phản kháng của quần chúng nhân dân đối với chế độ xã hội
đương thời. Đức Phật tuyên bố: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng
đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn”. Tư tưởng này ta
cũng bắt gặp ở Hồ Chí Minh đó là, “tất cả mọi người sinh ra đều có quyền
bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sung sướng và tự do”. Ở Hồ Chí
Minh và Phật giáo có điểm tương đồng, đều có tư tưởng bình đẳng. Họ trải
qua những tháng ngày vất vả thậm chí hi sinh cả tính mạng của mình là
xuất phát từ tấm lòng yêu thương nhân loại sâu sắc, yêu tổ quốc nồng nàn.
Phật giáo trong bối cảnh xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, đó là tiếng nói khát
vọng tự do, bình đẳng, mọi người sống yêu thương nhau.
Có thể nói, học thuyết Phật giáo là một học thuyết lớn trên thế giới.
Nó đã nhanh chóng hòa nhập vào đời sống tinh thần của các quốc gia trong
đó có Việt Nam. Nó được nhân dân ta tiếp nhận bởi triết lý nhân sinh sâu
9
sắc của nó. Triết lý nhân sinh sâu sắc ấy đã làm cho học thuyết Phật giáo
trường tồn với thời gian, được các học giả, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng
quan tâm.
1.1.2 Đối với đời sống xã hội
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều triết thuyết, học thuyết, tôn giáo trở
thành tôn giáo, hệ tư tưởng chính thống của một nước, mà nó phải có giá trị
về mặt lý luận và thực tiễn.
- Ở phương diện tín đồ, nhiều tỉnh, thành phố ở đất nước ta có số
người theo Phật giáo ngày càng đông như Bắc Ninh, Thanh Hóa, Thái
Bình, Hà Nội, Huế, v.v. Số gia đình Phật tử xuất hiện ngày càng nhiều, lễ
hội Phật giáo và sinh hoạt Phật giáo ngày một có vị trí cao trong đời sống
tinh thần xã hội.
- Số sư sãi được đào tạo từ các trường Phật học ngày càng nhiều, có
học vị cao như Hòa thượng Thích Trí Thủ, Thích Tịnh Khiết, Thích Giác
Nhiên, Thích Chân Thiện, Thích Hải Ấn, v.v. Số kinh sách xuất bản hàng
năm cũng tăng.
- Về đời sống tâm linh, tín ngưỡng, lối sống, nếp sống và đạo đức,
hơn lúc nào hết trong mấy chục năm lại đây, người Phật tử Việt Nam rất
chăm lo đến việc thực hiện các nghi lễ của đạo mình. Họ hay lên chùa
trong các ngày sóc, họ trân trọng thành kính trong khi thi hành lễ, họ siêng
năng trong việc thiền định, giữ giới, làm việc thiện. Việc ăn chay hàng
tháng trở thành thói quen không thể thiếu của người theo đạo Phật, hầu như
tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng nếp sống văn hóa này.
Ăn chay hay ăn lạt xuất phát từ quan niệm Từ bi của Phật giáo. Vì khi
đã trở về với Phật pháp, mỗi người Phật tử phải thọ giới và trì giới, trong đó
giới căn bản là không sát sanh hại vật, mà trái lại phải thương yêu mọi loài.
Trong hành động lời nói và ý nghĩ, người Phật tử phải thể hiện lòng Từ bi. Để
11
đạt được mục đích đó, người Phật tử phải dùng đến phương pháp ăn chay.
Thông thường người Việt Nam, cả Phật tử lẫn người không phải Phật tử cũng
theo tục lệ đặc biệt này, họ ăn chay mỗi tháng hai ngày, là ngày mùng một và
ngày rằm mỗi tháng. Có người ăn mỗi tháng bốn ngày là ngày 01, 14, 15 và
30, nếu tháng thiếu thì ăn chay ngày 29. Cũng có nhiều người phát nguyện ăn
chay suốt cả tháng (thường là tháng bảy âm lịch) hoặc ba tháng (tháng giêng,
tháng bảy và tháng mười) hay cả năm. Đôi khi có một số người đã phát
tay ở Chùa Hạ (Vĩnh Phú, cao 3.2m), 16 pho tượng Tổ bằng gỗ của Chùa Tây
Phương (Hà Tây), Bộ tượng Thập Bát La Hán Chùa Phước Lâm (Hội An,
Quảng Nam - Đà Nẵng) hay trong tác phẩm văn học của Nguyễn Du, Nguyễn
Gia Thiều.
Tất cả những tác phẩm trên đều mang tính chất dân tộc chính thống và
chứa đựng toàn vẹn triết lý nhân quả báo ứng và hướng thiện một cách cao
đẹp. Hay trong các câu chuyên cổ tích của người Việt Nam. Ở Việt Nam, từ
thuở xa xưa, Phật chính là “Bụt”. Bụt ở đây là cách dịch âm khác của
“Buddha” có nghĩa là Phật, là giác ngộ. Hình ảnh ông Bụt hiện lên trong
nhiều câu chuyện cổ tích như truyện Tấm Cám, Cây Khế, Thạch Sanh và Lý
Thông, Cây Tre Trăm Đốt, v.v, luôn là người đem lại niềm vui, hạnh phúc
cho những người tốt bụng mà gặp điều không may, đồng thời Bụt cũng là
người trừng phạt cái xấu, kẻ ác. Qua đây chúng ta rút ra được những triết lý
nhân sinh như ở hiền gặp lành, ở ác thì gặp ác, cái thiện sẽ thắng cái ác, cái
thiện sẽ được hưởng hạnh phúc còn cái ác tất yếu phải bị trừng trị.
Nước ta đã trải hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc
Mĩ ác liệt, đời sống còn nghèo nàn, lạc hậu cần đến sự phát triển. Sau khi học
tập và thực hiện công cuộc đổi mới, nước ta chuyển từ nền kinh tế quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã làm cho nền kinh tế nước ta có sự tăng
trưởng xã hội, nhưng bên cạnh đó cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực đến đời
13
sống xã hội Việt Nam như lối sống chạy theo đồng tiền, sống buông thả làm
tha hóa đạo đức. Tuy nhiên với sự góp mặt của Phật giáo mà nhất là ảnh
hưởng của nhân sinh quan Phật giáo làm cho đời sống xã hội Việt Nam có sự
cân bằng hơn, phong phú hơn, chúng ta hòa nhập nhưng không hòa tan, vẫn
giữ được bản sắc truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Nhân sinh quan Phật giáo đem lại trong nhân cách, phẩm chất, lối sống,
nếp sống của con người Việt Nam là lòng nhân ái và sự chia sẽ. Quán triệt
quan Phật giáo hay là triết lý nhân sinh Phật giáo. Với tư cách là một hình thái
ý thức xã hội, nhân sinh quan Phật giáo chịu sự qui định của tồn tại xã hội và
tác động của các hình thái ý thức xã hội khác. Điều này giải thích tại sao trong
lịch sử tồn tại và phát triển, nhân sinh quan Phật giáo có sự biến đổi, không
còn giữ nguyên như ở Phật giáo nguyên thủy.
Nghiên cứu chi tiết, trong lịch sử phát triển của đạo Phật ta thấy các
phái Phật giáo có những quan niệm khác nhau về nhân sinh. Phật giáo được
chia làm hai phái, phái Tiểu Thừa và phái Đại Thừa. Giữa hai phái này thì
phái Đại Thừa có số lượng tín đồ nhiều hơn phái Tiểu Thừa. Phái Tiểu thừa
coi trọng “xuất gia khổ hạnh”, chủ trương “ngã không pháp hữu”, đề cao sự
giải thoát chính mình với mục đích cuối cùng là chứng đắc La Hán. Tư tưởng
chủ yếu của Phật giáo Tiểu thừa là “tịnh độ” và “xuất thế gian”, nhấn mạnh cuộc
đời là bể khổ mà nguyên nhân là do “Thập nhị nhân duyên”. Mục đích thoát khổ
là phải xuất thế gian, xa rời cuộc sống phàm tục, diệt dục mới có thể rũ bỏ bụi
trần để đạt tới cảnh giới Niết bàn. Còn Phật giáo Đại thừa không quá đề cao xuất
gia khổ hạnh, chủ trương “ngã pháp đều không”, tự giác ngộ và giác ngộ người
khác, mục đích tu tập trở thành Phật. Giới luật của Đại thừa cũng có nhiều
biến đổi khác với giới luật của Tiểu thừa ở sự tôn nghiêm cũng như nội dung.
Nếu giới luật của Tiểu thừa tập trung vào việc đạt quả phúc cho mình, thì giới
15
luật của Đại thừa lại thường hướng đến lợi ích cho người khác. Phật giáo Đại
thừa về sau phát triển và lại chia thành nhiều bộ phái khác nhau, xuất phát từ
Ấn Độ và truyền bá ra các nước xung quanh, triết lý Phật giáo nói chung và
nhân sinh quan Phật giáo nói riêng đã biến đổi, phát triển ngày càng đa dạng
phong phú để thích nghi với truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc trong
những thời kỳ lịch sử nhất định.
Mặc dầu Phật giáo có nhiều tông phái, hơn nữa trong quá trình phát
triển, giáo lý được bổ sung hoàn thiện. Tuy vậy các tông phái vẫn đề cập đến
- Sắc: Vật chất bao gồm địa, thủy, hỏa, phong.
- Thụ: Tình cảm, cảm giác con người.
- Tưởng: Tưởng tượng, tri giác, ký ức.
- Hành: Ý thức, những yếu tố khiến tâm hoạt động.
- Thức: Ý thức theo nghĩa rộng gồm cả thụ, tưởng, hành.
Trong 5 yếu tố này thì yếu tố đầu tức là sắc bao gồm: địa, thủy, hỏa,
phong, thuộc về vật chất, còn 4 yếu tố sau tức Thụ, Tưởng, Hành, Thức là các
yếu tố thuộc về tinh thần.
Phật giáo cho rằng con người được cấu tạo bởi phần sinh lý và phần
tâm lý là sự biến đổi theo chu trình của Lục đại hoặc Ngũ uẩn. Phần sinh lý
bao gồm: địa, thủy, hỏa, phong, không được giới hạn bởi mối quan hệ sắc
hình và sắc tướng cùng với mối quan hệ cụ thể là: xương, thịt, da. Còn phần
tâm lý được biểu hiện với mối quan hệ thụ, tưởng, hành, thức cùng với các
trạng thái khác nhau của con người đó là ái, ố, nộ, hỉ, lạc, ái dục. Như vậy đây
17
cũng là sự biểu hiện trong mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác tức là không
do một đấng sáng tạo nào hay thần thánh nào tạo nên mà là sự kết hợp của
danh và sắc hay giữa tâm và vật. Con người là sự kết hợp giữa phần tâm lý và
sinh lý, khi thể xác con người mất đi thì phần tâm lý của con người mất đi
nhưng lại chuyển sang một trạng thái khác và những trạng thái này gọi là luân
hồi bởi nghiệp chi phối.
Trong các thuyết về cấu tạo con người của Phật giáo, thì thuyết Ngũ
uẩn là phổ biến hơn cả. Phật giáo cho rằng, con người không có thực thể là
“không”, gọi là “nhân vô ngã” (nhân không). Con người được tạo thành từ
Ngũ uẩn cho nên không có chủ thể hằng thường tự tại. Con người là sản vật,
tự nhiên không có hình thái cố định của tính vật chất nhưng vì đã ăn vật chất
trên thế giới nên dần hình thành khối vật chất thô kệch có sự phân biệt tính
người hiện hữu ở thế giới bên kia, chỉ có con người tồn tại trong thế giới hiện
thực. Nếu ta đem quan niệm này vào trong Phật giáo là chưa hiểu đúng Phật
giáo, mà theo Phật giáo, chết là điều kiện để có cái sinh mới sắp tới. Nó
chuyển sang một trạng thái khác, những trạng thái này gọi là luân hồi và
nghiệp. Phật giáo giải thích sự chết của con người bằng thuyết luân hồi
nghiệp báo. Khi con người hình thành thì mọi suy nghĩ, hành động được ghi
lại ở một nơi là Alaya, cứ thế tích tụ thành Karma - Luật vô hình đặc trưng
của người. Khi con người chết luật vô hình quay lại gặp điều kiện thuận lợi
tạo thành sinh linh mới chịu quả ở kiếp trước và nhân ở kiếp sau cứ thế luân
hồi. Cuộc đời con người là một mắt xích trong chuỗi dài vô tận, chỉ là một
gợn sóng trên mặt biển bao la. Cuộc sống của con người trên trần thế không
thay đổi được, nó do nghiệp cũ quy định theo luật nhân quả, mọi việc làm của
con người đều là nhân của sự kết hợp ngũ uẩn tiếp theo.
19
Học thuyết nhân quả của Phật giáo cho rằng, con người gieo nhân nào
hưởng quả ấy, ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão. Đời này ra sức học tập thì
đời sau thông minh sáng suốt, đời này lười biếng thì đời sau ngu đần dốt nát,
đời này sát sinh thì đời sau chết yểu, đời này phóng sinh thì đời sau sống lâu,
đời này làm khổ chúng sinh thì đời sau đau khổ, đời này có tâm vỗ về an ủi
người khác thì đời sau hạnh phúc, đời này giận dữ cáu kỉnh thì đời sau tướng
mạo xấu xí.
Như vậy Phật giáo quan niệm mối quan hệ nhân quả là mối quan hệ
phổ biến và chi phối tất cả. Phật giáo nguyên thủy cho thế giới này không có
nguyên nhân đầu tiên cũng như cuối cùng, thế giới không do một đấng tối cao
nào sáng tạo ra, từ đó đi đến bác bỏ mọi quan niệm cho rằng Thượng đế hay
linh hồn là lực lượng đầu tiên sáng tạo ra muôn vật. Tuy nhiên, quan niệm về
mối liên hệ nhân quả mà Phật giáo đề cập và nhấn mạnh thuộc lĩnh vực đạo
diệu đế và Thập nhị nhân duyên. Đây là quan niệm được phản ánh trong bài
thuyết pháp đầu tiên của đức Phật nhằm cắt nghĩa bản chất của nhân sinh,
nguyên nhân gây ra đau khổ và con đường khắc phục. Tứ diệu đế là bốn chân
lý giải thoát tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người đều phải nhận thức được
đó là: Khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.
a) Khổ đế (Duhkha – satya)
Triết lý nhân sinh Phật giáo cho rằng, bản chất cuộc đời con người từ
khi sinh ra và chết đi là bể khổ. Phật nói : “Đời là bể khổ, đời là cả những
chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều
hơn nước biển, vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh mặn hơn nước biển.”
Khổ đế nói lên bản chất của nhân sinh. Quan niệm nhân sinh trong triết
học Phật giáo mang tính tiêu cực yếm thế, coi đời chỉ là tạm bợ. Do vô minh,
con người không nhận thức được điều đó, do đó cứ chìm đắm mãi trong biển
21
sinh tử, luân hồi. Cuộc đời con người đầy rẫy những nỗi khổ, nhưng không ai
nhìn thấy tường tận và rõ ràng. Nỗi khổ của thế gian là khôn cùng, song có
thể chia làm ba loại khổ hay tám thứ khổ. Như vậy Phật giáo đã dựa trên hiện
thực xã hội Ấn Độ bấy giờ để đưa ra ba loại khổ và tám thứ khổ. Đánh dấu
thời kì cuộc sống của con người bị áp bức bóc lột về thể xác cũng như tinh
thần.
+ Ba loại khổ (Tam khổ) là: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
- Khổ khổ: Muốn nói tới cái khổ chồng chất nối tiếp cái khổ. Mỗi
chúng sinh là nạn nhân của bao cái khổ. Cái khổ có ở ngay thể xác như bệnh
tật hiểm nghèo lại có cái khổ khác bên ngoài thể xác như động đất, núi lữa,
sóng thần, chiến tranh. Tất cả những cái khổ đó liên tiếp dồn dập đến với con
người.
- Hoại khổ: Do sự thay đổi tạo nên tuân theo luật vô thường - không có
cái vĩnh hằng. Ca dao có câu “nước chảy đá mòn”, để nói một sự vật vững
ly: Sống phải xa nhau là khổ, nhưng người ở lại người đi vào thế giới khác thì
đó là nỗi khổ tình thương.
- Oán tăng hội khổ: nỗi khổ vì phải sống cùng với người mà mình
không hề yêu thích.
- Sở cầu bắt đắc khổ: là những nỗi khổ do con người mong muốn, ước
ao mà không được.
- Ngũ thụ uẩn khổ gây ra bởi sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm cho thân
tâm phải chịu hết thảy những nỗi khổ.
Triết lý khổ đế đã chỉ ra những nỗi khổ lớn nhất trong cuộc đời con
người. Trên bình diện triết học cái khổ còn là sự vô thường, thay đổi không
hoàn thiện. Khổ còn là trạng thái bị quyết định. Khổ trong Phật giáo có ý
nghĩa là làm cho con người vươn lên sống tốt sống thiện để đời sau tốt hơn.
Giá trị của nó còn ở chỗ thử thách con người trong đau khổ mới thấy được giá
23
trị phẩm chất con người. Nỗi khổ có ở đời khi gặp phải không làm cho tinh
thần hoảng loạn, mà phải biết bình tĩnh suy xét tìm cách giải khổ, làm chủ
được bản thân, vượt lên trên số phận. Nhưng mặc khác nó cũng bộc lộ hạn
chế đó là với triết lý khổ đế này làm cho con người chìm đắm trong đau khổ
mà không thấy mặt lạc quan. Đó là bi kịch đau khổ của con người. Phật giáo
đã không nhìn thấy khả năng phản kháng, đấu tranh vươn lên của con người.
b) Tập đế (Samudaya – satya)
Từ khổ đế Phật giáo đi đến giải thích mười hai nguyên nhân dẫn đến
nỗi khổ của con người là thập nhị nhân duyên.
Tập đế nói lên sự tập hợp, tích chứa những nguyên nhân đưa tới cái
khổ. Phật giáo cho rằng, mọi cái khổ đều có nguyên nhân của nó (Thập nhị
nhân duyên. Đó là lòng tham sống mà luân hồi sinh tử: càng tham, càng
muốn, càng được lại càng tham. Con người tham sống, tham sướng, tham mạnh,
sợ chết. Nguyên nhân của lòng tham là vô minh, vô minh nghĩa là không sáng
cứ hành động nào dù lớn hoặc nhỏ đều để lại kết quả tất yếu là nghiệp.
- Duyên thức: Thức là sự vận động của ý thức , của tư duy biến đổi
theo khuynh hướng mất cân bằng, trong sáng của tư duy, lầm lỗi không nhận
thức được chân lý với nghĩa ấy nó lại quay trở về với vô minh. Đấy chính là
sự mất cân bằng của tư duy và ý thức trong đời sống của con người.
- Duyên danh sắc: là sự tụ hợp của các yếu tố vật chất tinh thần , là sự
gặp gỡ giữa con người và vạn vật nói chung là nơi bắt đầu của nổi khổ của
con người.
- Duyên lục nhập: là căn nguyên để hình thành nổi khổ của con người
từ yếu tố bên ngoài làm cho con người mê đắm dẫn tới vô minh, ái dục.
- Duyên xúc: Là sự tiếp xúc phối hợp giữa lục căn, lục trần và thức xúc,
là quả của lục nhập, là nguyên nhân của thụ.
25