LUẬN văn THẠC sĩ tác ĐỘNG của CHUYỂN DỊCH cơ cấu LAO ĐỘNG TRONG PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP đến bảo đảm NGUỒN NHÂN lực CHO KHU vực PHÒNG THỦ TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) nói chung, chuyển dịch cơ cấu
lao động (CDCCLĐ) nói riêng là một tất yếu khách quan, phản ánh trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) và phân công lao động xã hội. Hình
thức, quy mô và bước đi của quá trình CDCCLĐ phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Trong đó, đặc điểm, điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi
khu vực và mỗi tỉnh, thành phố là quan trọng nhất.
Bình Dương là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thuộc
khu vực miền Đông Nam Bộ. Từ khi tỉnh được tái lập năm 1997 đến nay,
GDP của tỉnh gia tăng trung bình 15,4%/ năm giai đoạn 2001 - 2005 cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp từ 31,1% năm
1997 lên 63,8% năm 2005. Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp với tốc độ
nhanh đã thúc đẩy sự CDCCLĐ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH). Tiền đề cho sự phát triển đó ngoài yếu tố khách quan thì chủ
trương xây dựng, phát triển khu công nghiệp (KCN) của lãnh đạo tỉnh và ủy
ban nhân dân tỉnh mang tính chất đột phá đã tạo ra bước ngoặt, tác động đến sự
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập
cho một lực lượng lao động đáng kể trong cả nước và tỉnh Bình Dương nói
riêng. Đây chính là nguòn nhân lực giữ vai trò quan trọng trong cả hiện tại và
tương lai cho KVPT tỉnh Bình Dương.
Song, thực trạng CDCCLĐ trên địa bàn tỉnh còn những bất cập. Đó là:
Chưa sử dụng triệt để lực lượng lao động địa phương, chưa có đủ lực lượng lao
động được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng đòi hỏi của
KCN; số lao động ngoài tỉnh (do nhiều lý do) chưa thực sự gắn bó với doanh
nghiệp. Đặc biệt là công tác huấn luyện dự bị động viên cho công nhân trong
các doanh nghiệp không được tiến hành thường xuyên và trải khắp trong KCN.

3



thập niên đầu thế kỷ XXI” của thượng tá Phạm Đức Nhuấn, tạp chí giáo dục lý
luận chính trị quân sự, số (72) 2/2002. Học viện chính trị quân sự.
“Tác động của đào tạo nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH, HĐH
đến củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay” luận văn thạc sĩ của Bùi Thúc
Vịnh
“Vấn đề tạo nguồn nhân lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
của GS, TSKH Vũ Huy Chương (chủ biên), Nxb CTQG, Hà nội 2002
Trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng đã có một số bài viết liên quan
như:
“Một số giải pháp chủ yếu để phát triển công nghiệp Bình Dương thời
kỳ 2001-2005” của Bùi Đức Xuân
“Bình Dương phát triển mô hình kinh tế khu công nghiệp” của
Nguyễn Văn Bình
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bình Dương theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Luận văn thạc sĩ của Phạm Văn Quế.
Ngoài ra còn nhiều bài viết khác có liên quan, song các đề tài nói trên
chỉ đề cập một số khía cạnh của vấn đề này, chưa thành một đề tài độc lập
được trình bày một cách có hệ thống. Hơn nữa, việc nghiên cứu chủ đề tác giả
đặt ra trong phạm vi tỉnh, đặc biệt là tỉnh Bình Dương đến nay chưa có.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn tác động của CDCCLĐ trong phát triển
KCN đến đảm bảo nguồn nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương. Trên cơ sở đó
đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm phát huy những tác động tích cực,
hạn chế những tác động tiêu cực trong quá trình CDCCLĐ đến đảm bảo nguồn
nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương hiện nay.

5




6. Đóng góp mới của luận văn
Làm rõ sự tác động của CDCCLĐ trong phát triển KCN đến đảm bảo
nguồn nhân lực cho KVPT tỉnh Bình Dương hiện nay.
Đưa ra quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh CDCCLĐ, tạo
ra nguồn nhân lực xây dựng KVPT Tỉnh vững chắc hơn trong tương lai.

7


7. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm rõ cơ sở khoa học, về
sự tác động của CDCCLĐ trong phát triển KCN, đến đảm bảo nguồn nhân
lực cho KVPT tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo và giảng dạy bộ môn kinh
tế chính trị và kinh tế quân sự trong các nhà trường quân đội
8. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.

8


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG
CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG PHÁT TRIỂN
KHU CÔNG NGHIỆP ĐẾN ĐẢM BẢO NGUỒN NHÂN LỰC CHO
KHU VỰC VỰC PHÒNG THỦ TỈNH BÌNH DƯƠNG
1.1. Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu lao động trong phát triển khu
công nghiệp ở Bình Dương hiện nay

Uỷ, UBND Tỉnh chủ động làm thay đổi cấu trúc và các mối quan hệ của kết
cấu lao động theo một chủ đích và một phương hướng nhất định nhằm đáp ứng
nguồn nhân lực cho sự phát triển nhanh của KCN và củng cố KVPT của Tỉnh.
Nội hàm của khái niệm về CDCCLĐ ở Bình Dương chỉ rõ:
Một là, quá trình Tỉnh Uỷ, UBND tỉnh Bình Dương chủ động tác động
làm thay đổi cấu trúc và mối quan hệ vốn có của CCLĐ theo một quy hoạch
được vạch ra, thống nhất với quy hoạch chung của quốc gia.
Hai là, mục tiêu của sự chuyển dịch là nhằm chủ động đáp ứng nguồn
nhân lực cho nhu cầu phát triển nhanh các KCN trên địa bàn tỉnh Bình
Dương, trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai.
Ba là, thông qua đó không ngừng nâng cao số và chất lượng các lực
lượng đáp ứng cho KVPT Tỉnh, trong thời bình cũng như khi có tình huống
tác chiến xảy ra.
Các vấn đề trên có mối quan hệ rất mật thiết với nhau, vấn đề này là
tiền đề của vấn đề kia hợp thành một chỉnh thể thống nhất tạo ra sự CDCCLĐ
ngày càng mạnh mẽ ở tỉnh Bình Dương, một trong những tỉnh thuộc trọng
điểm phát triển kinh tế phía Nam của nước ta.
1.1.2. Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu lao động trong phát triển khu
công nghiệp ở Bình Dương hiện nay

10


Quá trình CDCCLĐ trong phát triển khu công nghiệp ở Bình Dương
bắt nguồn từ những lí do cơ bản sau:
Một là, do yêu cầu phát huy vai trò của lao động trong sản xuất công
nghiệp ở KCN.
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh vai trò
to lớn của lao động. Theo Mác: lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa
con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động chính mình, con

dụng có hiệu quả các nguồn lực, bao gồm nguồn tài nguyên, nguồn vốn, khoa
học công nghệ, đặc biệt là nguồn lao động. Trong đó, nguồn lực lao động có ý
nghĩa quyết định, bởi vì mọi hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần, rút cuộc
đều là hoạt động của người lao động. Chính vì vậy, Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX đã khẳng định: “Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển
đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH” [14, tr.201].
Quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH gắn liền với việc
hình thành KCN tập trung ở Bình Dương hiện nay, càng đòi hỏi phải có lực
lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ luật, tay nghề và ý thức tổ chức kỷ
luật cao. Do vậy với tư cách là người lao động, hơn bao giờ hết phải có nhận
thức sâu sắc để không ngừng bồi dưỡng và nâng cao trình độ văn hóa, chuyên
môn nghề nghiệp là yêu cầu cấp bách để sử dụng và tiếp thu có hiệu quả
những thành tựu khoa học- công nghệ tiên tiến của thế giới, góp phần làm
thay đổi CCLĐ phù hợp với quan điểm đại hội Đảng lần thứ IX: “Con đường
CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước
tuần tự, vừa có bước nhảy vọt” [14, tr.91].
Tốc độ phát triển nhanh của sản xuất công nghiệp ở Bình Dương hiện
nay đã tạo ra “cơn sốt” về lao động, kể cả số lượng lẫn chuyên môn cao. Hơn
200 nghìn lao động công nghiệp và hơn 100 nghìn lao động các ngành nghề
trong tỉnh ít được đào tạo và đào tạo không cơ bản, là một trở ngại lớn cho
KCN hiện nay. Đặc biệt là tình trạng thiếu lao động trong các doanh nghiệp,
sau dịp tết nguyên đán hàng năm, vì số công nhân ở các địa phương khác đến
làm việc, sau khi nghỉ tết không quay trở lại. Trong năm 2006, Bình Dương

12


có nhu cầu tuyển mới thêm 40 nghìn lao động nhưng khả năng cung ứng lao
động tại chỗ và nguồn lao động nhập cư khá bấp bênh.
Tình trạng này đặt ra yêu cầu đối với ban quản lý KCN, các doanh

lớn cho tất cả các địa phương.
Như vậy cho đến nay CCLĐ đang còn mất cân đối giữa các ngành, các
khu vực (giữa sản xuất và phi sản xuất), giữa các vùng (đô thị và nông thôn)
giữa các thành phần kinh tế (Nhà nước, tập thể và tư nhân...) đã gây ra những
khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tạo ra sự mất cân đối về
phân bố lao động giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế trong
quá trình CNH, HĐH.
Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, Bình Dương vẫn còn là tỉnh
thuần nông. Từ một tỉnh có tỷ trọng ngành nông nghiệp là chủ yếu, ngày nay
Bình Dương đã vươn lên trở thành một trong những nơi có tốc độ phát triển
công nghiệp nhanh nhất cả nước. Nhiều nhà máy, xí nghiệp mọc lên, nhiều khu
công nghiệp tập trung liên tiếp hình thành, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu
tư và nguồn lao động trong và ngoài tỉnh. Việc phát triển KCN tập trung góp
phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tỉnh theo hướng
tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ giảm dần tỷ trọng nông nghiệp để thực
hiện mục tiêu chung của đất nước: đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp. Đồng thời, việc phát triển công nghiệp về các vùng nông
thôn trong tỉnh, còn tạo ra nhiều việc làm để chuyển từ lao động nông nghiệp,
nông thôn sang lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ.
CDCCLĐ là hệ quả tất yếu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Bình
Dương là một tỉnh hiện đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tốc độ
nhanh và tích cực, từ ngành nông nghiệp có năng suất lao động thấp sang
ngành công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn. Đặc biệt là sự
hình thành và phát triển nhanh KCN tập trung đã, đang và sẽ thu hút một lực
lượng lao động lớn của xã hội.
Ba là, do yêu cầu phát triển KCN hiện nay ở Bình Dương

14




lập và đi vào hoạt động với tổng diện tích 2.431 ha và 23 cụm công nghiệp
diện tích 3.573 ha. Tính đến tháng 11/2004 Bình Dương có 2.754 dự án đầu
tư trong nước với tổng số vốn đầu tư hơn 11 nghìn tỷ đồng và 871 dự án đầu
tư nước ngoài 4,1 tỷ USD đã lấp đầy hơn 80% diện tích, Nhiều KCN có diện
tích đất cho thuê tới 95%, có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Bình
Dương với các ngành nghề: Dệt may, da giày, chế biên thủy hải sản, vật liệu
xây dựng, xe đạp, cơ khí, điện, điện tử...Đã có 434 doanh nghiệp trong các
KCN đi vào hoạt động có doanh thu và hàng năm đều tăng vốn mở rộng sản
xuất kinh doanh. Riêng năm 2004 các doanh nghiệp trong KCN đạt doanh thu
1.605 triệu USD. Tính chung giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 của Bình
Dương đạt hơn 32 nghìn tỷ đồng, tỷ trọng công nghiệp chiếm 63,3% GDP.
Cùng với cả nước, bên cạnh 12 KCN đã đi vào hoạt động. Hiện nay các
chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN mới như: Mai Trung, Việt Hương II,
Mỹ Phước II, III đã và đang triển khai nhanh việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật như đường giao thông, hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước, nhà máy
xử lý nước thải...để sớm đưa vào hoạt động.
Đặc biệt đề án phát triển khu liên hiệp công nghiệp - dịch vụ và đô thị
Bình Dương đã được chính phủ phê duyệt ngày 19/3/2003 tại công văn số
295/CP -CN do phó thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng ký. Đề án này
được triển khai trong những năm tới trên diện tích quy hoạch là 4.196 ha.
Trong đó sẽ có 2.200 ha dành cho việc thu hút đầu tư phát triển công nghiệp,
bao gồm khu công nghiệp tập trung là 1900 ha và 300 ha dành cho phát triển
khu công nghệ có hàm lượng chất xám cao. Với hàng nghìn dự án đầu tư công
nghiệp sẽ cần từ 150 ngàn đến 200 ngàn lao động và hàng trăm cơ sở dịch vụ
đô thị sẽ thu hút từ 200 ngàn đến 300 ngàn lao động. Sự phát triển của khu
liên hiệp sẽ là một nguồn công việc to lớn, có thể thu hút lực lượng lao

16



hóa để có sức cạnh tranh trên thị trường sức lao động và có khả năng thích
ứng cao trong giai đoạn mới- giai đoạn kinh tế tri thức hiện nay.
Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp CNH,
HĐH. Thực trạng về trình độ công nghệ của tỉnh Bình Dương hiện nay còn
rất thấp; 30% doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài có trình độ tiên tiến. Còn 70% doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp
trong nước và có trình độ trung bình và lạc hậu (theo đánh giá của ban quản lý
các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương). Trình độ công nghệ lạc hậu là nguyên
nhân chính làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thấp,
chất lượng sản phẩm kém, hạn chế khả năng cạnh tranh của sản phẩm công
nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước, đây cũng là thử thách lớn đối với
các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế
giới.
Trước thực trạng và yêu cầu cấp bách đó, tỉnh Bình Dương có chủ
trương: phải thực hiện cho được bước nhảy vọt về khoa học công nghệ trong
lĩnh vực công nghiệp của tỉnh nhà. Hướng chính là hiện đại hóa từng phần,
từng công đoạn quan trọng trong dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng sức cạnh tranh trên thị trường trong và
ngoài nước. Thông qua đầu tư nước ngoài để đi thẳng vào công nghệ hiện đại.
Nhập khẩu công nghệ và thiết bị có cân nhắc loại bỏ ngay từ đầu các công
nghệ đã lạc hậu hoặc sắp lạc hậu. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật để
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, không ngừng tích lũy để tái
sản xuất mở rộng, ưu tiên một phần vốn của Nhà nước để nghiên cứu khoa
học và vận dụng kết quả vào nghiên cứu sản xuất, trước hết là các ngành công
nghiệp then chốt thuộc thế mạnh của địa phương, cho phép các doanh nghiệp
khấu hao tài sản cố định nhanh để thu hồi vốn, thay công nghệ mới, ưu tiên
cho các doanh nghiệp vay vốn để đổi mới công nghệ. Căn cứ vào các chính

18


19


lượng, chất lượng và CCLĐ giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế,
trên thị trường sức lao động phải được nhận biết, phân tích xem xét và điều
chỉnh trong cung sức lao động. Đây là sự thay đổi căn bản nhất trong cung
sức lao động của nền kinh tế hiện đại so với nền kinh tế truyền thống. Thông
qua thị trường sức lao động sẽ giúp người lao động nắm bắt được những yêu
cầu thông tin theo định hướng cầu sức lao động để từ đó mà điều chỉnh khả
năng cung sức lao động cho phù hợp.
Thực tế cho thấy nước ta là nước đang phát triển, các yếu tố thị trường
chưa đồng bộ và hoàn chỉnh, thị trường sức lao động còn sơ khai, còn tồn tại
song hành hai khu vực kinh tế (truyền thống và hiện đại) đang diễn ra sự
chuyển hóa về tỷ trọng với nhau:
Khu vực kinh tế truyền thống vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, là nơi thu hút
nhiều lao động, nhất là nông nghiệp, nông thôn, song cũng đang có xu hướng
giảm dần. Khu vực kinh tế hiện đại (nơi có thị trường sức lao động phát triển)
đang có sự biến động cả về quy mô và tốc độ, ngày càng thu hút nhiều sức lao
động hơn, trước hết là ở các vùng đô thị, KCN tập trung. Khu vực kinh tế này,
cần sức lao động cũng có những thay đổi lớn và nhanh chóng, đòi hỏi cần có
sự điều chỉnh CCLĐ cho phù hợp.
Thị trường sức lao động giữa các vùng phát triển chưa đồng đều, hệ
thống tổ chức cung ứng sức lao động chưa phát triển và hoạt động chưa có
hiệu quả, nên chưa trở thành cầu nối, gắn kết giữa cung sức lao động và cầu
sức lao động. Điều đó biểu hiện: Việc tuyển dụng chủ yếu qua quan hệ cá
nhân; thông tin thị trường sức lao động còn yếu kém; công tác dự báo chưa
được coi trọng...đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho cung,
cầu sức lao động không ăn khớp với nhau trong CDCCLĐ giữa các ngành,
các vùng và các thành phần kinh tế.

nghề, chuyên môn, nhất là đội ngũ công nhân kỹ thuật, đội ngũ chuyên gia
thực hành trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học có tay nghề cao. Xây dựng
mối quan hệ giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Xóa bỏ mọi định kiến

21


bảo thủ, trì trệ trong sản xuất, xem nhẹ khoa học công nghệ ở một số ngành,
vùng hiện nay. Thiết lập một cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần
kinh tế phù hợp, tạo điều kiện áp dụng những thành tựu khoa học - công nghệ
vào quá trình sản xuất.
Thứ hai: Chuyển từ lao động nông nghiệp là chủ yếu sang lao động
công nghiệp, dịch vụ.
Xu hướng khách quan này bắt nguồn từ chỗ: chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và CCLĐ có mối quan hệ biện chứng, vừa là điều kiện, tiền đề, vừa là kết quả
của nhau. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, tốc độ nhanh và hiệu quả
sẽ tạo điều kiện, tiền đề thuận lợi cho CDCCLĐ. Song tính hiện thực của việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói trên phải được thực hiện thông qua nguồn lực
lao động, thông qua kết quả của việc CDCCLĐ. Thực chất của xu hướng nói
trên là giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công
nghiệp và dịch vụ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Đây là xu hướng nhằm tạo ra một CCLĐ có chất lượng cao theo hướng
CNH, HĐH, từng bước tiếp cận trình độ kinh tế tri thức xu hướng này được
thực hiện đảm bảo nâng cao chất lượng cơ cấu ngành kinh tế, làm cho nền
kinh tế tăng trưởng và phát triển theo hướng bền vững.
Thứ ba: Chuyển từ lao động phân tán sang lao động tập trung
chuyên môn hóa.
Kinh nghiệm các nước cho thấy lao động phi tập trung quy mô nhỏ đã
cản trở đến việc sản xuất hàng hóa, cản trở đến việc áp dụng tiến bộ khoa học
- công nghệ. Bởi vậy, muốn phát triển kinh tế cần phải chuyển dịch lao động

giảm được chi phí trong xây dựng.
Đất xây dựng công nghiệp, cơ sở hạ tầng và đô thị được quy hoạch trên
40.000ha, trong đó sử dụng là 21.000ha, dự kiến quy hoạch để mở rộng các
KCN (trong đó đất trồng cây hàng năm 40.000ha, cây lâu năm 114.000 ha,
chủ yếu là trồng cây cao su, điều và cây ăn trái).
Về thủy văn, Bình Dương có mạng lưới sông ngòi khá dày trong đó có
2 con sông lớn chảy qua là sông Sài Gòn hướng Tây Nam và sông Đồng Nai

23


hướng Đông Bắc. Đây là hai con sông cung cấp nguồn nước đồng thời là
đường giao thông rất thuận lợi đi các nơi.
Về tài nguyên, tỉnh có 86 điểm khai thác mỏ khoáng sản, chủ yếu là
đất cao lanh, đá xây dựng có trữ lượng lớn và chất lượng tốt, đây là tiềm
năng thế mạnh của tỉnh để phát triển ngành nghề gốm sứ, xây dựng và các
ngành nghề khác.
Trữ lượng đất cao lanh 150 triệu tấn, tập trung ở 2 huyện Dĩ An và Tân
Uyên.
Trữ lượng đất sét làm gạch ngói 250 triệu m3, đá xây dựng 1,3 tỷ m3
Ngoài ra còn có một số khoáng sản khác như đất sét chịu lửa, banxít
vàng, sa khoáng, cát xây dựng... các KCN Bình Dương được quy hoạch và
xây dựng chủ yếu tập trung ở 2 huyện Thuận An và Dĩ An thuộc phía Nam
của tỉnh nơi có nền đất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình và vị trí địa
lý thuận lợi cho giao thông. Ngoài ra tỉnh dự kiến quy hoạch thêm một số
vùng thuộc phía Bắc thị xã Thủ Dầu một và huyện Bến Cát. Nơi có những
điều kiện địa lý, thổ nhưỡng thích hợp cho việc thành lập các KCN tập trung.
Đặc điểm của Bình Dương khi còn là một bộ phận của tỉnh Sông Bé
thu nhập chủ yếu của tỉnh dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp và cây cao su.
Công nghiệp hầu như chưa có gì đáng kể, chỉ là những mặt hàng thủ công mỹ

là:
Thứ nhất, Bình Dương chưa có được những kinh nghiệm trong việc
thành lập các KCN so với thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, bởi vậy công
tác kêu gọi đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài còn hạn chế.
Thứ hai, Bình Dương không có thế mạnh về đội ngũ cán bộ khoa học kỹ
thuật, thiếu những công nhân lành nghề và có kỹ thuật kỹ thuật cao, mà chủ yếu là
những lao động xuất thân từ nông nghiệp, chưa quen với lao động công nghiệp.

25


Thứ ba, Bình Dương là một tỉnh đô thị loại 5 nên việc đầu tư cơ sở hạ
tầng còn nhiều thiếu thốn, ảnh hưởng tới tâm lý các nhà đầu tư.
Thứ tư, là một tỉnh có dân số thấp, việc cung ứng lao động cho các
KCN trong tỉnh gặp nhiều khó khăn.
Với những điều kiện thuận lợi và khó khăn đó, vấn đề đặt ra cho Bình
Dương là làm thế nào để đẩy nhanh tiến độ đầu tư phát triển KCN. Đây là vấn
đề mà Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bình Dương luôn quan tâm và trăn trở. Phát
triển KCN là một yêu cầu bức xúc trong tiến trình thực hiện CNH, HĐH của
Tỉnh. Chính vì điều đó, trong nghị quyết của Tỉnh đảng bộ, Nghị quyết của
hội đồng nhân dân Tỉnh và chương trình công tác của ủy ban nhân dân, luôn
quán triệt nhất quán phương châm “trải chiếu hoa để mời gọi các nhà đầu tư,
trải thảm đỏ để đón những nhà trí thức”.
Từ việc vận dụng được những lợi thế về tiềm lực, Đảng và chính quyền
Tỉnh đã có những chủ trương đúng đắn và nhất quán đi đôi với những việc
làm cụ thể, nhất là cải cách thủ tục hành chính và phong cách làm việc của
các cấp lãnh đạo. Bình Dương đã tạo ra một nguồn lực mạnh mẽ hấp dẫn thực
sự các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến Bình Dương để tìm hiểu cơ hội và
đâu tư sản xuất kinh doanh, chỉ trong một thời gian ngắn Bình Dương đã trở
thành một địa điểm được nhiều nhà đầu tư lưu tâm và hợp tác.

trọng lao động phức tạp tăng lên trong tổng số lao động xã hội, trong từng
thời kỳ tương ứng. Từ ý tưởng trên có thể thấy CDCCLĐ theo hướng CNH,
HĐH nói chung và trong phát triển KCN ở tỉnh Bình Dương nói riêng không
thể không xem xét một cách nghiêm túc mối quan hệ tác động giữa nó với
trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật.
Phát triển các KCN về thực chất là tiến hành CNH, HĐH trong lĩnh vực
công nghiệp, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, thay thế lao động thủ

27



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status