1
CUỘC ĐẤU TRANH GIỮA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ
NGHĨA DUY TÂM TRONG TRIẾT HỌC Ở TÂY ÂU
THỜI KỲ PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng và cận đại phản ánh cuộc đấu
tranh của giai cấp tư sản nhằm giải phóng con người khỏi sự chật hẹp của tôn giáo
và thần học trong xã hội phong kiến, đề cao tư tưởng nhân đạo. Tuy nhiên, con
người ở đây mới được đề cặp đến như những cá thể, bản chất xã hội của con người
chưa giải quyết được một cách cơ bản.
Các nhà triết học thời kỳ phục hưng thường đồng thời là nhà khoa học tự
nhiên như Brunô, Ganilê, Đềcáctơ, Lépnít... Do ảnh hưởng của sản xuất cơ khí,
máy móc, công trường thủ công, phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu khoa
học, trong triết học thời kỳ này phương pháp tư duy siêu hình máy móc rất phát
triển. Đây cũng là hinh thức thứ hai của chủ nghĩa duy vật. Sự thống trị của tư
tưởng tự nhiên thần luận trong triết học là biểu hiện sự phức tạp của cuộc đấu tranh
giữa triết học và khoa học chân chính.
Nghiên cứu và bước đầu chỉ ra những nội dung cơ bản của cuộc đấu tranh
giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy, chỉ ra sự liên minh của khoa học với chủ
nghĩa duy vật trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, sự khôi
phục lại của những giá trị tư tưởng và triết học cổ đại, đề cao giá trị và sức mạnh
con người, vươn lên làm chủ tự nhiên và xã hội.
Nghiên cứu cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm của
thời kỳ Phục hưng và Cận đại cho ta cơ sở tiếp cận chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc
2
lại bọn cơ hội xét lại các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, đường lối của Đảng
và Nhà nước ta.
* Nhiệm vụ
Làm rõ một số nội dung cơ bản của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa duy tâm,
Chỉ ra sự liên minh của khoa học với chủ nghĩa duy vật trong cuộc đấu tranh
chống lại chủ nghĩa duy tâm tôn giáo.
Làm rõ sự khôi phục lại của những giá trị tư tưởng và triết học cổ đại. đề cao
giá trị và sức mạnh con người, vươn lên làm chủ tự nhiên và xã hội.
Hình thành những căn cứ khẳng định triết học Mác Lênin là cách mạng khoa
học nhất đang là vấn đề cấp thiết hiện nay
4. Cơ sở lí luận thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận là quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác về triết
học thời kỳ Phục hưng và Cận đại, những quan điểm, chủ trương chính sách của
Đảng, Nhà nước, những công trình khoa học nghiên cứu về triết học Phục hưng và
cận đại.
Phương pháp nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái
quát hoá, trừu tượng hoá.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dậy
triết học.
4
PHẦN THỨ NHẤT
ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CỦA SỰ PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC
PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI.
Bắt đầu từ thế kỷ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với đạo luật hà khắc Trung
Triết học Tây Âu thời kỳ này phản ánh cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản
nhằm giải phóng con người khỏi sự chật hẹp của tôn giáo và thần học trong xã hội
phong kiến, đề cao tư tưởng nhân đạo. Tuy nhiên, con người ở đây mới được đề
cặp đến như những cá thể, bản chất xã hội của con người chưa giải quyết được một
cách cơ bản.
Các nhà triết học thời kỳ phục hưng thường đồng thời là nhà khoa học tự
nhiên như Brunô, Ganilê, Đềcáctơ, Lépnít... Do ảnh hưởng của sản xuất cơ khí,
máy móc, công trường thủ công, phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu khoa
học, trong triết học thời kỳ này phương pháp tư duy siêu hình máy móc rất phát
triển. Đây cũng là hinh thức thứ hai của chủ nghĩa duy vật. Sự thống trị của tư
tưởng tự nhiên thần luận trong triết học là biểu hiện sự phức tạp của cuộc đấu tranh
giữa triết học và khoa học chân chính.
PHẦN THỨ HAI
CUỘC ĐẤU TRANH GIỮA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY
TÂM TRONG TRIẾT HỌC THỜI KỲ PHỤC HƯNG.
Nicôlai Kuzan (1401 – 1464 )
Nicôlai Kuzan là người đầu tiên phê phán mạnh mẽ các giáo lý Trung cổ mở
đầu thời kỳ Phục hưng.
Các tác phẩm nổi tiếng của ông là: "Về sự dốt nát, Về tri thức học "....Ông xây
dựng hệ thống thần học mới thay thế cho hệ thống thần học cũ của các nhà triết học
Trung cổ.
Ông đưa ra quan điểm tự nhiên thần luận cho rằng: Thượng đế là tự nhiên,
thượng đế chính là sự tồn tại của tự nhiên trong thế giới. Thượng đế không phải là
một vật hay cá nhân cụ thể mà là bản chất vô hạn của giới tự nhiên. Mối quan hệ
6
gữa Thượng đế và giới tự nhiên giống như mối quan hệ giữa bản chất và những
hiện tượng phong phú vô cùng vô tận mà nó biểu hiện ra của bản chất.
Thượng đế là đấng tối cao sáng tạo ra thế giới trong bẩy ngày như sự khẳng định
của Kinh thánh. Trong triết học ông là ngừơi có quan điểm của các nhà triết học tự
nhiên thần luận.
Lêôna Đờvanhxi xây dựng một hệ thống thế giới quan mới khoa học thực sự
dựa trên cơ sở của kinh nghiệm và khoa học thực nghiệm. Lêôna Đơvanhxi đặc
biệt đề cao vai trò của kinh nhgiệm trong nhận thức. Ông khẳng định khoa học nào
chưa được kiểm nghiệm của kinh nghiệm, tri thức nào không xuất phát từ cảm giác
của chúng ta đều là sai lầm, ông cũng là người đề cao vai trò của tri thức lý luận.
Tiếp thu tư tưởng của các nhà nhân đạo chủ nghĩa Ông khẳng định con người là
vũ khí vĩ đại nhất của tạo hoá. Con người có thể sáng tạo ra các sự vật hiện tượng
mới từ tự nhiên để thoả mãn nhu cầu của con người.
Ông là người rất đề cao nghệ thuật coi hoạt động nghệ thuật của con người là
phương thức nhận thức Thượng đế “Thượng đế như người thợ cả và hoạ sỹ tối
cao”. Tư tưởng nhân văn trong triết học của Ông đã làm đảo lộn nhân sinh quan và
vũ trụ quan của Kitô giáo, không lấy Thượng đế làm trung tâm và thước đo, mà lấy
con người làm trung tâm và thước đo tất thảy moi vật.
Điểm hạn chế của Ông là ở chỗ quá đề cao nghệ thuật nghệ thuật coi nghệ
thuật đứng trên cả khoa học, khi ông cho rằng chỉ có nghệ thuật mới có thể nhận
thức được bản chất của sự vật, các khoa học chỉ có thể nhận thức được các hiện
tượng của các sự vật.
Brunô (1548 – 1600)
Brunô là nhà triết học tự nhiên thần luận người Italia thời kỳ Phục hưng bảo vệ
thuyết nhật tâm của Côpéc níc, Ông là nhà triết học tự nhiên thần luận nghiêng về
lập trường duy vật. Triết học của ông là đỉnh cao của tưởng triết học thời kỳ Phục
hưng.
Phạm trù trung tâm của triết học Brunô là”cái duy nhất “”unnô”. Unnô chính là
Thương đế tồn tại dưới dạng giới tự nhiên. Mặc dù đồng nhất Thượng đế với giới
tự nhiên, nhưng Brunô chỉ thừa nhận Thượng đế trên danh nghĩa. Brunô cho rằng
10
Theo ông, nguyên nhân của mọi bất công và tệ nạn xã hội là do sự thông trị của
chế độ xã hội dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Ông cho rằng ở
đâu có tư bản thì ở đó tiền là thước đo tất cả. Morơ khẳng định, chế độ tư hữu làm
cho người ta ích kỷ.
Ông xây dựng tác phảm nổi tiếng “Utôpia “ (nghĩa là không tưởng ). Ông đưa
ra mô hình xã hội lý tưởng xây dựng trên hòn đảo U-tô-pia. Theo Ông xã hội đó
phải được xây dựng dựa trên nền tảng công hữu về tư liệu sản xuất mọi sản phẩm
làm ra được phân phối đều trong xã hội. Thời gian lao động chỉ còn 6 giờ trong
ngày thời gian còn lại dùng để phát triẻn nhân cách toàn diện cho mọi thành viên
của xã hội. Trong xã hội mọi người đều bình đẳng. Trong xã hội không có tiền tệ
không có sở hữu tư nhân cả lao động chí óc và lao động chân tay đều bình đẳng.
Tômát Morơ chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Cơ đốc giáo, ông cho rằng
người lãnh đạo xã hội lý tưởng đó là người định ra chuẩn mực về đạo đức, chính trị
xã hội ở Utôpia. Moi sự tốt xấu của xã hội đều xuất phát từ người lãnh đạo của
Utôpia .
Điểm hạn chế của Morơ, Ông cho rằng trong xã hội vẫn cần thiết có những
người nô lệ để họ làm các việc nặng nhọc. Tôn giáo cũng là cần thiết đối với xã hội
. Trong xã hội lý tưởng “Utôpia” của ông vẫn cho phép theo quan điểm vô thần
nhưng bị coi là người vô đạo đức.
Tômađô Cămpamenla (1568 – 1639 )
Cămpanenla là nhà khoa học tự nhiên, nhà cộng sản không tưởng người Italia.
Phát triển các tư tưởng nhân đạo của Tômát môrơ Ông đưa ra mô hình xã hội lý
tưởng trong tác phẩm " thành phố mặt trời ".
Ông cho rằng nguyên nhân cơ bản của mọi bất công trong xã hội là do tồn tại
chế độ tư hữu sinh ra kẻ giàu người nghèo và những bất công khác trong xã hội.
Ông còn cho rằng chính tính ích kỷ của con người là nguyên nhân của mọi điều ác.
Sự bình đẳng cộng đồng là cần thiết và nó phù hợp với sự có mặt của Thượng đế ở
Thời cận đại (thế kỷ XVII - XVIII) ở các nước Tây Âu là thời kỳ giai cấp tư sản
đã giành được thắng lợi chính trị. Phương thức sản xuất tư bản được xác lập và trở
12
thành phương thức sản xuất thống trị, nó đã tạo ra những vận hội mới cho khoa
học, kỹ thuật phát triển, nhất là khoa học tự nhiên, trong đó cơ học đã đạt tới trình
độ hoàn thiện khoa học thời kỳ này mang đặc trưng là khoa học tự nhiên - thực
nghiệm. Đặc trưng ấy tất yếu dẫn tới "thói quen" nhìn nhận đối tượng nhận thức
trong sự tách rời cô lập, không vận động, phát triển.
1. Điều kiện kinh tế - chính trị và khoa học thời cận đại
Thứ nhất, đây là thời kỳ thắng lợi của chủ nghĩa duy vật đối với chủ nghĩa duy
tâm, của những tư tưởng vô thần đối với hữu thần luận.
Thứ hai, chủ nghĩa duy vật thời kỳ này mang hình thức của chủ nghĩa duy vật
cơ giới, siêu hình, máy móc. Phương pháp siêu hình thống trị, phổ biến trong lĩnh
vực tư duy triết học và khoa học.
Thứ ba, đây là thời kỳ xuất hiện những quan điểm triết học tiến bộ về lĩnh vực
xã hội, nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm trong việc giải
thích xã hội và lịch sử.
2. Đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm chủ quan thế kỷ XVII
đầu thế kỷ XVIII ở nước Anh
Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII nước Anh từ một nước nông nghiệp
lạc hậu đã tiến lên có một nền kinh tế công nghiệp khá phát triển và trở thành
nước tư bản mạnh nhất Châu Âu thời ấy. Trung tâm công nghiệp, thư ơng
nghiệp, khoa học và văn hoá từ Italia đã chuyển sang Anh, Pháp, Hà Lan. Do
nhu cầu phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa nên khoa học thực nghiệm phát
triển mạnh. Nhiều phát minh, sáng chế ra đời, có ý nghĩa rất lớn đối với sản
xuất và là cơ sở thực nghiệm cho triết học duy vật Anh xuất hiện.
Phranxi Bêcơn (1561 - 1621)
Bêcơn đa ra "phương pháp con ong" nhằm khắc phục hạn chế của 2 phương
pháp trên. Đó là hướng tư duy vào khái quát và diễn giải các tài liệu do cảm giác
đem lại, "chế biến" tài liệu cảm tính, giống con ong chế biến mật từ phấn hoa.
Bêcơn coi phương pháp thực nghiệm là công cụ chủ yếu nhận thức khoa học; khoa
học cần nhận thức giới tự nhiên, chứ không cần những giáo lý của thần học.
14
Chủ nghĩa duy vật của Bêcơn là chủ nghĩa duy vật siêu hình. Ông quy sự vận
động vật chất thành sự lặp lại vĩnh viễn những hình thức bất biến. Về vấn đề quan
hệ giữa khoa học và tôn giáo, Bêcơn thể hiện tính chất thoả hiệp trong quan niệm
của ông về chân lý hai mặt: mặt khoa học và mặt thần học. Ông cho rằng, khoa học
và tôn giáo không nên can thiệp vào thẩm quyền của nhau. Triết học duy vật Bêcơn
là một sự thoả hiệp thể hiện tính chất không triệt để. Mặc dù vậy, triết học duy vật
Bêcơn đã có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của khoa học, nó giáng một đòn
rất mạnh vào uy tín của Giáo hội và tôn giáo.
Tômát Hốpxơ (1588 - 1679)
Hệ thống hoá chủ nghĩa duy vật Bêcơn, Tômát Hốpxơ là người có công trong
việc nghiên cứu loại bỏ nhiều yếu tố thần học và tiếp tục cuộc đấu tranh cho thế
giới quan khoa học duy vật. Hốpxơ đã tiến hành cuộc đấu tranh rất kiên quyết
chống chủ nghĩa duy tâm và thần học. Hốpxơ cho rằng, sự sợ hãi và ngu dốt sinh ra
tôn giáo.
Triết học Hốpxơ gồm "triết học tự nhiên": nghiên cứu những vật thể thiên
nhiên và "triết học thông thường": nghiên cứu những vật thể nhân tạo nghĩa là xã
hội loài người. Hốpxơ mong muốn đa ra một hệ thống triết học chống lại học
thuyết về "chân lý hai mặt" của Bêcơn.
Hốpxơ là một nhà duy vật cơ học điển hình. Ông coi cơ học và toán học
là mẫu mực của bất kỳ tư duy khoa học nào. Hốpxơ coi giới tự nhiên là tổng
số các vật có quảng tính với những khác biệt về kích th ước, hình dáng, vị trí
và vận động.
Nhân bản học và nhận thức luận của Béccly
Thế giới là tổ hợp các cảm giác con người. Sự tồn tại của linh hồn con người
là cảm nhận, linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác. Quá đề cao cảm
giác, Béccly đã đồng nhất toàn bộ các ý niệm của con người với cảm giác. Con người, theo ông, là kết quả kết hợp giữa linh hồn và thể xác. Theo Béccly, chân lý là sự
phù hợp của sự suy diễn của chúng ta về sự vật.
Béccly coi sự hoàn thiện tối cao của bản chất con ngư ời là ở việc nhận
thức và thực hiện các giáo lý. Tuy vậy, Béccly là đại biểu điển hình của chủ
nghĩa duy tân chủ quan thời cận đại, có đóng góp lớn trong phê phán sự hạn
16
chế và bất lực của triết học và khoa học cuối thế kỷ XVII đầu XVIII ở Tây Âu.
Đavít Hium (1711 - 1776)
Học thuyết triết học của Hium là sự tiếp tục chủ nghĩa duy tâm chủ quan của
Béccơly, nhưng khác Béccơly, ông là nhà triết học duy tâm chủ quan cực đoan hơn,
ông phê phán mạnh mẽ các khoa học, tuyệt đối hoá vai trò của cảm giác, coi cảm
giác là điểm xuất phát và dạng cơ bản của nhận thức, ông tách biệt các cảm giác
con người với thế giới bên ngoài, cho rằng, cảm giác là nguồn gốc nhận thức mà
không cần đến sự tác động của thế giới bên ngoài. Theo Hium, quá trình nhận
thức không phải là nhận thức thế giới, mà là nhận thức những quá trình tâm lý
xảy ra trong con người mà ông gọi là những cảm xúc.
Nghi ngờ sự tồn tại của thế giới bên ngoài, Hium phê phán các quan niệm
duy vật coi vật chất là thực thể của mọi vật. Theo ông, bản thân vật chất, thực
thể... là tổng thể các ý niệm đơn giản liên hợp với nhau bởi sự tư ởng tượng.
Thực thể, sự vật không tồn tại khách quan, song chúng tồn tại trong hư cấu
của con người. Hium phủ nhận quan hệ nhân quả trong thế giới khách quan và
theo ông, khoa học là sự mô tả cảm xúc và trạng thái tâm lý của con người.
Hium phê phán các quan niệm coi linh hồn con người như môt thực thể. Con
người là sự liên kết hay một chùm các giá trị khác nhau, cái này kế tiếp cái kia,
chúng nằm trong quá trình biến đổi. Hium nghi ngờ mọi cái mà nhân loại đã đạt được, không tin vào các chuẩn mực đạo đức, truyền thống. Ông nhấn mạnh phải giữ
nhiên. Thuộc tính thứ 2 của thực thể là tư duy, Xpinôza phân biệt ra hai loại tư duy:
tư duy với tư cách là thuộc tính của thực thể thì vô hạn, tồn tại vĩnh viễn, tư duy
con người là dạng bậc cao, là hữu hạn và có thể bị huỷ diệt khi con người chết.
Xpinôza cho rằng các sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi không
ngừng, có sinh ra và mất đi. Theo ông, sự tồn tại đã chứa đựng một tất yếu suy
vong. Học thuyết Xpinôza về thực thể hướng đến khắc phục nhị nguyên luận của
Đềcáctơ trong giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Nhân bản học và nhận thức luận của Xpinôza
Xpinôza cho rằng, con người là một dạng thức bao gồm 2 thuộc tính thể
xác (quảng tính và linh hồn). Con người là sản phẩm của tự nhiên, mọi hoạt
18
động của con người phải tuân theo quy luật của giới tự nhiên. Theo Xpinôza,
linh hồn và thể xác là hai hình thức thể hiện cùng một thực thể, hai cách thể
hiện nội dung nh một thể thống nhất. Theo ông, mọi quan niệm tách rời linh
hồn và thể xác và coi linh hồn có nguồn gốc siêu nhiên là duy tâm, sai lầm.
Xpinôza đề cao vai trò của kinh nghiệm. Ông nói: "kinh nghiệm cho ta cảm
thụ được tính sinh động và đa dạng của các sự vật, song chỉ cho ta hiểu biết sự vật
đơn lẻ. Xpinôza đánh giá cao vai trò trực giác linh tính, trực giác lý tính giúp ta
hiểu đợc bản chất đích thực của thực thể. Trực giác là khả năng khám phá chân lý
và là tiêu chuẩn của nhận thức. Xpinôza cho rằng, quá trình nhận thức giúp con
người khám phá và tuân theo các quy luật của tự nhiên và con người nhờ đó có tự
do.
2. Đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
ở Pháp thế kỷ XVII - XVIII
Ở Pháp, sự phát triển công nghiệp, khoa học, kỹ thuật cũng như cuộc cách
mạng tư sản diễn ra chậm hơn so với nước Anh. Đầu thế kỷ XVIII, quan hệ sản
xuất phong kiến vẫn thống trị giai cấp tư sản tuy đã có thế lực, nhưng chư trở thành
giai cấp thống trị về chính trị.
Bên cạnh những điểm hạn chế, tư tưởng"tôi tư duy vì thế tôi tồn tại" của
Đềcáctơ có những giá trị tích cực. Nó chống lại mọi tư tưởng giáo điều, mọi giáo lý
của nhà thờ hồi đó; đề cao vai trò trí tuệ con người, coi trọng tư duy lý luận, cổ vũ
các khoa học.
Theo Đêcáctơ, nhiệm vụ của siêu hình học, xét về phương diện bản thể luận là
xây dựng bức tranh khái quát về Thượng đế, giới tự nhiên và chính bản thân con
người. Xét về phương diện nhận thức luận phải xây dựng những nguyên lý cơ bản,
các quy tắc cho nhận thức của con người.
Theo Đềcáctơ, có hai loại sự vật được sinh ra từ hai thực thể khác nhau: thực
thể tinh thần: gồm các ý niệm, tư tưởng, các ý thức cá nhân của con người; thực thể
vật chất: gồm các sự vật, hiện tượng có không gian, thời gian. Con người là một sự
vật đặc biệt được tạo ra từ hai thực thể vật chất (cơ thể), ý thức (linh hồn). Cả thực
thể vật chất và thực thể tinh thần đều do thực thể thứ ba là Thượng đế sinh ra.
20
Đềcáctơ xây dựng một hệ thống phương pháp luận mới làm nền tảng cho sự
phát triển của các khoa học. Ông đề cao vai trò của lý tính, đòi hỏi con người phải đi
xa hơn nhận thức cảm tính, hướng tới hoàn thiện khả năng trí tuệ của con người.
Nhìn chung phương pháp luận của Đềcáctơ mặc dù còn nhiều hạn chế,
song ông đã nhận rõ những hạn chế của phương pháp kinh viện truyền thống.
Phương pháp luận của ông ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển khoa học
lúc bấy giờ.
Đềcáctơ tìm cách chứng minh mọi hành tinh đều được cấu tạo từ các dạng vật
chất. Ông chịu ảnh hưởng của các quan niệm cơ học và máy móc về thế giới. Ông
hiểu "vận động theo nghĩa là sự di chuyển vị trí của sự vật, sự vận động của thế
giới chỉ là vận động cơ học". Đềcáctơ không thấy mối quan hệ giữa vận động và
đứng im, không thấy vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất. Ông thừa nhận:
"cái hích đầu tiên" của Thượng đế là nguyên nhân của vận động. Ông thừa nhận
tính vô cùng, vô tận của thế giới và là tác giả của thuyết "gió xoáy", thuyết đầu tiên
biện chứng khi khẳng định tính vô cùng tận của sự phát triển của tự nhiên, mặc
dù ông hiểu nhận thức của mỗi cá nhân là hữu hạn.
Về quan điểm chính trị xã hội: Là nhà triết học duy vật và vô thần triệt để nhất
của triết học Khai Sáng Pháp thế kỷ XVIII, Điđờrô phủ nhận sự tồn tại của thượng
đế, coi thượng đế chẳng qua chỉ là sự thần thánh hoá của điều kiện đúng hiện thực
của con người. Không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng
tạo ra tôn giáo, Điđờrô phê phán tôn giáo mạnh mẽ vì nó phản ánh xuyên tạc thế
giới, làm cho con người mềm yếu, ảo tưởng, làm hư hỏng con người. Để sống tốt
hơn con người phải xây dựng cuộc sống hiện thực, phải đấu tranh xoá bỏ quan hệ
phong kiến, không nên tin tưởng mù quáng vào tôn giáo. Tuy nhiên, do điều kiện
lịch sử , Điđờrô chưa nhìn thấy cơ sở kinh tế-xã hội của sự tồn tại tôn giáo. Cho
nên, để xoá bỏ tôn giáo, theo ông, chỉ cần mở rộng giáo dục, khai thông trí tuệ, đem
lại sự hiểu biết cho con người. Tóm lại, khi quan niệm về giới tự nhiên, Điđờrô là
nhà duy vật, có nhiều quan điểm rất gàn với những quan điểm của chủ nghĩa duy
vật hiện đại, trong quan niệm về xã hội ông lại là nhà duy tâm.
22