5
MỞ ĐẦU
Hiện nay, trên thế giới có nhiều tôn giáo cùng tồn tại và đây là lĩnh vực
hết sức phức tạp và nhạy cảm. Đối với Việt Nam, là một quốc gia đa tôn giáo
và cùng với dân tộc, tôn giáo đang là lĩnh vực mà chủ nghĩa đế quốc, các thế
lực thù địch lợi dụng, coi đó là một trong những mũi đột phá khẩu của chiến
lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ về tôn giáo ở Việt Nam, quan điểm, chính
sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo đặt ra là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa to
lớn trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đảm bảo cho việc thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
1.1. Đặc điểm về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở vị trí địa lý có tầm chiến lược trọng yếu ở khu vực Đông
Nam Á, nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa lớn, đặc biệt là sự giao lưu văn hóa
Trung - Việt và Ấn - Việt, cho nên Việt Nam cũng là trung tâm cho sự du nhập
của các tôn giáo thế giới và cũng chính vị trí địa lý đó đã quy định về đặc điểm tín
ngưỡng, tôn giáo Việt Nam như sau:
Thứ nhất, Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Tín ngưỡng, tôn giáo
ở Việt Nam mang tính quần chúng khá phổ biến nhưng chủ yếu chỉ ở góc độ
tâm lý tôn giáo.
Việt Nam là một quốc gia đất không rộng, người không đông, nhưng có
nhiều tôn giáo cùng tồn tại và nhiều hình thức tín ngưỡng bản địa. Trong đó
có sáu tôn giáo lớn (Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài
và Hòa Hảo). Gần đây Đảng, Nhà nước ta thừa nhận tư cách pháp nhân bảy
tôn giáo mới bao gồm (Tứ Ân Hiếu Nghĩa; Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam;
Đạo Baha’i; Minh lý đạo; Tam Tông miếu; Giáo hội phật Đường Nam tông
dòng tôn giáo thế giới chảy vào Việt Nam đã hòa nhập cùng với tín ngưỡng
truyền thống và những tàn dư của tôn giáo bản địa tạo thành nền tảng vững
chắc đi suốt đời sống tâm linh của con người Việt Nam.
Bên cạnh đó, các tôn giáo được du nhập từ ngoài vào đã cùng đi chung
dòng chảy của lịch sử dân tộc Việt Nam, cùng chịu sự tác động, chi phối bởi
từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, cùng
với bản sắc văn hóa của dân tộc đã tạo dựng một nền văn hóa chung thống nhất
mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam (Thiên Chúa giáo là tôn giáo
7
của phương Tây, những người theo Thiên Chúa giáo chỉ thờ duy nhất là hình
tượng của Chúa, các tín đồ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam bên cạnh thờ Chúa
vẫn có thể thờ cúng ông bà, tổ tiên và những anh hùng của dân tộc).
Thứ ba, các tôn giáo ở Việt Nam luôn dung hợp, đan xen, hòa đồng.
Các tôn giáo được du nhập hoặc ra đời ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau,
trong điều kiện xã hội Việt Nam đã có “Tam giáo đồng nguyên” (Nho, Phật, Lão
giáo), khi có thêm Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo thì các tôn giáo ở Việt
Nam vẫn thể hiện rõ nét sự dung hợp, đan xen, hòa đồng và cùng với tín ngưỡng
truyền thống mà nét nổi bật là phong tục thờ cúng tổ tiên đã làm đậm nét cốt
cách, tâm hồn, tình cảm con người Việt Nam. Các tín đồ dù thuộc các tôn giáo
khác nhau nhưng đều cùng chung một mục đích “tốt đời, đẹp đạo” cùng nhau
phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Sự dung hợp, đan xen, hòa đồng giữa các tôn giáo ở Việt Nam thể hiện
cả ngay trong cùng một tôn giáo và giữa các tôn giáo với nhau (Phật giáo đan
xen giữa thánh, thần, tiên, phật; Cao Đài hợp nhất tam giáo ngũ chi) và sự
dung hợp, đan xen, hòa đồng cả trong từng chức sắc, từng tín đồ các tôn giáo
(chức sắc, tín đồ vừa thành thạo giáo lý vừa chấp nhận cả thần, thánh, tiên,
phật lẫn ma quỷ…). Từ hàng nghìn năm qua, Việt Nam có nhiều tôn giáo cùng
tồn tại nhưng trong lịch sử dân tộc không xảy ra chiến tranh giữa các tôn giáo.
Thứ sáu, tôn giáo ở Việt Nam luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng phục
vụ cho mục đích chính trị của chúng.
Chúng ta thấy rằng chính ngay trong bản thân các tôn giáo luôn tồn tại hai
mặt (mặt tư tưởng và mặt chính trị), mặt tư tưởng là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận nhân dân, mặt chính trị là mặt giai cấp thống trị xã hội lợi dụng tôn giáo
để kết hợp giữa sức mạnh thần quyền với sức mạnh thế quyền mê hoặc, ru ngủ
để dễ bề cai trị quần chúng nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch coi tôn
giáo là một trong những mũi đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Âm
mưu lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; chia rẽ đồng bào theo
với đồng bào không theo tôn giáo và đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; kích
động các tôn giáo chống phá quan điểm, chính sách tôn giáo; hỗ trợ vật chất, cổ
vũ tinh thần để các phần tử chống đối trong các tôn giáo chống phá Đảng, Nhà
nước nhằm chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta; tạo dựng các tổ chức phản
động trong các tôn giáo như: Giáo Hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hội
thánh tin lành Đề Ga… Thủ đoạn sử dụng tôn giáo xuyên tạc chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà
nước; mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các tôn giáo chống đối chính
quyền, vượt biên trái phép, gây mất ổn định chính trị - xã hội; tạo dựng các điểm
9
nóng về tôn giáo để vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo để
cô lập làm suy yếu ta; nuôi dưỡng các tổ chức tôn giáo phản động lưu vong; tài
trợ cho các hoạt động chống phá của lực lượng phản động trong nước phá hoại
sự nghiệp cách mạng nước ta.
1.2. Phương pháp nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội và là lĩnh vực hết sức nhạy cảm
liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do vậy, nghiên cứu về tôn
giáo ở Việt Nam cần nắm vững một số phương pháp cơ bản sau:
Một là, nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam thấy rõ tôn giáo ở Việt Nam
cho đến năm 1945; giai đoạn từ 1945 đến 1954, ở từng giai đoạn lịch sử khác
nhau, tính chất chính trị của Thiên Chúa giáo khác nhau, nhất là ở giai đoạn từ
1954 đến 1975, Thiên Chúa giáo ở hai miền về tính chất chính trị - xã hội của
từng miền cũng có nhiều điểm khác nhau.
Các tôn giáo lớn từ ngoài du nhập vào Việt Nam không xuất hiện đồng
thời mà cách xa nhau có thể hàng nghìn năm (Phật giáo với Thiên chúa giáo,
Tin Lành, Hồi giáo) và cũng không phải tất cả các tôn giáo đều đi qua cái
khung thời gian trên mà mỗi một tôn giáo có một lịch sử riêng của nó. Tuy
nhiên, dù có lịch sử riêng nhưng tất cả các tôn giáo đều chịu sự tác động, chi
phối bởi lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam và do đó, nghiên
cứu tôn giáo ở Việt Nam không thể tách rời lôgic và lịch sử.
Ba là, nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam phải nhận thức rõ vai trò của
Giáo hội, trực tiếp là của chức sắc các tôn giáo luôn giữ vị trí trung tâm.
Với tôn giáo, ngoài sự tham gia của đông đảo tín đồ thì không thể không
đề cập đến vai trò của Giáo hội (cơ quan tổ chức, điều hành và định hướng mọi
hoạt động của tôn giáo). Trong tôn giáo, các hình thức sinh hoạt của tín đồ về
cơ bản là ít thay đổi (giữ đức tin, thờ phụng, đi lễ, cầu nguyện, học tập giáo lý,
thi hành các phận sự của bổn đạo…) còn tính chất, mức độ, quy mô, cách thức
sinh hoạt đều do sự điều hành chung của Giáo hội mà trực tiếp là chức sắc của
các tôn giáo. Cho nên, bất cứ tôn giáo nào, Giáo hội và đội ngũ chức sắc luôn
giữ vai trò trung tâm, mọi hoạt động của Giáo hội và đội ngũ chức sắc là biểu
hiện tập trung của mọi sắc màu tôn giáo.
Lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử của Giáo hội
và vai trò của đội ngũ chức sắc, sự thực đó đã quy định việc nghiên cứu tôn
giáo ở Việt Nam không thể không đề cập đến hoạt động của Giáo hội và vai trò
của đội ngũ chức sắc, coi đó như là một đường dây xuyên suốt, một gam màu
chỉ đạo trong bức tranh tôn giáo hiện nay.
Như vậy, từ những đặc điểm về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và một số
phương pháp cơ bản nghiên cứu về tôn giáo ở Việt Nam, trong quá trình học tập,
đều hoàn toàn không thể dung thứ được…”2. Nhưng đối với Đảng Cộng sản,
không được coi tôn giáo là công việc tư nhân, mà Đảng Cộng sản phải thực
hiện giáo dục, giác ngộ, tập hợp quần chúng các tôn giáo để thực hiện sự
nghiệp giải phóng quần chúng “đối với Đảng của giai cấp vô sản xã hội chủ
1
2
Lênin toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr 171.
V.I.Lênin. Toàn tập, t.12. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr. 170-171.
12
nghĩa, tôn giáo không phải là một việc tư nhân. Đảng ta là một tổ chức gồm
những chiến sĩ tiên phong và giác ngộ đấu tranh giải phóng giai cấp công
nhân. Một tổ chức như thế không thể và không được thờ ơ trước tình trạng
thiếu giác ngộ, dốt nát hoặc mê muội mà biểu hiện là những tín ngưỡng tôn
giáo. Đấu tranh tư tưởng không phải là một việc tư nhân mà là việc của toàn
đảng, của toàn thể giai cấp vô sản”3.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra con đường, biện pháp giải quyết vấn đề
tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội là phải thực hiện tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, quyền theo hoặc không theo bất kỳ một tôn
giáo nào nhưng đồng thời phải phân biệt rõ hai mặt (tư tưởng và chính trị)
trong tôn giáo, mặt tư tưởng là nhu cầu tinh thần của nhân dân phải tôn trọng;
mặt chính trị là mặt chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo
phá hoại cách mạng, phải kiên quyết xóa bỏ; khắc phục ảnh hưởng tiêu cực
trong tôn giáo phải gắn liền với cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, nâng
cao đời sống mọi mặt cho toàn dân cũng như đồng bào các tôn giáo.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo, từ thực trạng tình hình tôn giáo ở nước ta,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa tư tưởng về tín ngưỡng tự do, Lương - Giáo đoàn
giáo để hoạt động mê tín dị đoan.
Hai là, căn cứ vào thực trạng tôn giáo ở nước ta và kết quả thực hiện
quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay.
Nước ta là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, có bốn tôn giáo ngoại
nhập và nhiều tôn giáo nội sinh, hiện nay tăng từ 6 tôn giáo với 16 tổ chức lên
13 tôn giáo với 34 tổ chức, 7 tôn giáo mới được Nhà nước thừa nhận về tư cách
pháp nhân, Nhà nước cấp giấy phép sinh hoạt tôn giáo cho 34 tổ chức, 01 pháp
môn tu hành. Đồng bào các tôn giáo chiếm khoảng 30% dân số cả nước với
(trên 30 triệu), 83 nghìn chức sắc, 25 nghìn chức việc, 46 cơ sở đào tạo, trên 25
nghìn cơ sở thờ tự. Ngoài các tôn giáo được Đảng, Nhà nước thừa nhận tư cách
pháp nhân, cả nước còn có trên 40 nghìn điểm sinh hoạt tín ngưỡng truyền
thống, 8 nghìn lễ hội diễn ra trong năm, trên 60 hệ phái Tin Lành đang hoạt
động truyền đạo được công nhận sinh hoạt hợp pháp, 60 loại đạo lạ, các dân
tộc thiểu số sinh hoạt tín ngưỡng riêng, trên 95% dân số nước ta có tham gia
vào đời sống tín ngưỡng, tôn giáo.
Tôn giáo nước ta, bên cạnh các hoạt động tuân thủ theo pháp luật của
Nhà nước vẫn còn những hoạt động gây mất ổn định tình hình chính trị - xã
hội. Nhiều chức sắc đi ngược lại lợi ích của nhân dân: Thích Huyền Quang,
Nguyễn Văn Lý, Ngô Quang Kiệt, Nguyễn Thái Hợp…; nhiều tín đồ chưa tin
vào quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước gây nhiều điểm nóng về tôn
giáo như khu giáo xứ Thái Hà 178 Nguyễn Lương Bằng, 42 Nhà Chung (năm
2007); hoạt động họ đạo trái pháp luật ở huyện Con Cuông - Nghệ An; đòi cơ
sở thờ tự ở Nghi Phương - Nghi Lộc - Nghệ An (năm 2013)….
Qúa trình thực hiện quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước
ta hiện nay đã đạt được những kết quả cơ bản như: đảm bảo được quyền tự do
14
tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật; phát huy được truyền
thống yêu nước của đồng bào các tôn giáo; tăng cường được sức mạnh của
15
Nội dung quan điểm, chính sách trên thể hiện sự kế thừa những giá trị tư
tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng, Nhà vào việc
giải quyết vấn đề tôn giáo. Đảng, Nhà nước nhận thức rõ về thực trạng tín
ngưỡng, tôn giáo ở nước ta (đang là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân
dân); thừa nhận sự tồn tại lâu dài của tôn giáo. Mặt khác, Đảng, Nhà nước thấy
được vai trò của các tôn giáo trong quá trình cách mạng cũng như trong công
cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (đồng bào các tôn giáo
là một bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc).
Thứ hai, Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết
dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung quan điểm, chính sách thể hiện rõ nguyên tắc trong chỉ đạo và
trong tổ chức thực hiện quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước:
Nguyên tắc chỉ đạo của Đảng, Nhà nước là, công tác tôn giáo phải tăng cường
được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trong tổ chức thực hiện quan
điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta là, đảm bảo được quyền bình
đẳng của mọi công dân trước pháp luật, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng,
tôn giáo, không xâm phạm đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
Thứ ba, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng.
Quan điểm, chính sách về “nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công
tác vận động quần chúng” vừa thể hiện về nguyên tắc trong công tác tôn giáo
của Đảng, Nhà nước vừa thể hiện rõ những chủ trương, biện pháp cụ thể đối
với công tác tôn giáo và việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở nước ta của Đảng,
Nhà nước trong điều kiện mới.
Chủ trương công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là phải
vận động được đông đảo đồng bào các tôn giáo cũng như toàn dân nêu cao tinh
thần yêu nước, ý thức độc lập, thống nhất đất nước, thực hiện thắng lợi sự
các đoàn thể nhân dân, Mặt trận Tổ quốc có trách nhiệm vận động quần chúng
tín đồ và chức sắc các tôn giáo thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước.
Thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trên Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI chỉ rõ “tiếp tục kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo của Đảng, chính
quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới” 5.
Thứ năm, vấn đề theo đạo và truyền đạo.
5
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2011, tr.122
17
Quan điểm, chính sách quy định mọi công dân có quyền tự do, tín
ngưỡng tôn giáo, quyền theo hoặc không theo bất kỳ một tôn giáo nào; mọi
chức sắc, tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại nhà hoặc cơ sở thờ tự hợp
pháp theo quy định của pháp luật, các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa
nhận hoạt động theo khuôn khổ pháp luật và được pháp luật bảo hộ.
Đảng, Nhà nước một mặt tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của công dân theo quy định của pháp luật; mặt khác nghiêm cấm việc
lợi dụng để truyền đạo trái quy định của pháp luật.
Đại hội XI khẳng định “thực hiện xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm
pháp luật và mọi hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động, chia rẽ
tôn giáo, dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia; góp phần đảm bảo an
ninh chính trị ở địa phương”6.
Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi
bổ sung năm 2013, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục khẳng định: Mọi người có
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các