Luận án TS Kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập trong các trường Đại Học - Pdf 40

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TƯ VẤN CỦA CỐ VẤN
HỌC TẬP TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC...........................................................
1.1. Tổng quan nghiên cứu về hoạt động tư vấn của cố vấn học tập...............
1.1.1. Nghiên cứu về hoạt động cố vấn học tập và kỹ năng tư vấn của cố
vấn học tập ở nước ngoài.................................................................................
1.1.2. Nghiên cứu về kỹ năng tư vấn và kỹ năng tư vấn của cố vấn học
tập ở Việt Nam.................................................................................................
1.2. Lý luận về kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập..........................................
1.2.1. Khái niệm kỹ năng.................................................................................
1.2.2. Khái niệm kỹ năng tư vấn......................................................................
1.2.3. Khái niệm cố vấn học tập......................................................................
1.2.4. Kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập........................................................
1.2.5. Biểu hiện các kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập...................................
1.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập...............
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1....................................................................................
CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU........................................................................................................................
2.1. Tổ chức nghiên cứu.....................................................................................
2.1.1. Giai đoạn nghiên cứu lý luận.................................................................
2.1.2. Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn..............................................................
2.1.3. Giai đoạn viết và hoàn thành luận án.....................................................
2.2. Các phương pháp nghiên cứu....................................................................
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu cứu tài liệu.....................................................
2.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi......................................................
2.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu..................................................................
2.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm................................................................
1




3.3.2. Ảnh hưởng của nhóm các yếu tố khách quan bên ngoài đến kỹ
năng tư vấn của cố vấn học tập......................................................................
3.3.3. Hồi quy dự báo mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với hoạt
động tư vấn của cố vấn học tập......................................................................
3.4. Kết quả thực nghiệm tác động.................................................................
3.4.1. Đánh giá về tác động của tập huấn kỹ năng tư vấn đối với CVHT
.......................................................................................................................
3.4.2. Mức độ hiểu biết của CVHT về KNTV trước và sau thực nghiệm
.......................................................................................................................
3.5. Chân dung một số cố vấn học tập............................................................
3.5.1. Cố vấn học tập N.P.T...........................................................................
3.5.2. Cố vấn học tập P.H.D...........................................................................
3.5.3. Cố vấn học tập N.T.H...........................................................................
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3..................................................................................
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.............................................................................
DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT CỦA NGHIÊN CỨU SINH LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ............................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................

3


DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

STT Các chữ viết tắt

Xin đọc là

1.


ĐHKHXH&N
V

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

7.

ĐHQG

Đại học Quốc gia

8.

ĐHSP

Đại học Sư Phạm

9.

ĐLC

Độ lệch chuẩn

10.

ĐN

Đà Nẵng


16.

KNTV

Kỹ năng tư vấn

17.

NACADA

Hiệp hội các nhà cố vấn học tập quốc gia
Mỹ

18.

SV

Sinh viên

19.

TH

Tập huấn

4


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng mô tả quá trình nghiên cứu thực tiễn..............................................



DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Nhận định của CVHT và SV về nhu cầu tư vấn của SV.........................
Biểu đồ 3.2: Mức độ kỹ năng tư vấn của CVHT qua các giai đoạn...........................

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình khung lý thuyết của luận án........................................................
Sơ đồ 3.1: Mức độ thực hiện KNTV của CVHT trong thực tế..................................
Sơ đồ 3.2: Mối tương quan giữa các yếu tố: Nhận thức, tự đánh giá, SV đánh giá
và bảng kiểm về KNTV của CVHT.........................................................................
Sơ đồ 3.3: Tương quan giữa các kỹ năng tư vấn của CVHT trong thực tế (theo kết
quả bảng kiểm).......................................................................................................
Sơ đồ 3.4: Các mức độ ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn của CVHT........................

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đào tạo theo tín chỉ là thay đổi tất yếu để giáo dục đại học Việt Nam hòa
nhịp được với giáo dục thế giới. Đặc biệt nhất của hình thức đào tạo tín chỉ là trao lại
quyền chủ động cho người học, vì vậy, có nhiều sinh viên đã có thể ra trường sau 3
năm rưỡi; cùng một thời điểm có thể tốt nghiệp ở hai ngành; ngược lại cũng nhiều sinh
viên đã học 7 đến 8 năm nhưng vẫn thiếu số tín chỉ cần thiết. Có thể nói kết quả học tập
phụ thuộc vào chiến lược mà mỗi sinh viên đặt ra cho mình, nhưng để làm được việc
này, các em cần được tư vấn để hình dung ra kế hoạch học tập cho toàn khóa, thích ứng
được với đời sống bậc đại học và lựa chọn được ngành nghề cho tương lai.
Tại Mỹ, từ khi chuyển sang hình thức đào tạo theo tín chỉ (1872), trong mỗi
khoa ở các trường Cao đẳng và Đại học đều có một nhóm cán bộ thực hiện nhiệm

mình; là cầu nối giữa sinh viên với các Khoa/Phòng, Ban... nhưng về mặt lý luận, ở
Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về hoạt động của cố vấn học tập, về những yếu tố
ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn và kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập.
Từ các lý do trên (cố vấn học tập có vai trò quan trọng trong đào tạo theo tín
chỉ; thực tiễn thực hiện hoạt động cố vấn học tập còn nhiều lúng túng, hạn chế và từ
việc chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này), chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập trong các trường đại học” nhằm tìm hiểu
thực trạng kỹ năng tư vấn của các cố vấn học tập đã, đang sử dụng trong quá trình
trợ giúp sinh viên, các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tư vấn. Qua đó, đề xuất các
phương án hỗ trợ nâng cao kỹ năng tư vấn cho đội ngũ cố vấn học tập.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập và những yếu tố
ảnh hưởng, qua đó đề xuất biện pháp tác động nhằm nâng cao kỹ năng tư vấn cho
sinh viên của cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ ở trường đại học.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập trong các trường đại học
3.2. Khách thể nghiên cứu
185 cố vấn học tập và 326 sinh viên
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận cho đề tài, chỉ ra lý luận về kỹ năng tư vấn của cố
vấn học tập trong trường đại học; các yếu tố ảnh hưởng tới việc hình thành các kỹ
năng tư vấn của cố vấn học tập.

8


- Làm rõ thực trạng kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập trong các trường đại học
và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập.
- Đề xuất một số biện pháp tác động và tổ chức thực nghiệm tác động nâng



- Tiếp cận hoạt động: các kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập được thể hiện
qua quá trình thực hiện tư vấn cho sinh viên, trên cơ sở nhu cầu tư vấn của SV rất
đa dạng, từ việc học tập, việc chọn ngành nghề đến sự thích ứng với môi trường học
tập bậc đại học. Vì vậy, nghiên cứu về kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập không chỉ
tập trung vào tư vấn về việc học tập mà còn tư vấn về những vấn đề liên quan khác
như định hướng nghề nghiệp, thích ứng với môi trường học tập, do đó kỹ năng tư
vấn được xem xét là các kỹ năng tư vấn cơ bản.
- Tiếp cận hệ thống: trong quá trình thực hiện tư vấn cho sinh viên, các cố
vấn học tập sẽ chịu sự ảnh hưởng từ các yếu tố khách quan và chủ quan, vì vậy
trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tư vấn
của cố vấn học tập như mức độ nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của cố vấn học tập
trong đào tạo theo tín chỉ; các chương trình tập huấn tăng năng lực cho cố vấn học
tập; các yếu tố về thời gian thực hiện nhiệm vụ; trợ cấp cho công việc…
- Tiếp cận liên ngành: hoạt động tư vấn của cố vấn học tập vừa bao trùm
hoạt động tư vấn, cần thể hiện được kỹ năng tư vấn (thuộc ngành Tâm lý học),
nhưng đồng thời chất liệu cho các lượt tư vấn và các vấn đề trong giáo dục, đào tạo,
định hướng nghề nghiệp (thuộc ngành Giáo dục; Hướng nghiệp)... do vậy, cần có
hướng tiếp cận liên ngành khoa học.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
- Phương pháp thống kê toán học

9. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 228 trang, bao gồm: phần mở đầu, 3 chương, kết luận, kiến
nghị, danh mục tài liệu tham khảo (150 trang) và phụ lục (78 trang).

11


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TƯ VẤN
CỦA CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu về hoạt động tư vấn của cố vấn học tập
1.1.1. Nghiên cứu về hoạt động cố vấn học tập và kỹ năng tư vấn của cố
vấn học tập ở nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu về hoạt động cố vấn học tập
Trong tạp chí hiệp hội cố vấn học tập quốc gia Mỹ (viết tắt là NACADA),
John H. Borgard (1981), William James (1983), Hemwall và Trachte (1999),
Creamer (2000) và Hagen (2003) đã bàn về nền tảng lý luận để hoạt động cố vấn
học tập (CVHT) được tiến hành một cách bài bản. Một là, phải có hoạt động tư vấn
và hai là, cần dựa vào các quan điểm lý thuyết cụ thể [35], [83]. Từ đó, Hiệp hội
CVHT Quốc gia Mỹ đã sử dụng một số lý thuyết phát triển con người làm cơ sở cho
hoạt động của CVHT. Dưới đây là một số lý thuyết phát triển cho sinh viên mà người
làm CVHT cần nắm rõ.
Thuyết hình thành bản sắc trong tâm lý xã hội của Erikson (1963) dựa vào 8
giai đoạn phát triển con người để mô tả 8 giai đoạn khủng hoảng trong quá trình học
tập tương ứng ở sinh viên [83].
Quan điểm của Kohlberg (1969) về cơ sở nhận thức của cá nhân [83].
Quan điểm của William Perry (1970) về mô hình phát triển trí tuệ và đạo đức
của người học [35].
Quan điểm của Carl Jung (1960) và nhóm các tác giả là Myers-Briggs (Myers
& McCauley, 1985) và Kold (1984), Evans, Forney và Guido-DiBrito (1998) đã xem

tuân theo những kỷ luật chung. John Ducan (1823) cho biết, chỉ cần “một hiệu
trưởng, hai giáo sư và hai trợ giảng thì có thể trở thành một trường học hoàn chỉnh”
vì công việc chính của giảng viên là trợ giúp sinh việc trong sinh hoạt, học tập.
Giai đoạn thứ hai: Theo Frost (2000), từ năm 1870 đến 1970 là giai đoạn
“CVHT trở thành một hoạt động được định nghĩa nhưng chưa được kiểm tra”.
Rudolph (1962) cho biết, khi việc học tập của SV được thiết kế theo chương trình (năm
1877) thì SV cần có một người theo dõi sát sao để hướng dẫn cụ thể. Theo Gordon
(1992), Brian Gillispie (2009), Strange (1994), Strommer (1999) đây chính là thời
kỳ hoạt động của các cố vấn học tập được định hướng một cách rõ ràng nhất, CVHT
hướng dẫn cho SV chọn môn học như thế nào cho phù hợp với nhu cầu và năng lực.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Veysey (1965) nhận ra có những bất cập như thái
độ của CVHT “đang dần thoái hóa và trở thành một công việc hời hợt”, các kỹ năng

13


tư vấn trong lượt tư vấn đang trở thành “những buổi trò chuyện bâng quơ, vắn tắt”.
Các CVHT bị phân tâm giữa những việc giảng dạy với các áp lực khác.
Giai đoạn thứ ba: Nghiên cứu của Frost (2000) đã xác định giai đoạn thứ 3
là từ năm 1970 cho đến nay, hoạt động“cố vấn học tập đã trở thành một hoạt động
được định nghĩa và kiểm tra”. Đây là giai đoạn hình thức đào tạo theo tín chỉ được
gọi tên, và chức danh cố vấn học tập cũng chỉ bắt đầu xuất hiện khi có hình thức
đào tạo theo tín chỉ. Gordon (1992) cho rằng các trường đại học trong những năm
1960 đến 1970 đã trở thành nơi cung cấp dịch vụ đào tạo cho người học, vì thế, các
em tìm đến CVHT để tìm hiểu mọi thông tin về ngành nghề, tính trách nhiệm của
trường, sự công bằng giữa các SV (Komives, SR, Woodard Jr, D. B, Associates,
1996) để kiến nghị về các dịch vụ, chất lượng đào tạo và để khám phá về năng
khiếu của từng em (Zunker, 2002).
Hoạt động CVHT được thúc đẩy và hoàn thiện từ năm 1979, khi Hiệp hội Cố
vấn học tập Quốc gia (NACADA) ra đời. Đây là một hiệp hội các nhà tư vấn chuyên

Từ giữa thế kỷ 19, hoạt động tư vấn được sử dụng trong lĩnh vực tư vấn nghề
và tuyển dụng lao động ở các nước tư bản. Nhà tâm lý học người Mỹ F.Gaton
(1883) là người đầu tiên sử dụng trắc nghiệm (test) chẩn đoán nhân cách. Năm
1898, B.Jesse David đã hướng dẫn cho mọi người tìm việc làm phù hợp với đặc
điểm của cá nhân. Năm 1909, Frank Parson đã xuấn bản cuốn “Chọn nghề” trong
đó, tác giả đã trình bày về việc các cơ sở tuyển dụng đã sử dụng các trắc nghiệm để
hỗ trợ cho việc tuyển chọn và sử dụng lao động; trong cách thức hướng nghiệp quy
trình gồm ba bước là: 1/ Nhận thức rõ về bản thân, những điểm mạnh, điểm yếu của
cá nhân; 2/ Nhận thức rõ về công việc, những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách
thức cũng như hướng phát triển; 3/ Làm rõ mối quan hệ của yếu tố cá nhân và công
việc để cá nhân cân nhắc và quyết định lựa chọn công việc [24].
Các tác giả khác bàn đến trắc nghiệm trong nghề nghiệp như: Trắc nghiệm
điều chỉnh thích ứng nghề nghiệp của Harry Kitson (1925), Sở thích nghề nghiệp
của E.K.Strong (1943), Đo lường hứng thú nghề nghiệp của Woodworth (1972),
Trắc nghiệm đo lường trí tuệ, năng lực của Alfred Binet (1986), Trắc nghiệm nhân
cách của H.J.Eysenck, Trắc nghiệm giao tiếp của V.P.Dakharov, Đo lường trạng
thái tâm lý hẫng hụt của Rosenzweig…([2],[8],[17]. K.K.Platonov đã đưa ra hệ
thống biện pháp tâm lý – giáo dục để phát hiện, đánh giá năng lực của học sinh, làm
cơ sở tư vấn nghề cho cá nhân [19].
Một số tác giả khác như Kurt Lewin (1951), Schien (1969), Argyris (1970),
Bennis (1970), Baldridge (1971), Beer (1980), Huse (1980), Lipitt (1982),… quan
tâm đến việc giúp đỡ các ngành kinh doanh và công nghiệp thích ứng kịp thời với

15


những biến đổi của kinh tế - xã hội, đã đưa ra mô hình tư vấn phát triển tổ chức, kết
quả của nghiên cứu này có tác động đến quá trình hướng nghiệp cho người học [8].
Gallagher & Demo (1983) cho rằng, trong chiến tranh thế giới thứ I, người ta
đã sử dụng các kỹ thuật tâm lý để kiểm tra kỹ năng và đo lường trí thông minh của


nghiên cứu cho rằng, khi một cá nhân gặp những khó khăn, thách thức trong cuộc
sống có thể xẩy ra những rối nhiễu, khủng hoảng tâm lý. Nếu các cá nhân đó được
hỗ trợ kịp thời bằng các biện pháp như: can thiệp nhận thức, xúc cảm, hành vi, phân
tích tâm lý…thì lúc đó khả năng đương đầu với sự việc của mỗi cá nhân sẽ tốt hơn,
và trong môi trường học đường, thì người có thể hỗ trợ sinh viên chính là CVHT.
Một số hướng nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật can thiệp tâm lý là:
Kỹ thuật can thiệp tâm lý đầu tiên có thể kể đến là phân tâm học. Người đầu
tiên và là người đại diện cho học thuyết Phân tâm học cổ điển là Sigmund Freud,
sau đó là các tác giả Alder Alfred, Carl Jung, Albert Ellis… đều cho rằng hành vi
của con người chịu sự ảnh hưởng của cả quá khứ, hiện tại và tương lai cho nên khi
người ta có những rối nhiễu tâm lý, điều quan trọng là cần tìm về quá khứ để giải
quyết những vướng mắc từ trong quá khứ. Để thực hiện được các kỹ thuật này đỏi
hỏi người tư vấn phải được đào tạo bài bản, phải có kinh nghiệm chuyên môn
nghiệp vụ cao. Một số kỹ thuật có thể sử dụng để can thiệp cho những người có rối
nhiễu tâm lý như: nói tự do, sắm vai, phân tích giấc mơ, phân tích những chống đối,
khai thác những kỷ niệm đã qua… [24].
Kỹ thuật can thiệp tâm lý nổi bật thứ hai là nhận thức – hành vi. Các tác giả
của trường phái này là Arnold Lazarus; R.E. Albeti, F. Skinner; Albert Bandura;
Glasser (1988), Schuyler (1991), Hackney và Cormier (1996) và Wubbolding
(1998) [34] … cho rằng những hành vi tập nhiễm có được qua quá trình học tập và
có thể thay đổi, điều chỉnh qua học tập có điều kiện. Vì thế, trị liệu hành vi tập trung
chú ý tới việc thay đổi hành vi hiện tại và tạo lập chương trình hành động, các cá
nhân loại bỏ những hành vi không thích ứng bắt đầu từ việc nhận thức lại, thay đổi
toàn bộ suy nghĩ từ trước một cách bài bản, có chiến lược, mục tiêu hành động cụ
thể, và thường kết quả có thể đo lường được. Phương pháp can thiệp nhận thức có
chuỗi phản ứng: nhận thức (thay đổi)  cảm xúc (thay đổi)  hành vi (thay đổi) và
tập trung vào giao tiếp tích cực [24].
Kỹ thuật can thiệp tâm lý nổi bật thứ ba là can thiệp cảm xúc, người đại diện
cho trường phái này là Carl Rogers. Theo Carl Rogers, chính thân chủ là người biết

Hay nói cách khác là để tăng cường khả năng hành động của cá nhân SV, cần thiết
phải sử dụng kỹ thuật làm ổn định tâm lý cho SV.
Trong luận án này, chúng tôi cũng không áp dụng được hướng sử dụng các
kỹ thuật can thiệp tâm lý trong thực hành tư vấn của cố vấn học tập, vì quy định về
chức năng, nhiệm vụ của CVHT ở Việt Nam không có trách nhiệm can thiệp khi
sinh viên có rối nhiễu tâm lý.

18


Hướng nghiên cứu sử dụng kỹ năng tương tác, giao tiếp trong tư vấn của cố
vấn học tập
Hai tác giả Robert L.Gibson và Marianne H.Mitchell, (1995), [73, tr.15] cho
rằng người làm công việc tư vấn cần thiết phải hội tụ các kỹ năng kỹ năng giao tiếp
bằng lời và kỹ năng giao tiếp không lời. Florisse Alkema (1971), [44, tr.61] đã có
công trình nghiên cứu về giao tiếp và kết luận, sự thân thiện của con người phụ
thuộc vào giao tiếp có lời và không lời.
- Các kỹ năng giao tiếp bằng lời
Nghiên cứu của R.Carkhuff (1972) nhận định giao tiếp là nghệ thuật trợ giúp
trong tư vấn. Các tác giả khác cùng chung ý kiến kỹ năng tư vấn chính là kỹ năng
giao tiếp như Arthur Tuner, Hansen & Himes (1977), Mailand, Fine & Tracy
(1985), Weissenerv, Fine,& Poggio (1982), Carkhuff (1983), Paskewicz và Clark
(1984), Erchul (1987) và Chewming (1990) [42],[46],[83], đều cho rằng kỹ năng tư
vấn là thiết lập sự tương tác với thân chủ.
Theo Robert L.Gibson (1995), [72, tr.15]; Kate Cain (1986) [50, tr.62] và
Scallon (2007), [89, tr.52] kỹ năng giao tiếp bằng lời thể hiện qua: lắng nghe, phản
hồi, đặt câu hỏi. Đây là các kỹ năng cơ bản để người tư vấn có thể thiết lập sự tin
tưởng đối với thân chủ nói chung và là các kỹ năng nền tảng để CVHT thiết lập
được mối quan hệ trợ giúp cho SV, nhờ có các kỹ năng này, CVHT mới thu thập
thông tin và có thể trợ giúp cho sinh viên hiệu quả.

những biểu cảm trên gương mặt với một vấn đề nào đó. Vào năm 1990, Ekman,
Davidson, Freisen còn tiếp tục với các nghiên cứu về nụ cười và các cảm giác tích
cực [67].
Các tác giả Argyle, Alkem (1971) và Gilmour (1975) cho rằng, người ta nhớ
thông tin lâu hơn, nhiều hơn thông qua giao tiếp không lời, cụ thể là qua biểu cảm
trên nét mặt và trong giọng nói [43], [64]. Tác giả Word, Zanna và Cooper (1974);
Tác giả Axelrod và Kuerschner (1984) đều cho rằng giao tiếp bằng ánh mắt có hiệu
quả tích cực khi trao đổi vấn đề [52]. Robert Zajonc (1985) [71], và L. Gibson
Rober (1995) [72] cho rằng biểu cảm trên nét mặt là quan trọng trong giao tiếp.
Tác giả Kleinke (1986) và Singer (1979) cho rằng có sự vâng lời qua ánh
mắt. Tác giả Ben Jones, Hansen và Hasen, (1988) nghiên cứu về tính toàn cầu về
biểu cảm phi ngôn ngữ, về biểu cảm qua ánh mắt và miệng. Cacioppo, Martzke,
Petty và Tassinary (1988), Hinz và Tomhave (1991) quan tâm đến biểu cảm qua nụ
cười, Guéguen và Jacob (2002) đề cập đến hành vi của đối tượng trong giao tiếp
[52], [36], [47]…

20


Nghiên cứu ở góc độ trợ giúp thông qua biểu cảm phi ngôn ngữ, một số tác
giả cho rằng thái độ của người trợ giúp sẽ tạo ra không khí an toàn cho thân chủ
Arthur Tuner, Hansen & Himes (1977), Mailand, Fine & Tracy (1985), Weissenerv,
Fine,& Poggio (1982), Carkhuff (1983), Paskewicz và Clark (1984), Erchul (1987)
và Chewming (1990). Các tác giả này đều cho rằng để có thể giúp đỡ cho thân chủ
cần có kỹ năng thiết lập và điều khiển sự tương tác tốt đẹp với thân chủ.
Các tác giả Cormier, L. S., & Hackney, H. (1993), Susan D. Bates (2009), đề
cập đến thái độ hòa nhã, ứng xử thân thiện, tiếp đón nồng nhiệt và sẵn lòng hỗ trợ
thân chủ nhằm tạo ra sự khích lệ động viên thân chủ [39], [81],[83]. Một số tác giả
khác lại nghiên cứu sâu hơn về các kỹ năng tham vấn trong quá trình trợ giúp, như
H.James & H.Jacquline (1999), E.D.Neukrug (1999) và N.J.Richard (2003) về cách

này chưa được xem xét ở vị trí quan trọng, chúng tôi chỉ có thể bàn đến góc độ Sử
dụng các kỹ năng trong tương tác, giao tiếp trong hoạt động tư vấn, và chúng tôi áp
dụng vào việc xây dựng bảng quan sát để đánh giá mức độ kỹ năng tư vấn của
CVHT cho đề tài, những kết quả thu được từ bảng quan sát là số liệu chính được
phân tích trong luận án này.
1.1.2. Nghiên cứu về kỹ năng tư vấn và kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập
ở Việt Nam
1.1.2.1. Nghiên cứu về kỹ năng tư vấn ở Việt Nam
Lịch sử phát triển hoạt động tư vấn ở nước ngoài diễn ra hàng thế kỷ, nhưng
ở Việt Nam vấn đề tư vấn mới được xã hội quan tâm khoảng 30 năm trở lại đây,
chính vì thế những nghiên cứu cũng còn rải rác. Tổng hợp những tài liệu có được
chúng tôi thấy có hai cách tiếp cận về tư vấn và kỹ năng tư vấn là: kỹ năng tư vấn là
kỹ thuật cung cấp thông tin và kỹ năng tư vấn là kỹ thuật tương tác, giao tiếp trong
hỗ trợ can thiệp tâm lý. Để phục vụ cho luận án, chúng tôi trình bày các kỹ năng
này dưới góc độ có liên quan đến kỹ năng tư vấn của CVHT trong trường đại học.
Kỹ năng tư vấn là kỹ thuật cung cấp thông tin trong hướng nghiệp
Cũng giống với các cách tiếp cận trên thế giới, nổi bật nhất trong hướng tiếp
cận kỹ năng tư vấn là kỹ thuật cung cấp thông tin trong hoạt động hướng nghiệp. Từ
những năm 70-80, nghiên cứu về tư vấn nghề và ứng dụng trắc nghiệm cho học sinh
được các tác giả Phạm Tất Dong (1989, 1994), Phạm Huy Thụ (1992) phân tích kỹ
thông qua việc chỉ ra những chỉ số cơ bản của hứng thú nghề nghiệp và các phép đo
hứng thú, đồng thời tác giả cũng đề cập đến sự tương thích giữa đặc điểm tâm lý với
yêu cầu của nghề nghiệp [5],[6],[7],[26]. Tiếp theo đó tác giả Nguyễn Thế Tường
[dẫn theo 17] cũng bày tỏ quan điểm về việc cần có sự can thiệp của nhà tư vấn
nghề để giúp cho các cá nhân phù hợp với đặc điểm của nghề nghiệp. Nghiên cứu
22


của tác giả Lê Đức Phúc về chẩn đoán tâm lý trong tư vấn hướng nghiệp đã bàn về
kết hợp giữa chẩn đoán tâm lý với tư vấn nghề trên cơ sở cấu trúc nhánh nghề;



công trình nghiên cứu, nhiều bài viết nhất về kỹ năng, kỹ năng tư vấn tâm lý là Trần
Thị Minh Đức (2000, 2002, 2003), trong các bài viết của mình, tác giả đã xem kỹ
năng tư vấn như là kỹ thuật hỗ trợ, can thiệp tâm lý [9].
Tại Hội thảo Tư vấn Tâm lý - Giáo dục (2006) [30] các nhà khoa học đã nêu
lên trăn trở nên dùng thuật ngữ “tư vấn” hay “tham vấn”, và đặt ra vấn đề tuân thủ
đạo đức nghề nghiệp, cần phải hoàn thiện tiêu chuẩn hành nghề trợ giúp tâm lý ở
Việt Nam.
Luận án của tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2007) được xem là nghiên cứu chính
thức đầu tiên về tham vấn với đề tài“Một số kỹ năng tham vấn cơ bản của cán bộ
xã hội” và trở thành nguồn tài liệu bổ ích cho hầu hết các nghiên cứu về sau có liên
quan đến kỹ năng, kỹ năng tư vấn. Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra thực
trạng hoạt động tham vấn của cán bộ xã hội có sử dụng kỹ năng nhằm mục đích hỗ
trợ tâm lý cho các đối tượng cần giúp đỡ, nhưng chỉ đạt ở mức trung bình [17].
Luận án của tác giả Chu Liên Anh (2011), Hà Thị Thư (2012), Hoàng Anh
Phước (2012) tiếp nối các nghiên cứu về lĩnh vực tư vấn, tham vấn đã một lần nữa
hệ thống lại chi tiết hơn nghiên cứu của các tác giả đi trước về tư vấn, kỹ năng tư
vấn nói chung và làm rõ về kỹ năng tư vấn pháp luật của luật sư; kỹ năng tham vấn
của cán bộ tham vấn học đường trong việc hỗ trợ tâm lý cho học sinh.
Trong lĩnh vực nghiên cứu về tham vấn học đường, nhóm tác giả Nguyễn Thị
Anh Thư, Lê Thị Thanh Thủy (2008) đã bàn về các mô hình tham vấn học đường,
những kỹ năng thiết yếu của cán bộ phòng tham vấn.
Như vậy, ở Việt Nam hiện nay đã có không ít nghiên cứu về tư vấn, kỹ năng
trong hoạt động tư vấn. Tuy nhiên mỗi chủ đề lại phục vụ cho mục đích nghiên cứu
mà các tác giả đã định hướng. Vì vậy về hoạt động tư vấn và các kỹ năng tư vấn của
người trợ giúp vẫn được nghiên cứu mở rộng ở các góc độ khác nhau. Trong nghiên
cứu này, chúng tôi đồng tình với quan điểm coi kỹ năng tư vấn là những kỹ thuật
cung cấp thông tin và kỹ thuật tương tác, giao tiếp trong hỗ trợ can thiệp tâm lý.
1.1.2.2. Nghiên cứu về kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập ở Việt Nam

rằng, CVHT cần giao tiếp tốt với SV, thể hiện được vai trò là nhà tư vấn thì mới thực
sự hỗ trợ được cho SV [29]. Tác giả Hoàng Thảo Nguyên, Nguyễn Thị Phương
Thanh (2012), trong nghiên cứu về Rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên trong đào
tạo theo tín chỉ đã đề cập đến việc để SV có thể học tốt, giảng viên cần có kỹ năng
hướng dẫn, tư vấn tốt. Tác giả Nguyễn Thị Đông (2012) đã trình bày trong báo
cáo“Vai trò của cố vấn học tập theo hệ thống tín chỉ của Học viện Chính sách và
Phát triển”, xét từ vai trò, nhiệm vụ và yêu cầu đối với CVHT, người CVHT cần như

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status