1
PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC ĐỨC TRONG TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG
ĐỨC” CỦA C. MÁC VÀ PH. ĂNG-GHEN
1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức được soạn thảo khoảng năm 1845-1846
nhằm nêu bật lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học giải phóng giai cấp vô sản,
thế giới quan triết học của chủ nghĩa Mác như sự đối lập với các hệ tư tưởng
tư sản và tiểu tư sản ở Đức lúc bấy giờ. Phê phán việc kế thừa những yếu tố
không phù hợp của triết học Hê-ghen và Phoi-ơ-bắc để phục vụ lợi ích của
giai cấp tư sản và tiểu tư sản ở Đức như “thánh Brunô, thánh Ma-xơ”.
Đầu của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển
rất mạnh mẽ, và đã bộc lộ những mâu thuẫn sâu sắc, mâu thuẫn giữa giai cấp
vô sản và giai cấp tư sản ngày càng gay gắt và quyết liệt. Mặt khác phong trào
đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ như: Cách mạng tư sản
ở các nước Châu Âu đã nổ ra ngay từ những năm cuối của thế kỷ XIIX (cách
mạng tư sản Anh; cách mạng tư sản Pháp). Trong quá trình vận động của
mình, cách mạng tư sản đã bộc lộ rất nhiều điểm yếu. Trong khi đó, nước Đức
những năm 40 của thế kỷ XIX, mới đang ở đêm trước của cách mạng tư sản.
Trung tâm của cách mạng chuyển về Đức. Song trong nội bộ nước Đức, giai
cấp tư sản lại yếu hèn cả về kinh tế lẫn chính trị. Thực tế đó đặt ra giai cấp
nào sẽ lãnh đạo cách mạng ở Đức. Mặt khác, giai cấp vô sản đã bước lên vũ
đài lịch sử của mình; trong tất cả các giai cấp hiện tại đang đối mặt với giai
cấp địa chủ phong kiến chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng nhất.
Đương nhiên để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp vô sản không
những cần phải phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, mà còn phải có
hệ tư tưởng cách mạng và khoa học.
Trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử đó, C.Mác và Ph. Ăngghen nhận thấy
hệ tư tưởng cũ không còn đáp ứng được yêu cầu của cách mạng, nó đã trở nên
3
Lời tựa
Chương I: Phoi-ơ-bắc sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm
duy tâm
Chương II: Thánh Brunô (biệt danh của Bauơ)
Chương III: Thánh Maxơ (biệt danh của Stuyếcnơ)
Tập II: “Phê phán chủ nghĩa xã hội Đức thông qua các nhà tiên tri khác
nhau của nó” gồm 5 chương:
Chương I: Phê phán những cơ sở triết học của “chủ nghĩa xã hội chân chính”
Chương II và Chương III đến nay không còn
Chương IV: Trào lưu chủ nghĩa xã hội ảnh hưởng ở Pháp, Bỉ
Chương V: Phê phán các quan điểm chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản của
Cunman
Trong tác phẩm này, các ông đã phê phán Bauơ, Stuyếcnơ đã lợi
dụngnhững hạn chế của triết học của Hê-ghen và Phoi-ơ-bắc để truyền bá tư
tưởng của giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Cho nên, bằng phê phán triết học Hêghen và Phoi-ơ-bắc, C. Mác và Ph. Ăngghen làm rõ được quan điểm của
mình khác với quan điểm của Hê-ghen và Phoiơbắc.
Như vậy, C. Mác và Ph. Ăng-ghen muốn chỉ ra rằng, triết học C. Mác và
Ph. Ăng-ghen cũng có tiền đề lý luận từ triết học của Hê-ghen và triết học của
Phoi-ơ-bắc, trong đó chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc đó là khâu trung gian
giữa triết học của Hêghen và triết học Mác.
3. Nội dung C. Mác và Ph. Ăng-ghen phê phán triết học Đức
Mác và Ăng-ghen trong giai đoạn này đã xây dựng, khởi thảo những
nguyên lý về chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm chống lại những quan niệm sai
trái của chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc, và chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen.
4
(2)
5
thân mình. Bản chất con người là tổng thể các khát vọng, khả năng, nhu cầu,
ham muốn. Ông khẳng định sự thống nhất hữu cơ giữa con người và giới tự
nhiên, là điều kiện sống, môi trường, hoàn cảnh tác động đến tư duy và ý thức
con người. Đến khi xem xét con người trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì quan
điểm của Phoi-ơ-bắc trở thành duy tâm về lịch sử “Khi Phoi-ơ-bắc là nhà duy
vật thì ông không bao giờ đề cập đến lịch sử; còn khi ông xem xét đến lịch sử
thì ông không phải là nhà duy vật. Ở Phoi-ơ-bắc, lịch sử và chủ nghĩa duy vật
hoàn toàn tách rời nhau, điều này đã được nói rõ”(4).
Quan điểm về con người của Phoi-ơ-bắc có nhiều điểm hợp lý nhất
định, đó là ông xem con người và xã hội loài người là sản phẩm của tự nhiên,
đề cao tính cá thể con người. Điều này thể hiện nguyện vọng của giai cấp tư
sản Đức tiến bộ thời đó muốn đấu tranh đòi giải phóng nhân cách cá nhân con
người khỏi mọi hệ thống giáo lý, giáo luật của xã hội hà khắc của nước Đức
phong kiến quí tộc. Tuy nhiên, hạn chế của Phoi-ơ-bắc ở chỗ, ông không nhận
thấy bản chất xã hội của con người, cũng như vai trò của hoạt động thực tiễn
con người trong nhận thức và cải tạo thế giới. Con người trong quan niệm của
ông là con người phi lịch sử, phi giai cấp, con người trừu tượng. Trên cơ sở
phân tích quan niệm con người của Phoi-ơ-bắc khi đưa vào xem xét xã hội ở
Đức thì ông cho đó là “người cộng sản” danh từ này để chỉ thế giới hiện nay
“Toàn bộ suy diễn của Phoi-ơ-bắc về vấn đề quan hệ giữa người với người
chỉ nhằm chứng minh rằng người ta cần lẫn nhau và bao giờ cũng vẫn như
vậy. Ông muốn xác lập ý thức về sự việc đó, vậy là như các nhà lý luận khác,
ông chỉ muốn gây ra một ý thức đúng đắn về môt sự việc hiện có, trong khi
điều quan trọng đối với một người cộng sản thật sự là lật đổ cái hiện có ấy”(5)
con người của Phoi-ơ-bắc “Ông không thấy rằng thế giới cảm giác được bao
quanh ông không phải là một sự vật đã tồn tại trực tiếp từ ngàn xưa và luôn
luôn giống bản thân nó, mà lại là sản phẩm của công nghiệp và của trạng
thái xã hội, và hơn nữa với cái nghĩa là đó là một sản phẩm lịch sử, một kết
quả hoạt động của cả một loạt thế hệ sau đứng lên vai thế hệ trước, tiếp tục
phát triển công nghiệp và phương thức giao tiếp của mình và cải biến chế độ
xã hội của mình tuỳ theo sự biến đổi những nhu cầu của mình”(7).
(6)
(7)
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 3, tr 60
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 3, tr 62
7
Thế giới cảm giác được Phoi-ơ-bắc được đề cập trong triết học của ông
chỉ là thế giới có sẵn, tồn tại hàng ngàn năm qua, mà còn là thế giới như kết
quả công nghiệp và của trạng thái xã hội. Chủ nghĩa duy vật tự nhiên ấy chưa
lột tả được hoạt động thực tiễn, hoạt động có tính cải tạo con người. Sự ngắm
nhìn thế giới như cái có sẵn ấy cũng trái với quan điểm phát triển, tức là quan
điểm biện chứng về thế giới. Hơn nữa, trong quan niệm của Phoi-ơ-bắc xem
xét những sự vật đúng y như chúng đang tồn tại trong thực tế và đang diễn ra
trong thực tế thì bất cứ vấn đề triết học sâu sắc nào cũng chỉ đơn giản biến
thành một sự kiện kinh nghiệm.
Mặc khác, cách tiếp cận ngắm nhìn tự nhiên trong dạng thuần khiết của
nó, chứ không phải trong quá trình vận động, biến đổi, trong quá trình giới tự
nhiên thể hiện mình như cơ sở tự nhiên của sự tồn tại và hoạt động của con
người, đã khiến cho Phoi-ơ-bắc chưa vượt qua khỏi tự nhiên khi xem xét con
người trong lịch sử “Phoi-ơ-bắc đặt biện nói đến trực quan của khoa học tự
Mặt tích cực trong triết học nhân bản Phoi-ơ-bắc còn thể hiện ở chỗ
ông đấu tranh chống các quan niệm tôn giáo, đặc biệt là thượng đế và ông
khẳng định: chính con người sáng tạo ra thượng đế, bản chất tự nhiên của con
người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện, hướng đến cái đẹp của con người
nhưng trong thực tế những cái đó con người chưa đạt được mà chỉ là ước mơ.
Mặt hạn chế của triết học Phoi-ơ-bắc là đứng trên lập trường của chủ
nghĩa tự nhiên để xem xét mọi hiện tượng thuộc về con người và xã hội. Con
người trong quan niệm của Phoi-ơ-bắc là con người trừu tượng , phi xã hội,
mang những thuộc tính bẩm sinh. Công lao của Phoi-ơ-bắc còn ở chỗ là đấu
tranh chống chủ nghĩa duy vật tầm thường, ông đã phê phán kịch liệt những
người theo chủ nghĩa hoài nghi và thuyết không thể biết. Trong khi phát triển
lý luận nhận thức duy vật , Phoi-ơ-bắc đã dựa vào thực tiễn, hiểu được thực
tiễn là tổng hợp những yêu cầu của con người về tinh thần và thực tiễn là cơ
sở của nhận thức cảm tính và lý tính. C. Mác và Ph. Ăng-ghen phê phán Phoiơ-bắc nhưng các ông cũng đã thấy công lao to lớn của Phoi-ơ-bắc là đấu
tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo. Phoi-ơ-bắc đã chỉ ra mối liên hệ
(9)
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 3, tr 64
9
giữa chủ nghĩa duy tâm với tôn giáo, chỉ ra sự cần thiết phải đấu tranh loại bỏ
tôn giáo hữu thần, coi đó là sự tha hoá bản chất của con người. Đây là những
cống hiến to lớn đối với triết học nhân loại, góp phần làm cơ sở cho C. Mác và
Ph. Ăng-ghen sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử.
3.2 C. Mác và Ph. Ăng-ghen phê phán triết học của Hê-ghen
Mở đầu tác phẩm Hệ tư tưởng Đức C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã vạch ra
thực chất của cái gọi là sự cải biến cách mạng của phái Hê-ghen trẻ đối với
tư tưởng triết học của Hê-ghen, họ đã lặp lại tính hai mặt trong triết học của
Hê-ghen, muốn làm cách mạng nhưng sợ đấu tranh, sợ mất lợi ích đang có
“Những con buôn tư tưởng kiêu kỳ và khoác lác ấy tưởng rằng họ đứng rất
cao vượt lên trên mọi thành kiến dân tộc, nhưng trong thực tế họ còn mang
tính dân tộc hẹp hòi nặng hơn cả những tên phi-li-xtanh trong các quán bia
đang mơ tưởng đến sự thống nhất nước Đức”(12)
Phái Hê-ghen trẻ phê phán triết học Hê-ghen bằng cách thay thế những
quan niệm tôn giáo hoặc tuyên bố mọi cái đều có tinh thần học và như vậy thì
dẫn đến cho mọi người tin tưởng, nhất trí rằng tôn giáo là cái phổ biến thống
trị thế giới hiện có và cho đó là sự phợp pháp của xã hội Đức lúc bấy giờ
“phái Hê-ghen trẻ chỉ cần tiến hành đấu tranh chống lại những ảo tưởng đó
của ý thức mà thôi. Vì theo họ tưởng tượng, những quan hệ của con người,
tất cả mọi hành động và cử chỉ của con người, mọi xiềng xích và giới hạn đối
với con người đều là sản phẩm của ý thức của họ”(13). Trước những diễn biến
xã hội Đức C. Mác và Ph. Ăng-ghen cần vạch rõ thủ đoạn lừa bịp, mị dân của
phái Hê-ghen trẻ, giúp cho nhân dân Đức và những tầng lớp tiến bộ thấy rõ bộ
mặt thật của họ “Muốn đánh giá đúng toàn bộ cái trò bịp bợm triết học đó, nó
thậm chí làm thức tỉnh trong lòng người thị dân Đức trung thực một tình cảm
dân tộc dễ chịu, muốn nêu rõ tính nhỏ nhen, tính thiển cận địa phương của
toàn bộ phong trào của Phái Hê-ghen trẻ đó, và đặc biệt muốn vạch rõ sự
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 3, tr 192
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 3, tr 59
(13) C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 3, tr 27
(11)
(12)
11
12
liên hệ hữu cơ, chuyễn hoá lẫn nhau. Còn phái Hê-ghen trẻ thì cho rằng sự
phát triển là sự thay thế lẫn nhau một cách đơn thuần. C. Mác và Ph. Ăngghen đã phê phán tư tưởng này và chỉ ra sự phát triển xuất phát từ sự phân
công lao động và sự phát triển của lực lượng sản xuất “Những giai đoạn phát
triển khác nhau của sự phân công lao động cũng đồng thời là những hình
thức khác nhau của sở hữu, nghĩa là mỗi giai đoạn của phân công lao động
cũng quy định những quan hệ giữa cá nhân với nhau, tuỳ theo quan hệ của họ
với tư liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động”(15)
Con người là chủ thể, đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của
mình. Tư duy và trí tuệ con người hình thành và phát triển trong chừng mực
con người nhận thức và cải tạo thế giới, biến tự nhiên từ cái đối lập với mình
thành cái của mình và bằng cách đó làm chủ tự nhiên. đây là quá trình liên
tục. Vì vậy chân lý là sự thống nhất giữa tinh thần và vật chất, hoạt động của
con người càng phát triển bao nhiêu, thì sự thống nhất giữa tinh thần và vật
chất càng gắn bó hữu cơ bấy nhiêu. C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã khẳng định
“Chúng ta đã thấy sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, và về sau-sự đối
lập giữa những quốc gia đại biểu cho lợi ích của nông thôn; và ngay bên
trong các thành thị, chúng ta thấy có sự đối lập giữa công nghiệp và thương
nghiệp hàng hải. Những quan hệ giai cấp giữa công dân và nô lệ đã phát
triển hoàn toàn”(16)
Quan niệm của Hê-ghen về bản chất của triết học và lịch sử triết học
ông cho rằng tinh thần tuyệt đối là thực thể và bản chất của toàn bộ thế giới,
trong đó con người và xã hội là giai đoạn phát triển cao nhất, còn triết học là
hình thức hình thức thể hiện cao nhất của hình thức tinh thần tuyệt đối. Theo
C. Mác và Ph. Ăng-ghen thì tinh thần tuyệt đối của Hê-ghen là ý thức xã hội,
nhưng đã bị ông thần thánh hoá, coi là bản chất của thế giới hiện thực. Ở đây
Hê-ghen đã hiểu sự phát triển của tư tưởng nhân loại là một tiến trình thống
(17)
C. Mác và Ph. Ănghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 3, tr70
14
4. Ý nghĩa của tác phẩm trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý
luận hiện nay
Nghiên cứu tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” không những cho chúng ta thấy sự
ra đời của triết học Mác thực sự là cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học, mà
con cung cấp cho mỗi người cơ sở lý luận để hình thành thế giới quan duy vật
mác-xít và phương pháp luận khoa học trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Và
có cơ sở khoa học để khẳng định rằng, ngày nay chủ nghĩa Mác- Lênin là nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của giai cấp công nhân và của Đảng cộng
sản. Hệ tư tưởng Đức là một trong những tác phẩm mà C. Mác và Ph. Ăng-ghen
đã trình bày một cách có hệ thống. Các ông đánh giá có phê phán phương pháp
biện chứng của Hê-ghen mà đặc biệt là chủ nghĩa duy vật trong triết học của Phoiơ-bắc. C. Mác và Ph. Ăng-ghen chứng minh rằng: cả phép biện chứng duy tâm
của Hê-ghen cũng như chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoi-ơ-bắc đều có hạt
nhân hợp lý, quan trọng là chúng ta biết khai thác yếu tố hợp lý đó một cách khoa
học.
C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã giải đáp được các vấn đề mà trước đó nhân loại
chưa giải đáp được hoặc giải đáp chưa triệt để. Đồng thời các ông tiếp tục nghiên
cứu, bổ sung, hoàn thiện, phát triển đến đỉnh cao, hoàn bị cả về lý luận và thực
tiễn của đời sống xã hội. Hệ thống lý luận đó thống nhất thế giới quan và phương
pháp luận, cách mạng và khoa học, lý luận và thực tiễn, nhận thức thế giới và cải
tạo thế giới. Mặt khác, với phát kiến ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, một thành quả vĩ
đại, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã trở thành nhà tư tưởng vĩ đại, các ông đã đưa triết
học của mình trở thành thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân, là chìa
khoá để khám phá, lịch sử xã hội, với quan điểm nhất nguyên duy vật các ông
lịch sử, các ông đã công khai tính Đảng của triết học, một hệ thống triết học mang
tính triệt để khi nó đứng hẳn trên lập trường chủ nghĩa duy vật. C. Mác và Ph.
Ăng-ghen biến triết học của mình thành vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản. Sự
thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong triết học Mác là sự thống nhất
16
hữu cơ với nhau. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận của chủ nghĩa Mác với
phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào từ trình
độ tự phát lên tự giác, một điều kiện tiên quyết để giai cấp công nhân thực hiện
được sứ mệnh lịch sử vĩ đại của mình./.