ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN XUÂN ĐÔNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ KHẢ
NĂNG TÍCH LŨY CÁC BON CỦA RỪNG VẦU
ĐẮNG (INDOSASA ANGUSTATA MC. CLURE)
THUẦN LOÀI TẠI HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Công Quân
Thái Nguyên - 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu và
kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng để
bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Xuân Đông
2. Ý nghĩa của đề tài .......................................................................................... 3
2.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài ....................................................................... 3
2.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài........................................................................ 3
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ..................................................................... 3
3.1. Mục tiêu chung ........................................................................................... 3
3.2. Mục tiêu cụ thể ........................................................................................... 3
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ....................................... 4
1.1. Những nghiên cứu trên thế giới ................................................................. 4
1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc ........................................................................... 4
1.1.2. Nghiên cứu về sinh khối ......................................................................... 6
1.1.3. Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng ..................................... 7
1.1.4. Đặc trưng về phân bố và sinh thái của tre trúc ....................................... 8
1.2. Những nghiên cứu trong nước ................................................................... 9
1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng ................................................................... 9
1.2.2. Nghiên cứu về sinh khối ....................................................................... 12
1.2.3. Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng ................................... 14
1.2.4. Nghiên cứu về cây Vầu đắng ................................................................ 17
1.3. Nhận xét chung ........................................................................................ 20
1.4. Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu.......................... 20
1.4.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên.......................................................... 20
1.4.2. Các nguồn tài nguyên ............................................................................ 22
1.4.3. Điều kiện kinh tế xã hội ........................................................................ 23
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 27
2.1. Đối tượng nghiên cứu: ............................................................................. 27
2.2. Phạm vi nghiên cứu:................................................................................. 27
iv
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 27
2.4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu .............................................. 28
Nghĩa đầy đủ của từ
Từ viết tắt
CDM
:
Clean Development Mechanism
(Cơ chế phát triển sạch)
D 1.3
:
Đường kính ngang ngực bình quân
D1.3
:
Đường kính ngang ngực
H dc
:
Chiều cao dưới cành
H vn
:
Ô dạng bản
OTC
:
Ô tiêu chuẩn
PCCCR
:
Phòng cháy chữa cháy rừng
SKKVD
:
Sinh khối khôVầu đắng
SKTVD
:
Sinh khối tươiVầu đắng
THCS
Bảng 3.13. Lượng CO2 hấ p thu ̣ trong cây bụi, thảm tươi và vật rơi rụng ............... 60
Bảng 3.14. Lượng CO2 hấ p thu ̣ của lâm phần Vầu đắng thuần loài ............... 62
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Biểu đồ phân bố bình quân số cây Vầu đắng theo cấp
đường kính ...................................................................................................... 38
Hình 3.2. Biểu đồ phân bố bình quân số cây Vầu đắng theo cấp chiều cao ... 40
Hình 3.3. Biểu đồ lượng sinh khối tươi cây Vầu đắng theo 3 cấp mật độ ...... 42
Hình 3.4. Biểu đồ lượng sinh khối tươi của cây bụi, thảm tươi ..................... 44
Hình 3.5. Biểu đồ lượng sinh khối tươi của vật rơi rụng ................................ 45
Hình 3.6. Biểu đồ sinh khối tươi lâm phần Vầu đắng thuần loài ................... 47
Hình 3.7. Biểu đồ lượng sinh khối khô cây Vầu đắng theo 3 cấp mật độ ...... 48
Hình 3.8. Biểu đồ lượng sinh khối khô của cây bụi, thảm tươi ...................... 49
Hình 3.9. Biểu đồ lượng sinh khối khô của vật rơi rụng ................................ 50
Hình 3.10. Biểu đồ sinh khối khô lâm phần Vầu đắng thuần loài .................. 52
Hình 3.11. Biểu đồ lượng các bon tích lũy của cây Vầu đắng 3 cấp mật độ .. 54
Hình 3.12. Biểu đồ trữ lượng các bon tích lũy trong cây bụi, thảm tươi ........ 55
Hình 3.13. Biểu đồ trữ lượng các bon tích lũy trong vật rơi rụng .................. 56
Hình 3.14. Trữ lượng các bon tích lũy của lâm phần Vầu đắng
thuần loài ......................................................................................................... 58
Hình 3.15. Lượng CO2 hấp thụcủa cây Vầu đắng ba cấp mật độ ................... 60
Hình 3.16. Lượng CO2 hấ p thu ̣ trong cây bụi thảm tươi ................................ 61
Hình 3.17. Lượng CO2 hấ p thu ̣ trong vật rơi rụng .......................................... 62
Hình 3.18. Lượng CO2 hấ p thu ̣ của lâm phần Vầu đắng thuần loài ............... 63
1
rừng, tuổi của lâm phần. Vấn đề đặt ra là phải xác định và dự báo được khả
2
năng tích lũy các bon của các loại rừng, các trạng thái rừng để từ đó đề xuất các
phương thức quản lý rừng làm cơ sở khuyến khích, xây dựng cơ chế chi trả
dịch vụ môi trường. Do đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu, đánh giá về khả
năng tích lũy các bon của từng kiểu thảm phủ cụ thể để làm cơ sở lượng hoá
những giá trị kinh tế mà rừng mang lại nhằm đưa ra chính sách chi trả cho các
chủ rừng và các cộng đồng rừng.
Rừng Vầu đắng là loại rừng thứ sinh hình thành sau khi rừng gỗ
nguyên sinh bị phá hoại. Vầu đắng là một loài lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị
hiện nay. Giá trị kinh tế của Vầu đắng không chỉ thể hiện ở măng Vầu đắng
thơm ngon được người tiêu dùng ưa chuộng, thân cây khí sinh của Vầu đắng
được dùng nhiều trong xây dựng, làm đồ thủ công mỹ nghệ,... Vầu đắng còn
góp phần quan trọng trong việc cải tạo đất, điều hòa tiểu khí hậu, chống xói
mòn, rửa trôi, hạn chế lũ lụt,... Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, giá trị của
rừng Vầu đắng mới chỉ được thừa nhận ở những giá trị kinh tế của nó mang lại,
những giá trị về bảo vệ môi trường, hấp khả năng tích lũy các bon của rừng
Vầu đắng vẫn chưa được thừa nhận mặc dù về mặt nhận thức chúng ta đều biết
rừng nói chung trong đó có rừng Vầu đắng nói riêng đều góp phần quan trọng
trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu, có khả năng lưu giữ khí gây ra biến đổi
khí hậu chủ yếu là CO2 nhưng lại không có đầy đủ cơ sở khoa học cũng như
thực tiễn để lượng hóa chúng.
Vầu đắng mọc tự nhiên và có nhiều ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà
Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Nguyên, cũng có và có thể
phát triển ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá.
Na Rì là huyện ở phía Đông của tỉnh Bắc Kạn có 80% diê ̣n tích là đồ i
núi. Với tổ ng diê ̣n tić h rừng tự nhiên là 56.805,83 ha chủ yế u là rừng thứ sinh
trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Phân tích được một số quy luật kết cấu lâm phần của rừng Vầu đắng thuần
loàitại huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn.
Xác định được đặc điểm sinh khối, lượng các bon tích lũy và lượng CO2hấp
thụ tương ứng của rừngVầu đắng thuầ n loài tại huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn.
Phân tích được mối quan hệ giữa sinh khối, lượng CO2hấp thụcủa rừng
Vầu đắng thuần loài với các nhân tố điều tra.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được
Richards P.W, Baur. G (1976), Odum (1971),... tiến hành. Các nghiên cứu này
đã đưa ra các quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành loài, dạng
sống và tầng phiến của rừng. Đây là những công trình nghiên cứu cơ sở rất quan
trọng và hệ thống giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cấu trúc của rừng, đặc biệt là
về cấu trúc hình thái và ngoại mạo[23], [2], [40].
Baur G. (1976) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung
và về cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó tác giả
đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh
áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Từ đó tác giả đã đưa ra những tổng kết hết sức
phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản
đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa[2].
Odum E. P (1971), đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P năm 1935. Khái niệm về
Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả đã có ý
kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng, kiểu
rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi. Richards (1952) phân rừng ở Nigeria
thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6 - 12 m, 12 - 18 m, 18 - 24 m, 24 30 m, 30 - 36 m và 36 - 42 m. Thực chất việc phân tầng này chỉ là phân chia
rừng thành các lớp chiều cao khác nhau một cách cơ giới (mỗi tầng cách nhau
6 m)[23]. Odum E. P (1971) [40], chưa thống nhất với ý kiến cho rằng có sự
phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600 m ở Puecto Rico và cho rằng không
có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả.
Li Yiqing (1992)[38]đã nghiên cứu dự đoán động thái cấu trúc đường
kính loài Pinus yunnaensis trên những ô mẫu định vị và cho biết: theo điều kiện
sinh trưởng của các cây cá thể được chia ra 4 loại như tăng trưởng đường kính
2 cm/năm, 1 cm/năm, đình trệ sinh trưởng và chết. Hai chỉ số độ lệch đường
kính bình quân và mật độ được sử dụng để mô hình hóa phân bố đường kính,
tác giả cũng đã đưa ra mô hình phỏng theo phân bố đường kính của loài với đối
tượng rừng tự nhiên.
6
1.1.2. Nghiên cứu về sinh khối
"Sinh khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong sinh quyển hoặc số
lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích, thể tích vùng”.Sinh khối là một
chỉ tiêu quan trọng thể hiện năng suất của rừng, sinh khối được dùng để nghiên
cứu một số chỉ tiêu khác như dinh dưỡng hoặc các chỉ tiêu về môi trường rừng.
Khi cơ chế phát triển sạch (CDM) xuất hiện, nghiên cứu sinh khối giữ vai trò
quan trọng hơn, được dùng để xác định lượng các bon hấp thụ bởi thực vật
rừng, góp phần định lượng giá trị môi trường do rừng mang lại.
Các nhà sinh thái rừng đã dành sự quan tâm đặc biệt đến nghiên cứu sự
khác nhau về sinh khối rừng ở các vùng sinh thái, trên cơ sở đó nhằm xác định,
lượng hóa được khả năng hấp thụ CO2 tại các trạng thái rừng đó. Tuy nhiên,
55 năm (1995 - 2050) là vào khoảng 60 - 87 Gt ( Giga tấn) C, với 70% ở rừng
nhiệt đới, 25% ở rừng ôn đới [31]. và 5% ở rừng cực bắc (Cairns et al., 1997)
[ 27]. Tính tổng lại, rừng, trồng rừng có thể hấp thu được 11 - 15% tổng lượng
CO2 phát thải từ nguyên liệu hóa thạch trong thời gian tương đương (Brown,
1997) [32].
Một nghiên cứu của Joyotee Smith và Sara J.Scherr (2002) đã định lượng
được lượng các bon lưu giữ trong các kiểu rừng nhiệt đới và trong các loại hình
sử dụng đất ở Brazil, Indonesia và Cameroon, bao gồm trong sinh khối thực vật
và dưới mặt đất từ 0 - 20 cm. Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng các bon lưu
trữ trong thực vật giảm dần từ kiểu rừng nguyên sinh đến rừng phục hồi sau
nương rẫy và giảm mạnh đối với các loại đất nông nghiệp. Trong khi đó phần
dưới mặt đất lượng các bon ít biến động hơn, nhưng cũng có xu hướng giảm
dần từ rừng tự nhiên đến đất không có rừng (Joyotee Smith và cộng sự, 2002)
[37].
Lasco (1999) rừng tự nhiên thứ sinh ở Philippine có 86-201tấn C/ha trong
phần sinh khối trên mặt đất, ở rừng già là 370-520 tấn sinh khối /ha (tương
đương 185-260 tấn C/ha, lượng các bon ước tính 50% sinh khối) [41].
Abu Bakar (2000) Rừng Malaysia lượng các bon biến động từ 100-160
tấn/ha nếu tính cả sinh khối trong đất là 90 - 780 tấn/ha [30].
Theo MC Kenzie (2001) Các bon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung
ở 4 bộ phận chính: Thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và
đất rừng. Việc xác định lượng các bon trong rừng thường được thực hiện thông
qua xác định sinh khối rừng [39].
1.1.4. Đặc trưng về phân bố và sinh thái của tre trúc
Có nhiều nghiên cứu về phân bố và sinh thái của tre trúc. Các nghiên cứu
9
tập trung tới nhân tố khí hậu, vĩ độ, địa hình, đất đai và xác định được vùng
10
rừng theo không gian và thời gian. Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái,
cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi [16].
Trần Ngũ Phương (1970) đã chỉ ra đặc điểm cấu trúc của các thảm thực
vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát và tình hình
rừng miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1961 - 1965. Nhân tố cấu trúc đầu tiên được
nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển của hệ sinh
thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.
Nghiên cứu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở nước ta, Thái Văn
Trừng (1963, 1970, 1978) đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng thứ như: tầng vượt
tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B), tầng
cỏ quyết (C). Ông đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt
cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng
cây bụi thảm tươi được phóng đại với tỷ lệ nhỏ hơn và ký hiệu thành phần loài
cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí
hậu, vị trí địa lý, địa hình. Bên cạnh đó tác giả này còn dựa vào tiêu chuẩn để
phân chia các kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ưu thế của
thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái
sinh thái của nó và trạng thái mùa của tán lá. Với những quan điểm trên, Thái
Văn Trừng đã phân chia các kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu.
Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng
theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể.
Đào Công Khanh đã thử nghiệm phương pháp nghiên cứu một số quy
luật cấu trúc, sinh trưởng phục vụ điều chế rừng lá rộng, hỗn loài thường xanh
ở Kon Hà Nừng - Gia Lai và cho rằng đa số các loài cây có cấu trúc đường kính
và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng của lâm phần đồng thời cấu trúc của
loài cũng có biến động [17].
Nghiên cứu về cấu trúc rừng khộp cũng được nhiều tác giả quan tâm.
Theo Hồ Viết Sắc (1984) thì rừng khộp là rừng hỗn loài ưu hợp họ dầu có kết
hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo
cỡ kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt
12
Nam[12]. Nguyễn Hải Tuất (1982, 1986) đã sử dụng hàm phân bố giảm phân
bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trình Poisson
vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng. Trần Văn Con (1990) đã áp dụng hàm
Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở Đắk Lắk [6]; Bùi
Văn Chúc (1996) đã nghiên cứu cấu trúc rừng phòng hộ ở đầu nguồn lâm trường
Sông Đà ở trạng thái rừng IIA1, IIIA1 và rừng trồng làm cơ sở cho việc lựa
chọn loài cây trồng[5],…
Bảo Huy (1993) trong nghiên cứu cấu trúc rừng Bằng lăng ở Tây Nguyên
đã thử nghiệm 5 dạng phân bố lý thuyết là Poisson, khoảng cách, hình học,
Mayer và weibull để mô phỏng các cấu trúc của các nhân tố điều tra[14].
Nghiên cứu cấu trúc rừng định lượng các nhân tố cấu trúc và xây dựng
các mô hình mẫu chuẩn phục vụ khai thác, nuôi dưỡng rừng là mục tiêu quan
trọng nhằm vạch ra phương hướng và phương pháp điều chế rừng. Nguyễn Văn
Trương (1973 - 1986) đã nghiên cứu về phương pháp thống kê cây đứng, cấu
trúc 3 chiều rừng gỗ hỗn loài và đề xuất các mô hình cấu trúc mẫu định lượng
bằng toán học phục vụ công tác khai thác, nuôi dưỡng rừng. Theo tác giả đây
là những mô hình hoàn thiện nhất đã có trong thiên nhiên và trên cơ sở khắc
phục những tồn tại lớn mà sự ngẫu nhiên của thiên nhiên mang lại.
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trên cho thấy trong thời gian qua,
việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh
chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu
quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng. Tuy nhiên, các
nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về việc mô hình hoá các quy
luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng
và rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối khô là 132,2 – 223,4
tấn/ha [7].
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường
Vân (2004) [18] đã sử dụng biểu quá trình sinh trưởng và biểu sinh khối
(Biomass) để tính toán sinh khối cho một số loại rừng.
14
Nguyễn Duy Kiên (2007) [15], khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 rừng
trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) tại Tuyên Quang đã cho thấy sinh khối tươi
trong các bộ phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ khá ổn định, sinh khối tươi tầng
cây cao chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75-79%; sinh khối cây bụi thảm tươi chiếm tỷ
trọng 17- 20 %; sinh khối vật rơi rụng chiếm tỷ trọng 4-5%.
Kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu ”Nghiên cứu sinh khối và khả năng
cố định các bon của rừng Mỡ (Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên
Quang và Phú Thọ” cho thấy, cấu trúc sinh khối cây cá thể Mỡ gồm 4 phần
thân, cành, lá và rễ, trong đó sinh khối tươi lần lượt là 60%, 8%, 7% và 24%;
tổng sinh khối tươi của một ha rừng trồng mỡ dao động trong khoảng từ 53,4 309 tấn/ha, trong đó: 86% là sinh khối tầ ng cây gỗ, 6% là sinh khối cây bụi
thảm tươi và 8% là sinh khối của vật rơi rụng (Lý Thu Quỳnh, 2007) [22].
Võ Đại Hải và các cộng sự (2009) [11] khi nghiên cứu về sinh khối 4 loại
rừng trồng cho kết quả: Rừng trồng Thông mã vĩ từ 5 - 30 tuổi sinh khối từ
21,12 - 315,05 tấn/ha; rừng trồng Thông nhựa từ 5 - 45 tuổi có sinh khối từ
20,79 - 174,72 tấn/ha; rừng trồng Keo lai từ 1 - 7 tuổi có sinh khối từ 4,09 138,13 tấn/ha; rừng trồng Bạch đàn urophylla từ 1-7 tuổi có sinh khối từ 5,67 117,92 tấn/ha; rừng trồng Mỡ từ 6-18 tuổi có sinh khối từ 35,08 - 110,44 tấn/ha;
rừng trồng Keo lá tràm từ 2 - 12 tuổi có sinh khối từ 7,29 - 113,56 tấn/ha. Bên
cạnh đó tác giả thiết lập các phương trình tương quan giữa sinh khối với các
nhân tố điều tra lâm phần: đường kính D1.3, Hvn, N/ha, tuổi lâm phần, mối quan
hệ giữa sinh khối tươi và sinh khối khô, sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất
theo các cấp đất.
1.2.3. Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của rừng
tích lũy trong thân cây so với khối lượng tươi dao động từ 14,1% - 31,8%.
Nghiên cứu cũng đã xây dựng mối quan hệ giữa lượng CO2 hấp thụ với các
nhân tố điều tra cây cá thể làm cơ sở dự báo lượng CO2 tích lũy theo các chỉ
tiêu lâm phần. Tác giả cũng đã lượng giá hấp thụ CO2 theo lâm phần: trạng thái
16
rừng IIAB 303.811 đồng/năm; rừng IIIA1 là 607.622 đồng/năm; trạng thái IIIA2
là 911.434 đồng/năm [1].
Bảo Huy (2009) đã sử dụng phương pháp chặt hạ để đo đếm sinh khối và
thiết lập mô hình toán cho ước tính sinh khối và trữ lượng các bon của rừng lá
rộng thường xanh theo các trạngthái: non, nghèo, trung bình và giàu ở Tây
Nguyên. Đây là nghiên cứu về rừng tự nhiên đầu tiên tại Việt Nam. Tuy nhiên
nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xác lập các mô hình tính toán sinh khối và
trữ lượng các bon phần trên mặt đất. Các bể chứa các bon khác như trong đất,
thảm mục và cây chết, tầng thảm tươi cây bụi không được đề cập trong nghiên
cứu [13].
Đặng Thịnh Triều (2010) trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu khả năng
cố địnhcác bon của rừng trồng Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lambert) và
Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh et. de Vriese) làm cơ sở xác định giá trị môi
trường rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam” đã xác định được khả năng
tích lũy các bon ở cấp tuổi 6 của lâm phần Thông mã vĩ khoảng từ 115,21 - 178,68
tấn/ha, của lâm phần Thông nhựa khoảng 117,05 - 135,54 tấn/ha tùy thuộc vào
cấp đất, đồng thời tác giả cũng đã xây dựng được bảng tra khả năng tích lũy các
bon của cây cá thể cũng như lâm phần Thông mã vĩ và Thông nhựa chung và riêng
cho từng cấp đất, xác định được giá trị thương mại các bon của rừng trồng
Thông nhựa và Thông mã vĩ theo từng cấp đất [27].
Đỗ Hoàng Chung và cộng sự (2010) [4] đã đánh giá nhanh lượng Các bon
tích lũy trên mặt đất của một số trạng thái thảm thực vật tại Thái Nguyên, kết
thân già màu lục xám. Chiều dài lóng giữa thân 30 - 50cm, dài nhất đến 80cm,
vòng thân hơi nổi lên, nhất là những lóng giữa thân trở lên; vòng mo không có
lông. Cây phân cành muộn, phần không có cành thường tròn đều, vòng đốt
không nổi rõ. Phần thân tre có cành, thường có vết lõm dọc lóng, đốt phình to,
gờ nổi cao. Cành thường 3, đôi khi 2 hay 1. Bẹ mo sớm rụng, hình thang dài và
hẹp, lúc non màu lục hồng sau khi khô màu nâu nhạt, lưng có nhiều sọc dọc,
giữa các sọc có lông cứng màu nâu, mép có lông mi rõ; tai mo không phát triển,
thay vào đó là 4 - 6 lông mi dài 7 - 15cm, đứng thẳng; lưỡi mo nhỏ, cao 2 - 5