1
Giáo dục Việt Nam thời độc lập hiện đại (1945 - 2005)
Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt và cũng là chức năng xã hội.
Giáo dục là một hệ thống lớn trong hệ thống xã hội, có liên quan mật thiết đến
việc hình thành và phát triển con người, nhân tố quyết định sự phát triển của
xã hội loài người. Giáo dục có tính phổ biến và tính vĩnh hằng cùng với sự ra
đời, tồn tại và phát triển cùng với con người. Vì vậy, bất cứ một quốc gia, dân
tộc nào cũng có lịch sử một nền giáo dục của riêng mình.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử , Việt Nam đã có một nền văn hiến rực
rỡ với hệ thống giáo dục quốc dân như một trụ cột cơ bản. Trong tầng sâu văn
hóa Việt Nam hàm chứa những hoạt động giáo dục mạnh mẽ để có thể lưu
truyền và phát triển những kinh nghiệm lịch sử, xã hội từ đời này qua đời
khác, từ địa phương nọ qua địa phương kia. Giáo dục Việt Nam có cội nguồn
sâu xa từ sự hình thành các cộng đồng dân cư trên vùng lãnh thổ của đất nước
ta. Ngay từ buổi ban đầu, cư dân nước ta đã lấy nông nghiệp lúa nước làm
sinh kế chính. Đặc điểm này đã dẫn đến hình thành nên các cộng đồng làng
xã, tạo ra một nền văn hóa riêng, một cách ứng xử riêng, một tâm lý xã hội
khác với phương Bắc và nhiều nước khác. Tổ tiên người Việt Nam chúng ta
đã sớm tạo nên một nền văn hóa, văn minh rực rỡ, mang bản sắc riêng của
dân tộc. Nền văn hóa, văn minh sớm này đã tạo cho người Việt Nam chúng ta
một bản lĩnh văn hóa riêng vững vàng, chứng minh vì sao các dân tộc Bách
Việt khác ở phía nam sông Dương Tử lần lượt bị Hán hóa mà riêng Việt Nam
vẫn trụ vững, không những thoát khỏi được sự đồng hóa của phương Bắc mà
còn “Việt hóa các giá trị ngoại nhập từ phương Bắc và bảo toàn các giá trị
thuần Việt” mặc dù phải trải qua hàng ngàn năm trong đêm trường lệ thuộc;
không những thế mà dân tộc nhỏ bé này còn đấu tranh kiên cường, bền bỉ để
trở thành một dân tộc độc lập, tự chủ hơn 65 năm qua.
3
III. Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
IV. Số liệu thống kê qua các thời kỳ.
Cuốn sách do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2005 tại Hà Nội.
Nội dung
Căn cứ vào bố cục cuốn sách ngoài phần I: Tổng luận lịch sử phát triển
giáo dục Việt Nam và phần IV: Số liệu thống kê qua các thời kỳ, chúng ta có
thể thấy “Giáo dục Việt Nam 1945 - 2005” có hai thời kỳ chính đó là: Giáo
dục Việt Nam thời kỳ 1945 - 1986 và Giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới,
đây chính là nội dung trọng tâm của tác phẩm.
Phần Tổng luận lịch sử phát triển giáo dục Việt Nam.
Mặc dầu các khoa học lịch sử và khoa học khảo cổ chưa đủ chứng tích
để phác họa nên quá trình phát triển của nền giáo dục Việt Nam một cách thật
toàn diện, thật đầy đủ. Nhưng căn cứ vào những gì hiện có các tác giả đã
khẳng định và khái quát một cách cô đọng nhất tiến trình lịch sử giáo dục Việt
Nam đã tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của dân tộc Việt
Nam từ nhiều ngàn đời nay. Đồng thời các tác giả đã phân kỳ lịch sử sự phát
triển giáo dục Việt Nam thành các thời kỳ lớn là: Thời kỳ tiền sử: tính bản
địa; Thời kỳ trước bắc thuộc: tính bản địa và tính giao lưu, hội nhập (thời kỳ
An Dương Vương - Triệu Đà); Thời kỳ bắc thuộc (Phật - Lão - Nho): Hán
hóa và chống Hán hóa; Thời độc lập trung đại và cận đại: đồng hóa, dung nạp,
du nhập Hán học; Thời thuộc Pháp và Thời độc lập hiện đại (thời kỳ này đã
được các tác giả làm rõ trong nội dung tác phẩm).
Trong phần Tổng luận lịch sử phát triển giáo dục Việt Nam, các tác giả
đã lược sử sự phát triển giáo dục nước ta từ thời Tiền sử đến Thời thuộc Pháp,
mặc dầu ngắn gọn nhưng đã làm nổi bật lên sức sống mãnh liệt của nền văn
hóa Việt Nam trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử đấu tranh dựng nước
và giữ nước. Chúng ta tự hào rằng Việt Nam học tập văn hóa Trung Hoa
đến tận cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XI.
Cùng với chống nạn mù chữ Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa
đã có những chủ trương cải tổ và xây dựng bước đầu đối với toàn bộ hệ
thống quốc dân.
5
Nhiệm vụ của giáo dục là “mở đại học và trung học, cải cách việc học
theo tinh thần mới, bài trừ cách học nhồi sọ”.
Mục đích của nền giáo dục mới là: “tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí
khí, phát triển tài năng” của mọi người để “phụng sự đoàn thể và góp phần
vào cuộc tiến hóa chung của nhân loại.
Phương pháp của nền giáo dục mới là xóa bỏ lối học nhồi sọ, lối học
hình thức, chú trọng phần thực học, đề cao tinh thần khoa học.
Về cơ sở pháp lý, Chính phủ triển khai chính sách giáo dục mới bằng
các sắc lệnh số 146/SL; số 147/SL ngày 10/8/1946 khẳng định các nguyên tắc
căn bản của nền giáo dục mới: đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa và
theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ và các bậc học trong hệ
thống giáo dục quốc dân, ấn định thêm những điều khoản pháp lý để thực
hiện bậc học cơ bản: không phải trả tiền, các môn học dạy bằng tiếng Việt, kể
từ năm 1950 trở đi tất cả trẻ em từ 7 đến 13 tuổi đều có thể vào các trường
học.
Những sắc lệnh nói trên có ý nghĩa lịch sử lớn lao, khẳng định tính ưu
việt của chế độ mới “ai cũng được học hành”, là cơ sở định hướng, điều chỉnh
các hoạt động giáo dục nước ta và vẫn còn giá trị đến ngày nay.
Nhà trường trong chế độ mới bắt đầu chuyển hướng từ nền sư phạm
quyền uy sang nền sư phạm dân chủ, cùng sự đổi mới về phương pháp giáo
dục, dạy học của các nhà giáo, bước đầu hình thành ý thức tự quản của học
sinh thông qua thành lập các tổ chức đoàn thể của học sinh. Trong chế độ mới
phù hợp với bước tiến của dân tộc.
* Quan điểm và những chủ trương lớn của cuộc cải cách giáo dục năm
1950.
Bản chất của nền giáo dục mới là: giáo dục mang bản chất giai cấp sâu
sắc. Nhân dân Việt Nam nhất thiết phải xây dựng dược nền giáo dục dân chủ
7
nhân dân phù hợp với lới ích cơ bản của mình sau khi đã giành được quyền
làm chủ của mình về chính trị.
Mục đích của cải cách giáo dục lần này là phải hủy bỏ triệt để nền giáo
dục nô lệ cùng với những tàn dư của nó về nội dung lẫn phương pháp, phải
xây dựng cơ sở tư tưởng mới về nền giáo dục dân chủ nhân dân theo những
thiết chế giáo dục và hệ thống tổ chức giáo dục tương ứng.
Tính chất nền giáo dục là của dân, do dân, vì dân.
Nguyên tắc nền giáo dục: dân tộc, khoa học, đại chúng phục vụ lợi ích
của nhân dân Việt Nam, đấu tranh chống đế quốc và phong kiến, giành độc
lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày.
Mục tiêu đào tạo của nhà trường là giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ thành
những người “công dân lao động tương lai” trung thành với chế độ dân chủ
nhân dân và có đủ phẩm chất năng lực phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân.
Nội dung giáo dục nhằm vào việc bồi dưỡng người học có tinh thần dân
tộc, lòng yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần yêu chuộng lao động, tôn trọng của
công, tinh thần tập thể, phương pháp suy luận và thói quen làm việc khoa học.
Như vậy, so với giai đoạn từ khi thành lập nước cho đến trước năm
1950 thì giáo dục nước ta đã có sự phát triển về mọi mặt, không chỉ là chống
nạn mù chữ mà còn là giáo dục, đào tạo những con người mới có đủ đức, tài
vừa kháng chiến vừa kiến quốc, phục vụ nhân dân...
Các tác giả cũng đã khái quát tình hình xây dựng cơ cấu hệ thống giáo
Mục đích nền giáo dục cũng có sự phát triển hợp với xu thế của thời đại
đó là tiến lên xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa đồng thời nhằm mục đích
thiết thực thể hiện khát vọng của dân tộc là thực hiện thống nhất nước nhà
trên cơ sở độc lập và dân chủ.
Nội dung giáo dục cũng toàn diện hơn gồm đức, trí, thể mỹ.
Phương châm giáo dục là “Liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà
trường với đời sống xã hội”, phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn
giáo dục của nước ta.
9
Hệ thống giáo dục phổ thông được xác định rõ ràng và khoa học hơn kể
cả cấp học, thời gian học, đánh giá kết quả từng cấp học phù hợp với quy luật
khách quan của nhận thức.
IV. Giáo dục Việt Nam thời kỳ 1957 - 1975
Đây là một thời kỳ dài, chồng chất những khó khăn thử thách đối với
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta nói chung và của sự nghiệp giáo dục đào tạo nói riêng. Chúng ta phải tiến hành đấu tranh quyết liệt trên mặt trận
chính trị, tư tưởng chống lại các quan điểm, tư tưởng phản động, sai trái của
chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai. Cả nước vừa phải đối phó với sự leo thang
chiến tranh ngày càng ác liệt của chủ nghĩa đế quốc do đế quốc Mỹ đứng đầu
và bè lũ tay sai phản động. Kẻ thù đã sử dụng mọi chiến lược, mọi học thuyết
chiến tranh, huy động mọi lực lượng, tiền của của một quốc gia giàu có và
hùng mạnh bậc nhất thế giới nhằm xâm lược bằng được nước ta. Nhưng dưới
sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh quân và dân ta đã đoàn kết một lòng tiến hành thắng lợi cuộc chiến
tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta đã chiến thắng một cuộc chiến tranh
được coi là tàn khốc nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của
nhân dân ta, đồng thời đó cũng là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử các
cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của dân tộc Việt Nam. Cùng với nhiệm
phải phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ, xây dựng kinh tế và văn hóa xã
hội chủ nghĩa và việc nâng cao không những trình độ văn hóa của nhân dân
lao động.
So với phương hướng, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo giai đoạn trước thì ở
đây có sự cụ thể hóa nhiệm vụ là giáo dục - đào tạo cho thế hệ trẻ, cho nhân dân
lao động mà còn đào tạo cán bộ xây dựng kinh tế và văn hóa xã hội chủ nghĩa.
Nguyên lý giáo dục, phương châm giáo dục một cách hệ thống và toàn
diện hơn so với các chỉ thị trước đây. Đó là: phải nằm vững nguyên lý giáo
dục kết hợp với lao động sản xuất và các phương châm: lý luận gắn liền vơi
thực tế, học đi đôi với hành, giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục của
11
xã hội. Đây là bước phát triển mới của của nguyên lý giáo dục của Đảng ta và
đến ngày nay vẫn còn giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Về phương thức giáo dục, Đảng ta chỉ ra phát triển giáo dục theo
quy mô lớn, phát triển vừa nhiều, vừa nhanh (đáp ứng yêu cầu thực tiễn
của chiến tranh) nhưng đồng thời phải luôn coi trọng việc nâng cao chất
lượng giáo dục...đi đôi với giáo dục văn hóa phải thực hiện giáo dục kỹ
thuật (đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước).
Đại hội lưu ý việc phải tăng cường công tác đoàn thanh niên trong nhà
trường và trong giai đoạn này Đảng ta nhấn mạnh cần đặc biệt coi trọng công
tác “đào tạo bồi dưỡng thầy giáo về các mặt chính trị và tư tưởng cũng như về
mặt nghiệp vụ và văn hóa công tác”. Cũng trong giai đoạn này vai trò của
giáo dục cũng được nhấn mạnh trong tương quan với phát triển kinh tế, đây là
nét mới thể hiện sự phát triển tư duy về giáo dục của Đảng ta đã đánh giá toàn
diện hơn về các chức năng của giáo dục so với thời kỳ đầu.
Các tác giả đã trình bày cụ thể những thành tựu giáo dục phục vụ sự
nghiệp chống Mỹ, cứu nước thực thiện cuộc đấu tranh thống nhất nước
V. Tình hình giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 1975 - 1985
* Bối cảnh chính trị xã hội
ở Việt Nam, thời kỳ 1975 - 1985 được mở đầu bằng sự toàn thắng của
dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng kéo dài trong suốt 30
năm. Thắng lợi vĩ đại đó đã mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất và chủ nghĩa
xã hội trên toàn đất nước Việt Nam. Đây là thời kỳ mà nước ta đang trong
tình thế vừa có hòa bình vừa phải đương đầu với một kiểu chiến tranh phá
hoại nhiều mặt của kẻ thù; cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược:
“Một là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; Hai là sẵn sàng chiến đấu, bảo
vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Các tác giả đã khái quát những thành tựu mà nhân dân ta đã đạt được
trong thời kỳ này thể hiện xu thế phát triển có tính xã hội chủ nghĩa trong
lực lượng sản xuất ở Việt Nam, đồng thời cũng nêu lên những mặt tồn tại,
yếu kém, mất cân đối nghiêm trọng trong toàn bộ cơ cấu kinh tế ...Những
13
thiếu sót và sai lầm chủ quan trong quản lý kinh tế - xã hội giữa hai kỳ Đại
hội IV và V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Ban chấp hành Trung
ương Đảng kiểm điểm nghiêm khắc, đồng thời Ban bí thư, Hội đồng Bộ
trưởng đã đề ra những Nghị quyết, chỉ thị đã tháo gỡ những vưỡng mắc
trong sản xuất, phát huy năng lực sáng tạo trong sản xuất của đông đảo
quần chúng lao động. Việc thực hiện cơ chế “khoán” sản phẩm đến nhóm
và người lao động đã mở một hướng mới trong quản lý sản xuất trong
công nghiệp cũng như nông nghiệp. Đây chính là bước đột phá trong việc
đổi mới tư duy của Đảng ta, mở đầu cho công cuộc đổi mới đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang thực hiện từ đó đến nay.
* Phương hướng cơ bản của đường lối xây dựng và phát triển giáo dục
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1954 đã bộc lộ những thiếu sót mà những cải tiến cục bộ không thể bổ sung
được. Cải cách toàn bộ hệ thống giáo dục trở thành một đòi hỏi khách quan.
Tháng 1 năm 1979, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về cải cách giáo dục. Hai cuộc cải cách
giáo dục trước đây xác định bản chất, mục đích; xác lập tính chất, nguyên tắc,
phương châm, mục tiêu, nội dung giáo dục - đào tạo của nền giáo dục mới thì
cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này có bước phát triển phù hợp với tình
hình cách mạng trong thời kỳ mới thời kỳ cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội,
nên có mục tiêu, nhiệm vụ lớn hơn, rộng hơn, toàn diện hơn, nhưng cũng cụ
thể hơn đó là: Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thủa ấu
thơ cho đến lúc trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con
người Việt Nam mới, người lao động, người làm chủ tập thể và phát triển toàn
diện; thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân, góp phần xây dựng quyền làm chủ
tập thể của nhân dân lao động, tạo điều kiện cho việc tiến hành ba cuộc cách
mạng; đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn, đội ngũ lao động mới
có phẩm chất cách mạng, có trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý phù hợp
với yêu cầu phân công lao động trong nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Cải
15
cách giáo dục dựa trên những nguyên lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ
nghĩa: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường
gắn liền với xã hội. Các tác giả cũng đã khái quát các chủ trương, chính sách
cụ thể của Đảng và nhà nước nhằm triển khai, tổ chức thực hiện công cuộc cải
cách giáo dục sau khi nghị quyết cải cách giáo dục được ban hành; đồng thời
trình bày những hoạt động cụ thể việc thực hiện nhiệm vụ cải cách giáo dục
trên các mặt như: Phân tích các chỉ tiêu giáo dục phổ thông và mẫu giáo;
thống kê những hoạt động cụ thể nhằm mở rộng khả năng học tập của thanh
niên; những phương hướng, nguyên tắc cơ bản của việc thực hiện nội dung
được. Một thời kỳ có những khó khăn phức tạp của con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội từ một nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ biến, một thời kỳ có những
đảo lộn kinh tế và xã hội sau một cuộc chiến tranh lâu dài. Trong muôn vàn
khó khăn của đất nước nền giáo dục Việt Nam đã hoàn thành được sứ mệnh
của mình, đã gắn chặt với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, trở thành một
bộ phận quan trọng của cách mạng tư tưởng văn hóa, một nhân tố quan trọng
thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của đất nước.
Phần thứ Hai
Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
I. Giáo dục Việt Nam 1986 - 1995
* Giáo dục Việt Nam với chủ trương đổi mới toàn diện
Các tác giả đã khái quát bối cảnh chính trị - xã hội và thực trạng của
ngành giáo dục trong giai đoạn này trước yêu cầu đổi mới cùng với sự đổi
mới của đất nước. Từ sau Đại hội VI của Đảng, ngành giáo dục - đào tạo đã
thực hiện đổi mới theo hướng đồng bộ, toàn bộ, toàn diện, sâu sắc. Ngành đã
tích cực điều chỉnh cuộc cải cách giáo dục nhằm đưa nền giáo dục và đào tạo
vào quy mô mới phù hợp với định hướng đổi mới kinh tế - xã hội của nước ta,
hợp với xu thế phát triển giáo dục của các nước phát triển trên thế giới.
17
Tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong giai đoạn mới, ngành giáo dục cần đa
dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo, ban hành quy chế
của các trường, lớp dân lập, tư thục. Mở một số trường năng khiếu với sự đầu
tư đặc biệt và hệ thống trường dành cho trẻ em khuyết tật và con em các dân
tộc thiểu số. Bên cạnh đó, ngành giáo dục cần hết sức quan tâm đến việc
chuẩn bị lao động cho xã hội. Do đó, cần mở rộng các hình thức phổ cập nghề
nghiệp cho thanh niên, chú trọng đội ngũ công nhân lành nghề, tổ chức lại các
mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học. Đây chính là bước ngoặt quan
trọng trong sự phát triển của ngành giáo dục Việt Nam, đánh dấu bước trưởng
thành của nền giáo dục cùng với sự phát triển chung của lịch sử.
Tháng 6 năm 1991 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra mục
tiêu cho ngành giáo dục là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực
thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần
yêu nước xã hội chủ nghĩa. Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn
diện, có năng lực chuyên môn, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Nhiệm vụ của ngành giáo dục 1991 - 1995 là: tiếp tục đổi mới, ổn định
phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Coi trọng chất lượng
giáo dục chính trị, đạo đức cho học sinh và sinh viên ; hiện đại hóa một bước
nội dung, phương pháp giáo dục; dân chủ hóa nhà trường và quản lý giáo dục;
đa dạng hóa loại hình đào tạo và loại hình trường lớp, từng bước hình thành
những trường bán công, dân lập, tư thục (dạy nghề), phát triển loại hình vừa
học vừa làm. Mở rộng đào tạo nghề; bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học,
công nghệ, kinh doanh, quản lý kinh tế, xã hội và nhiều công nhân lành nghề.
Tháng 1 năm 1993, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị
lần thứ 4 ra nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Văn kiện Đại hội Đảng VII và Nghị quyết Trung ương 4 đã xác định
những quan điểm chiến lược và phương hướng tiếp tục đổi mới sự nghiệp
giáo dục nước nhà trong giai đoạn mới.
Các tác giả đã trình bày những thành tựu phát triển nền giáo dục Việt
Nam trong giai đoạn 1986 - 1995 như: phát triển giáo dục mầm non; giáo dục
phổ thông; giáo dục chuyên nghiệp; giáo dục đại học; giáo dục thường xuyên.
19
Hệ
Hệ khác
Trường
QLGD
viên
tập
tu
tại chức
59
79
93
102
105
105
105
104
96
9.642
16.386
18.717
20.890
2.479
2.945
9.976
51.525
27.259
38.842
14.942
15.800
3.997
9.236
12.803
7.320
5.940
68.235
96.285
31.120
117.145
Bảng thống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại
học) Giai đoạn 1990 - 1994.
Năm học
1990-1991
1991-1992
Số sinh viên
Sinh viên
tuyển mới
đang đào tạo tại
tốt nghiệp
Trong
trường
Trong
Trong
Tổng
đó:Hệ
Tổng
đó:Hệ
Tổng
đó:Hệ
số
21094
20705
18828
20908
13327
Các tác giả cũng đã nêu lên một số hạn chế trong quá trình đổi mới giáo
dục trong giai đoạn này, đồng thời đưa ra những bài học kinh nghiệm để phát
triển sự nghiệp giáo dục trong những giai đoạn tiếp theo.
II. Giai đoạn 1996 - 2003: chặng đường mới của nền giáo dục và
đào tạo Việt Nam
20
Giai đoạn 1996 - 2003 là giai đoạn phát triển mang thính bản lề của nền
giáo dục và đào tạo Việt Nam. Các mục tiêu, chiến lược phát triển giáo dục
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được đặt ra trong
nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Tháng 12 năm 1996 Nghị
quyết Trung ương 2 khóa VIII chuyên đề về giáo dục và đào tạo ra đời. Tháng
12 năm 1998, Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua. Đó là những thời
điểm quan trọng đánh dấu bước tiến mới của nền giáo dục nước nhà.
Hệ thống giáo dục quốc dân hiện có đủ các cấp học, bậc học ngành học
và phương thức giáo dục; Trong tất cả các bậc học, ngoài hệ thống các trường
công lập còn có các trường bán công, dân lập và tư thục. Bên cạnh hệ thống
các trường lớp chính quy, ở tất cả các địa phương còn phát triển các trung
tâm, cơ sở giáo dục không chính quy, đáp ứng nhu cầu của người học từ xóa
mù chữ, nâng cao trình độ đến học nghề, tin học, ngoại ngữ.
Số lượng học sinh, sinh viên ngày càng tăng; các mục tiêu chiến lược
như nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài đã đạt được một
doanh nghiệp, các cá nhân cũng tích cực hưởng ứng phong trào này với cả
tinh thần trách nhiệm và lòng hảo tâm vì sự phát triển của nền giáo dục nước
nhà. Phải nói đây là một chủ trương đã có từ lâu, trong các giai đoạn trước
chúng ta cũng đã tổ chức thực hiện ở những mức độ khác nhau, ở các bậc học
khác nhau (Phong trào Bình dân học vụ những năm 1945 đến những năm
1960 hay đổi mới giáo dục đại học từ những năm 1987...) và đến giai đoạn
này sự nghiệp xã hội hóa giáo dục đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những
thành tựu to lớn góp phần thực hiện thắng lợi tư tưởng của Bác Hồ, quan
điểm của Đảng ta “ai cũng được học hành”, “xây dựng một xã hội học tập”,
“đào tạo liên tục, giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời”.
Các số liệu thống kê dưới đây cho ta thấy sự phát triển của giáo dục
Việt Nam giai đoạn 2000 - 2003 so với giai đoạn 1995 - 2000; và giai đoạn
22
1990 - 1994 (chỉ thống kê so sánh vấn đề Trường - Cán bộ giảng dạy - sinh
viên cấp Cao đẳng và Đại học).
Bảng thống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại
học) Giai đoạn 1995 - 2000.
Năm học
Trườn
Cán
g phân
bộ
22313
23514
25774
28035
30309
trường
Trong
Trong
Tổng
đó:Hệ
Tổng
đó:Hệ
Tổng
đó:Hệ
số
138572
181990
206616
216131
195160
23108
26831
34482
59232
73743
Bảng thống kê Trường - cán bộ giảng dạy - sinh viên (Cao đẳng và Đại
học) Giai đoạn 2000 - 2003.
Năm học
Trườn
g phân
Cán
Số sinh viên
Số sinh viên
Sinh viên
bộ
tuyển mới
đang đào tạo tại
tốt nghiệp
số
151294 918228
163643 974119
168018 1020667
đó:Hệ
Trong
Tổng
đó:Hệ
DHTT
số
DHTT
552461 163110 100377
579197 168937 105181
604396 163960 111536
Sau gần 10 năm liên tục đổi mới và tự hoàn thiện, giáo dục Việt
Nam đã tiến một bước dài trên đường phát triển. Đạt được điều này là nhờ
sự lãnh dạo của Đảng, Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ và chính
quyền các cấp, sự tham gia đóng góp của toàn xã hội. Nhiều văn bản pháp
luật quan trọng về giáo dục đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho
23
những cải cách mang tính đột phá sau này. Truyền thống hiếu học của dân
tộc, lòng yêu nghề của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã được
những tồn tại, hạn chế, phân tích rõ những nguyên nhân chủ quan và khách
quan rút ra những bài học kinh nghiệm để phát triển sự nghiệp giáo dục
trong những giai đoạn tiếp theo, tránh sự chủ quan, sự rập khuôn, máy móc
trong nhận định, đánh giá, trong hoạch định chiến lược phát triển giáo dục
nước nhà. Từ đó đề ra chiến lược phát triển nền giáo dục đi đúng hướng
mang lại hiệu quả thiết thực, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước và tiến trình phát triển chung của nhân loại. Chính vì vậy, Giáo
dục Việt Nam nói chung, nhất là giáo dục Việt Nam thời kỳ đất nước ta
giành được độc lập năm 1945 đến nay trong “Giáo dục Việt Nam 1945 2005” của nhóm tác giả Nguyễn Quang Kính - Nguyễn Quốc Chí - Đặng
Quốc Bảo có ý nghĩa thời sự sâu sắc, giá trị lý luận và thực tiễn to lớn.
Tiền đề phát triển đất nước trong thời kỳ mới chính là do sức mạnh của
con người Việt Nam quyết định. Giáo dục - đào tạo là con đường quan trọng
nhất để xây dựng nguồn nhân lực và làm nên sức mạnh ấy. Từ những thành
tựu đã đạt được của nền giáo dục nước nhà từ năm 1945 đến nay, trong giai
đoạn tiếp theo toàn ngàng giáo dục tiếp tục đổi mới theo quan điểm và định
hướng của Đảng cộng sản Việt Nam chúng ta tin tưởng cùng với sự nỗ lực
của toàn Đảng, toàn dân cùng với truyền thống hiếu học của dân tộc sẽ đưa
nền giáo dục nước ta phát triển ngang tầm thời đại góp phần thực hiện mong
ước của Bác Hồ kính yêu: “đưa dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang để
sánh vai với các cường quốc năm châu”.
25
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, giáo dục giữ một vị trí quan trọng trong việc nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào việc xây dựng một nền
kinh tế tri thức.