TÀI LIỆU THAM KHẢO MỘT số TIỀM ẩn NGUY cơ CHIẾN TRANH THẾ GIỚI mới và đặc điểm các cuộc chiến tranh trong tương lai - Pdf 38

MỘT SỐ TIỀM ẨN NGUY CƠ CHIẾN TRANH THẾ GIỚI MỚI VÀ
ĐẶC ĐIỂM CÁC CUỘC CHIẾN TRANH TƯƠNG LAI
I. NGUY CƠ CHIẾN TRANH THẾ GIỚI MỚI
1. Cuộc thăm dò dư luận đáng lưu ý
Những cuộc đánh bom liều chết vừa qua diễn ra ở nước Anh, Ai Cập, Pakixtan, Tây
Ban Nha cùng với việc quan chức quân sự cấp cao Trung Quốc Thiếu tướng Zhu
Chenghu đưa ra tuyên bố gây chấn động dư luận: “Nếu Mỹ tiến công lãnh thổ Trung
Quốc và nếu Mỹ đưa quân đổ bộ lên lãnh thổ Trung Quốc, thì tôi cho rằng Trung Quốc sẽ
sẵn sàng giáng trả bằng vũ khí hạt nhân”. Đã làm cho dân chúng Mỹ và một số nước
hoang mang, nên họ tin rằng tình trạng này rất có thể dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ ba.
Kết quả thăm dò dư luận mới đây do hãng tin Mỹ AP và hãng Kyodo của Nhật Bản cùng phối
hợp tổ chức cho thấy có tới 60% số dân Mỹ tin rằng trong thời gian họ còn sống thì khả năng nổ ra
Chiến tranh thế giới thứ ba vẫn còn tồn tại, trong khi đó chỉ có 30% số người Nhật Bản tin vào khả
năng này.
Một số người Mỹ cho rằng thời gian qua Mỹ đã phát động Chiến tranh Ápganixtan, Cô xô
vô, Chiến tranh Irắc và hiện nay tiến hành cuộc chiến chống khủng bố trên toàn thế giới, thực chất
là một cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba. Một số người khác cho rằng họ chưa biết được khi nào
Chiến tranh thế giới thứ ba xảy ra, nhưng tình trạng loài người tàn sát lẫn nhau dẫn đến kết cục như
là một cuộc chiến tranh thế giới mới. Bởi mọi người cho rằng chưa có gì đảm bảo làm họ tin
trong bất kỳ tình huống khủng hoảng nào. Các nước có vũ khí hạt nhân sẽ thực hiện cam kết
“không sử dụng trước vũ khí hạt nhân”. Vì vậy, việc sử dụng vũ khí hạt nhân tiến công và trả
đũa đối phương và không thể tránh khỏi. Một điều làm nhân loại lo ngại hơn nữa là các tổ chức
khủng bố và những người có tư tưởng “bảo thủ, cứng rắn” nắm chính quyền hiện nay ở một số
nước rất có thể sử dụng vũ khí hạt nhân tiến công liều chết đối với các nước phương Tây có sức
mạnh hơn họ, như vậy cũng là dấu hiệu của Chiến tranh thế giới thứ ba.
2. Tiến công khủng hoảng mang màu sắc của Chiến tranh thế giới thứ ba
Những cuộc chiến tranh truyền thống trước đây là sự đối đầu trực diện trên mặt trận
giữa hai địch thủ với nhau. Hai bên sử dụng vũ khí và phương tiện tiên tiến nhất của mình
để giành thắng lợi, nhưng cuộc tiến công khủng bố ngày 11/9/2001 ở Mỹ đã làm thay đổi
quan niệm chiến tranh. Từ Tây bán cầu sang Đông bán cầu, từ Á sang Âu, từ Âu sang


người lính thánh chiến Hồi giáo không cần tới những thứ vũ khí hiện đại như vậy, nhưng vẫn
đủ sức đạt tới mục tiêu của mình không kém gì các nước phương Tây.


Cuộc chiến tranh truyền thống phải dựa vào mạng lưới tình báo dày đặc và đồ sộ
để thu thập thông tin của đối phương: Nhưng giờ đây, cho dù có mạng lưới tình báo dày
đặc với những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất cũng khó xác định nổi cuộc tiến công
khủng bố sẽ diễn ra vào thời điểm nào và tại thời điểm nào? Kẻ tiến công là ai, hiện nay ở
đâu? Những phương tiện tình báo và các nhà tình báo dày dạn kinh nghiệm cũng khó có thể
trả lời những câu hỏi này.
3. Quan niệm giá trị truyền thống bị thách thức
Quan niệm giá trị của phương Tây bị thách thức.
Thời gian qua, những cuộc tiến công khủng bố dường như nằm ngoài lý luận của
học thuyết quân sự hiện đại mà các nước phương Tây dày công nghiên cứu, nhưng lại
mang ý nghĩa quân sự mạnh mẽ. Trong cuộc đối đầu với những phần tử khủng bố, quan
niệm giá trị của nền văn minh phương Tây và tư duy được họ tôn sùng cao là “lý trí” giờ
đây đang bị thách thức. Học giả người Palextin Edward W.Said trong luận văn mang tựa
đề “Chủ nghĩa phương Đông” đã phân tích một cách hoàn toàn mới mẻ về tâm lý của
người phương Tây đối với nền văn minh Hồi giáo. Ông cho rằng kể từ sau công cuộc hiện
đại hoá tới nay, người châu Âu và phương Tây đã liệt những điều mà họ chưa hiểu biết
vào cái gọi là “phi lý tính”, tai hại hơn là họ quy những điều này vào một “xã hội man rợ,
lạc hậu”. Thời gian qua, Tổng thống Bush cũng đã tự ý đề ra cái gọi là “trục ma quỷ”, và
khái niệm “thiện-ác” theo kiểu riêng của Mỹ làm cơ sở cho việc định ra chính sách đối xử
khác nhau. Lý luận và khái niệm này của các nước phương Tây đã gây phản cảm và sự
căm thù đối với các nước có tôn giáo khác, nhất là thế giới đạo Hồi.
Cuộc chiến tranh không dự kiến được hồi kết
Sau cuộc tiến công khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ, Bin Laden đã từng phát biểu trên
truyền hình rằng “Chỉ khi nào người Ixraen cuối cùng rời khỏi mảnh đất Palextin thì hoạt
động tiến công khủng bố mới chấm dứt. Ngày nào vấn đề Palextin chưa được giải quyết thì
ngày đó Mỹ và Ixraen sẽ không được yên thân. Mạng tin của Tổ chức thánh chiến Hồi giáo

Ixraen, nên đã trả đũa bằng cách đưa quân khủng bố lẻn vào Làng Thế vận hội ám sát, giết hại
các vận động viên Palextin. Dư luận khi đó coi hành động này là vụ khủng bố tồi tệ của Ixraen.
Các nước phương Tây giờ đây coi những hành động trả đũa của người Palextin và
những người Hồi giáo là “hành động khủng bố”, nhưng bản thân họ đã tiến hành nhiều
cuộc tàn sát mang tính khủng bố. Nếu xem xét từ hai gốc độ thì thấy rằng không chỉ
những người Palextin và những người thánh chiến Hồi giáo, mà bản thân các nước
phương Tây cũng là những phần tử khủng bố, nhưng giờ đây cộng đồng quốc tế chỉ lấy tiêu


chí phương Tây để định nghĩa “chủ nghĩa khủng bố” là điều không công bằng đối với người
Palextin và người Hồi giáo.
Nếu nhìn từ gốc độ khác cho thấy, các cuộc Chiến tranh vùng Vịnh, Trung Đông và
Irắc thời gian qua còn xuất phát từ mục tiêu kinh tế là Mỹ và phương Tây muốn kiểm soát
nguồn dầu lửa phong phú ở khu vực này. Nhưng họ nấp dưới chiêu bài “chống khủng bố”
cho tất cả những hành động nào chống lại ý đồ của Mỹ và phương Tây ở khu vực này để
tiến hành đàn áp, tiêu diệt.
Nhìn nhận từ hai gốc độ khác nhau cho thấy cuộc chiến chống khủng bố không chỉ
dành cho Mỹ và phương Tây, mà trên ý nghĩa nhất định cũng đúng với những hành động
trả thù của những nước yếu thế về kinh tế và quân sự. Chính vì vậy mà cuộc chiến này sẽ
kéo dài dai dẳng và không có hồi kết, bởi “khủng bố” và “chống khủng bố” được hiểu
theo hai góc độ khác nhau.
Dư luận cộng đồng thế giới cho rằng đã tới lúc Mỹ và phương Tây phải xem xét lại
chính sách của mình để có sự điều chỉnh căn bản. Từ đó mới hạn chế và loại trừ được tận
gốc hành động khủng bố và kết thúc Chiến tranh chống khủng bố. Từ đó cuộc Chiến tranh
thế giới mới mà mọi người cho rằng đó là Cuộc chiến tranh thế giới thứ ba sẽ có hồi kết.

II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ TƯ
Có thể gọi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc cách đây chưa lâu là chiến tranh thế giới
thứ ba. Còn cuộc chiến thứ tư là đang manh nha và nó đúng là một cuộc thế chiến xét về
quy mô và mức độ khốc liệt. Vì cuộc chiến tranh này mà cả loài người có thể bị tiêu diệt.

năm 1872 đã mời luật gia người Pháp Bosker để giúp ông ta biên soạn một bộ luật mới
của Nhật Bản. Cũng chỉ cần nói rằng những cách diễn đạt thông thường như “cách tiếp
cận hiện nay” hay “hiện đại hoá“ thường hàm nghĩa một sự đối sánh với các giá trị và
thành tựu của châu Âu ngày nay đúng là người ta hay lấy Hoa Kỳ làm mẫu để bắt chước.
Nếu trước đây các nền văn minh thành công khởi đầu các cuộc hành quân chinh phạt
bằng vũ khí và chỉ sau đó mới đưa luật pháp, nhà thờ, giáo dục, y tế của mình vào thì nay
các nước láng giềng kém thành công hơn trên hành tinh đã chủ động “ngốn” một cách
say sưa và rộng rãi những sản phẩm cả giá trị lẫn có hại của nước bá chủ thế giới. Hơn thế
nữa “đặc chất phuơng Đông” như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc đã khá thành công
trong phát triển kinh tế của mình tỷ lệ với mức độ tiếp thu những thành tựu của châu Âu
trong các lĩnh vực chế độ nhà nước, quản lý, kỹ thuật. Thực tế, thậm chí cả những nước thù
ghét Mỹ cũng đang sử dụng đồng tiền của nó, mạng Internet do nó đẻ ra, đó là chưa nói đến
các loại “stinger” (rượu pha kiểu Mỹ-ND), thẻ ngân hàng,v.v...


Vậy cái gì đang đi ngược lại làn sóng đó? Ngược chiều với nó là làn sóng của các
giá trị đối lập. Trước hết là các giá trị. Nền văn minh châu Âu đo đếm những thành tựu
phát triển của mình bằng sự phát triển cá nhân con người và cố gắng đặt các bản chất trên
cá nhân như gia đình, cộng đồng, dân tộc, quốc gia phụ thuộc vào các thành tựu cá nhân.
Mặt đối lập với nền văn minh châu Âu buộc đời sống trần tục của cá nhân phải tuân thủ
theo các cộng đồng, các quy tắc cổ xưa, những cám dỗ ma quỷ dưới địa ngục. Điều quan
trọng muốn nói ở đây là cơ sở quần chúng của các giá trị đó tập trung vào chính những nơi có
trình độ học vấn, tuổi thọ và chất lượng đời sống trần tục thấp nhất, nhưng mức độ xung đột
trong nội bộ xã hội lại cao nhất, nhanh chóng biến thành những cuộc chiến tranh cục bộ giữa các
cộng đồng láng giềng làm tiêu hao sức lực của họ. Tâm lý hiếu chiến lợi dụng mọi điểm khác
biệt ở đó để thể hiện. Ẩn sâu trong lòng thế giới Hồi giáo đang hình thành một sức mạnh vật chất
và tinh thần đi theo hướng đối
đầu với thế giới châu Âu.
Sự phát triển mang tính chất không đồng bộ của loài người biểu hiện không chỉ ở sự
tương phản về mức sống và chất lượng sống. Ở đây cũng thể hiện rõ tính chất bất đối

Chính là phải nhìn từ khía cạnh hành chính, chính trị mới thấy được sự khác nhau
căn bản giữa dân tỵ nạn Hồi giáo với dân Trung Quốc hay Nhật Bản. Dân tỵ nạn Trung
Quốc và Nhật Bản không thể sánh được với dân Hồi giáo về số lượng và nhịp độ gia tăng
dân số và không bao giờ có tham vọng về chính quyền tộc người, ngay cả trong các khu
phố mình cư trú. Một thực tế quan trọng không kém là người dân châu Âu không thể đi qua
những khu sinh hoạt đông nghẹt người không phải là công dân nước mình, nhưng gốc Hồi
giáo, là thật sự mạo hiểm đến tính mạng và sức khoẻ. Ngay cả cảnh sát cũng buộc phải đi
thành từng nhóm và trang bị chu đáo. Đặc quyền ngoại giao thực tế của những khu vực
như vậy giống những khu da trắng ở các nước mà các tộc người này đã sinh sống từ một
thế kỷ trước. Lịch sử lặp lại với dấu đảo ngược.
Và còn có một điểm khác biệt nữa của các khu dân cư như vậy: Đó là tầng lớp vô sản
sắc tộc. Mức sống và chất lượng sống tại các vùng lãnh thổ thành thị tương tự tất nhiên là
cao hơn nhiều so với ở quê nhà, nhưng lại thấp hơn nhiều so với mức sống và chất lượng
sống của dân bản địa. Trong dân di cư, số thất nghiệp đông hơn, học vấn và chuyên môn
tay nghề của họ thấp, nên buộc phải làm các công việc không cần tay nghề và tiền công
thấp. Thành thử, các khác biệt giai cấp ở mức độ nào đó đã bắt đầu trùng hợp với các khác
biệt sắc tộc. Điều này khiến cho quan hệ giữa họ với dân bản địa của các nước tiếp nhận
càng trở nên căng thẳng hơn.


Tình trạng căng thẳng đó càng cao hơn nữa do mức sinh cao và tỷ lệ thanh thiếu niên
trong cơ cấu cư dân Hồi giáo lớn hơn nhiều so với con số này trong cơ cấu dân châu Âu.
Lớp trẻ vô công rỗi nghề và đầy mặc cảm trong những điều kiện khách quan và chủ quan
tất trở thành mảnh đất tốt để nảy mầm những tâm lý và tư tưởng cực đoan nhất.
Như chúng ta đã biết, những tư tưởng như vậy được “sản sinh” và được “tôi luyện”
ở ngay trong nền văn minh châu Âu. Tuy nhiên, cùng với sự kết thúc cuộc chiến tranh thế
giới thứ ba (chiến tranh lạnh), các nguồn gốc nói trên đều bắt đầu cạn. Điều đó cũng đã
kích hoạt tư tưởng “sự cáo chung của lịch sử”.
Những đặc điểm và xu thế nói trên đang càng làm cho triển vọng cải biến dân số của
các nước tiếp nhận trở nên hết sức hiện thực. Sau các cải biến dân số có thể giả định tính

chiến đấu: Không có tổn thất nào là không thể chấp nhận. Trong các cuộc chiến tranh ở
châu Âu, những hạn chế về tiêu chí tổn thất không thể chấp nhận bao giờ cũng có ý nghĩa
to lớn. Ngay cả ban lãnh đạo Xô Viết đã được giáo điều hoá đến mức tối đa. Vào những
thời điểm khủng hoảng gay gắt trong quan hệ với phương Tây, với NATO, đó là cuộc
khủng hoảng ở vùng vịnh Caribe. Trong quan niệm, điều đó đã được thừa nhận qua câu
nói của N.S.Khrushchev: “Trong cuộc chiến tranh thế giới mới không thể có người chiến
thắng”.
Hệ tư tưởng chiến tranh của các tín đồ Hồi giáo lần đầu tiên trong chiến lược các
cuộc chiến tranh thế giới đã bác bỏ hạn chế này. Và đó cũng là một bằng chứng nữa cho
thấy sự phi đối xứng của các bên vì nền văn minh châu Âu không đủ khả năng tránh được
tối đa mức tổn thất không thể chấp nhận. Điều đó có nghĩa gì? Có thể, đứng trước nguy
cơ có những tổn thất không thể chấp nhận, một bên sẽ buộc phải nhượng bộ hoặc thậm
chí đầu hàng. Chúng ta hãy nhớ lại những khẩu hiệu thời chiến tranh thế giới thứ ba
(chiến tranh lạnh). Đôi khi cũng xuất hiện tâm lý lo sợ rằng nó sẽ chuyển sang giai đoạn
“nóng”. Những mối lo ngại đó sẽ trở nên đặc biệt thực tế khi ở Liên Xô, chiếm ưu thế là
công thức sau đây: “Trong cuộc chiến tranh mới, chiến thắng sẽ thuộc về người đánh
đòn hủy diệt trước”. Lúc đó, trong xã hội phương Tây cũng xuất hiện những khẩu hiệu
tương tự: “Thà đỏ còn hơn chết”. Tâm lý đó đã khiến nước Pháp đầu hàng quân Đức,
các nước cận Baltik đầu hàng Liên Xô.
Tuy nhiên, các lãnh tụ Hồi giáo kiểu Khomeini, Bin Laden không đủ khả năng để
thực hiện sự đe doạ của mình bằng vũ khí truyền thống. Về vũ khí có thể là họ có, nhưng
không đủ để giành chiến thắng. Rõ ràng là họ đang khao khát có được vũ khí hạt nhân.
Không thể loại trừ khả năng là họ đã có trong tay loại vũ khí này ở dạng thô sơ, vũ khí
“bẩn”. Kinh nghiệm của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã chỉ ra rằng, một bên xung


đột tuyên truyền nguyên tắc có những tổn thất không thể chấp nhận, mà trong trường hợp
này là Nhật Bản, đã đầu hàng sau khi chứng kiến sự trình diễn sức mạnh thực tế của vũ
khí hạt nhân, khi ngoài tất cả những cái khác, còn tồn tại cả nguy cơ sẽ sử dụng nó nhiều
lần nữa.

loại vũ khí này không đòi hỏi có các nhà máy, khu mỏ, kho tàng to lớn. Những sự kiện
thời gian gần đây đã cho thấy rằng tài nguyên để sản xuất ra những trái bom- người là vô
hạn và dễ dàng đổi mới.
Đối với những kẻ đánh bom liều chết (Shakhit), điều có ý nghĩa quan trọng không
chỉ là các chương trong Kinh Koran đã được nhắc tới ở phần trên. Những bức thư của các
phần tử liều chết đã được công bố nhiều lần cho ta thấy không chỉ tâm lý, mà chính là
hình ảnh về vai trò của mình và một cách tính toán độc đáo. Phần lớn các Shakhit cho
rằng chết là để đánh đổi sự tồn tại buồn thảm đáng thương của mình lấy: Một là, cuộc
sống thiên đường sau khi chết (đầy những dấu hiệu lạc thú không có nơi trần thế); Hai là,
một khoản tiền đền bù lớn (dành cho những gia đình còn sống để cuộc sống của những
người ruột thịt khá lên). Cuối cùng làm như thế là để đổi lấy tiếng thơm, sự kính trọng của
bạn bè láng giềng sau khi mình lìa bỏ cõi đời v.v...cũng không thể không có các phương
tiện kích mê được dùng để vượt qua bản năng tự vệ bởi đôi khi thường là vào thời điểm
quyết định nhất thì bản năng đó lại trỗi dậy.
Tổng hoà của các nhân tố đó kết hợp với một sự lãnh đạo siêu việt của các lãnh tụ
thần bí sinh ra tâm lý cuồng tử của đám quần chúng gồm những kẻ không thành đạt, dễ
bị kích động và vô học.
Kẻ tiến công còn có một nhiệm vụ nữa - chọn các trung tâm để tập kích. Không phải
ngẫu nhiên mà các đội quân của đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã huỷ diệt
một nửa thành phố Dresden - một trong những thủ đô văn hoá của nước Đức, vì đánh
trúng vào thời điểm này có thể làm chấn động tới ý thức dân tộc, cái rất nhạy cảm trước
những tổn thất về các giá trị văn hoá của mình. Nguyên tắc mức tổn thất không thể chấp
nhận đã cho thấy hiệu lực của nó ngay cả trong trường hợp xảy ra với những nước đứng
ngoài thế giới châu Âu như Serbia: Thậm chí cả các cuộc đánh bom hạn chế cũng đã có
tác dụng buộc Miloshevich thay đổi ngay chính sách của mình. Cần so sánh lập trường
của Dudaev chẳng hạn: “Chiến đấu đến người Chesnia cuối cùng!”, hay với thái độ của
Saddam sẵn sàng hy sinh gần như toàn thể nhân dân Iraq. Các tín đồ đạo Hồi đã chọn đối
tượng đánh bom là các trung tâm, mà nếu phá được, đòn đánh đó có thể gây rối loạn, gây tâm
lý rất tiêu cực (sợ hãi, thờ ơ v.v...). Không còn nghi ngờ gì nữa, các tín đồ Hồi giáo đang chuẩn


Mặc dù phương án phát triển của các sự kiện có vẽ huyễn tưởng, nhưng không thể
loại bỏ nó, vì khi xuất phát từ điểm cực đoan đó có thể hình dung được các phương án


thực dụng hơn và không phải là quá dị thường khác. Ta cứ giả định rằng có thể từ chối
việc ủng hộ Israel, từ chối hạn chế sự bành trướng của hồi Giáo cực đoan sang các nước
châu Âu.
Về mặt kỷ thuật, việc tạo ra tình huống tổn thất không thể chấp nhận là khó,
nhưng có thể thực hiện được. Trước hết là bằng bom nguyên tử “bẩn”, vũ khí vi
trùng hoặc khí gas. Rõ ràng là họ đang tiến hành chuẩn bị sử dụng các loại vũ khí
này.
Trong tiếng Anh, khái niệm “an ninh” được định nghĩa bằng hai từ có nghĩa khác
nhau. Một trong số đó là safety, có nghĩa là an toàn, được bảo vệ. Từ thứ hai, security, có
nghĩa chủ yếu là phòng vệ tích cực, đề phòng nguy cơ xâm nhập, chống lại các mối đe
doạ. Trong trường hợp nói về các cuộc chiến tranh xâm nhập, safety cũng có nghĩa nhưng
vai trò đặc biệt lại thuộc về security. Khâu bảo vệ có thể bị “chọc thủng”, bị vượt qua, bị
đánh lừa. Không thể chiến thắng nếu không trấn áp, đè bẹp các nguồn gốc xâm lược, không
kết hợp các hoạt động quân sự phản ứng và tiến công.
Cái gì được coi là nguồn gốc những mối đe doạ đối với an ninh? Đó là các căn cứ,
trại huấn luyện, địa điểm bí mật và các băng nhóm bí mật. Đó là những nguồn gốc vật thể
hoá và cụ thể nhất. Nhưng còn có một kiểu nguồn gốc gây hấn khác của các tín đồ Hồi
giáo. Đó là các ban tham mưu, các trường phái hệ tư tưởng, các ấn phẩm văn học và
v.v...Ngoài ra, có một kiểu thứ ba nữa. Đó là điểm chung cao nhất, tức là trạng thái hiện
nay của ý thức quần chúng trong khu vực Hồi giáo. Thế giới Hồi giáo từng có một lịch sử
vĩ đại, trong những thời kỳ nhất định, nó đã vượt cả châu Âu nhờ các thành tựu của mình
trong khoa học, nghệ thuật, quân sự, chế độ nhà nước, triết học. Các giáo chủ Arap và các
quốc vương Thổ, thậm chí đã có thời kỳ bắt phần lớn châu Âu phải quy phục. Song đến
thời Cận đại, tiềm năng trí tuệ và tinh thần đó của thế giới Arap đã cạn kiệt và nó bắt đầu
tụt hậu trong phát triển. Có rất ít người Hồi giáo may mắn phất lên nhờ dầu lửa do người
Âu phát hiện ra. Việc tổ chức sản xuất dựa trên cơ sở khai thác và chế biến dầu cũng là do

1. Khởi động cuộc chiến tranh mới giữa các vì sao
Khung hình cơ bản về chính sách vũ trụ của Mỹ được ban hành từ thập kỷ 50 của thế
kỷ 20 do Tổng thống Mỹ Eisenhow phê chuẩn. Khi đó Liên Xô phóng vệ tinh và chiếm
ưu thế trên không gian vũ trụ so với Mỹ. Để đảm bảo lợi ích của mình, Tổng thống Mỹ
Eisenhow khi đó đưa ra “Nguyên tắc tự do khoảng không vũ trụ” mà tất cả các quốc gia
trên thế giới đều có quyền lợi dụng như thăm dò, sử dụng vì mục đích hoà bình.


Các đời Tổng thống Mỹ sau đó cho tới Tổng thống Bush hiện nay đều dựa trên cơ sở
nguyên tắc cơ bản này để định ra các chiến lược vũ trụ, trong đó có lợi dụng về mặt quân sự,
như đưa các vệ tinh trinh sát, định vị, dự báo, khí tượng, thông tin lên vũ trụ để phục vụ cho các
hoạt động dưới mặt đất và tăng khả năng “tiêu diệt mềm” đối với đối phương, như gây nhiễu
thông tin, vô hiệu hoá khả năng trinh sát của đối phương...
Có thể nói rằng chính sách vũ trụ của Mỹ nhằm mục đích chủ yếu là bảo vệ ưu thế
của Mỹ trên khoảng không vũ trụ, như kiến nghị vào tháng 1/2001 của Bộ trưởng Quốc
phòng Mỹ Rumsfeld cho rằng chính sách vũ trụ cần phải đảm bảo cho Tổng thống Mỹ có
quyền lựa chọn bố trí các vũ khí và phương tiện tiến công, phòng ngự trên không.
Tiếp đó, đến tháng 6/2002 Tổng thống Bush đưa ra sự đánh giá mới về chính sách
vũ trụ nhằm làm cho Mỹ có khả năng đối phó với những thách thức và mối đe dọa mới từ
trên không. Tháng 4/2005, Mỹ đã phóng một vệ tinh quân sự cỡ nhỏ nhằm gây nhiễu đối
với những vệ tinh trinh sát quân sự và vệ tinh thông tin của các nước khác. Cũng trong
tháng 7, Tư lệnh không quân Mỹ Rans Lord đã đệ trình Quốc hội Mỹ kế hoạch bố trí vũ
khí “quả đấm thép” để tranh giành quyền bá chủ trên vũ trụ, như có thể lắp đặt đầu đạn có
khối thuốc nổ 500 kilôgam vào những vệ tinh bay trên những khoảng không vũ trụ để
thực hiện đòn tiến công chính xác và có thể tiến công tới bất kỳ địa điểm nào trên thế giới
trong vòng 45 phút. Ngoài ra, lực lượng không quân Mỹ còn đưa ra kế hoạch mang tên
“Chiếc gậy Thượng đế” tiến công với tốc độ 11.587 Km/giờ đối với bất kỳ mục tiêu nào
của đối phương trên trái đất hoặc khoảng không vũ trụ.
Cho dù người phát ngôn Nhà Trắng McClellan có thanh minh rằng chính sách vũ trụ
mới của Mỹ không bố trí vũ khí trên vũ trụ để tránh tình trạng chạy đua vũ trang và quân

“Kế hoạch kiểm soát vũ trụ”, bao gồm hai nội dung:
Sử dụng hệ thống phản thông tin để phá hoại vệ tinh của các nước trong vũ trụ.
Sử dụng hệ thống giám trinh sát đối
kháng để ngăn chặn việc các nước khác sử dụng, kỷ thuật thu thập tình báo trong vũ trụ
hoặc trong không trung. Kế hoạch này buộc các vệ tinh bay trong quỹ đạo gần trái đất của
các nước phải bay theo quỹ đạo chỉ định của Mỹ để quản lý. Điều này cũng có nghĩa là nếu
không được Mỹ cho phép thì bất kỳ nước nào có vệ tinh bay trong quỹ đạo gần trái đất đều
không được tiến hành thu thập thông tin tình báo.
Hai là, phá bỏ hạn chế mang tính phòng ngự của vũ khí trong không gian. So với kế
hoạch “Chiến tranh giữa các vì sao” do Reagan đưa ra, thì Chính phủ Bush chẳng những


tích cực đẩy mạnh xây dựng hệ thống phòng ngự tên lửa chiến trường (TMD), mà còn
dựa vào hệ thống vũ khí bố trí trong không gian để có khả năng tiến công chính xác từ xa.
Chính sách vũ trụ mà Bush đưa ra là chính sách mang tính tiến công trong vũ trụ, đồng
thời cũng có thể phá huỷ vệ tinh của các nước bay trong vũ trụ.
Ba là, phá bỏ hạn chế chỉ phòng ngự bên trong lãnh thổ Mỹ. Kế hoạch “Chiến tranh
giữa các vì sao” do Reagan đưa ra trước đây chủ yếu phòng ngự và bảo vệ an ninh trong lãnh
thổ nước Mỹ, còn chính sách vũ trụ mới của Bush là giành giật khoảng không vũ trụ với các
nước khác, đồng thời lấy việc bảo vệ an toàn cho những nguồn tài nguyên của Mỹ trong
khoảng không vũ trụ làm mục tiêu quan trọng.
3. Những lợi ích của Mỹ
Mặc dù kế hoạch này của Mỹ sẽ phải tiêu tốn nhiều tiền, nhưng sau khi hoàn thành sẽ đưa
lại cho Mỹ ba lợi ích lớn như sau:
Tăng thêm rất lớn tính cơ động của Mỹ và cũng đáp ứng được yêu cầu của cuộc
chiến chống khủng bố, giảm thiểu được rất nhiều tình trạng phụ thuộc của Mỹ vào căn cứ
nước ngoài, như vậy cũng tức là giảm bớt được rất lớn các nhân tố không xác định cho
những hành động của Mỹ khi phải dựa vào các căn cứ ở nước ngoài, từ đó làm cho Mỹ có thể
chủ động hơn khi xử lý các tình huống xảy ra.
Vũ khí bố trí ở trên không có thể trở thành một biện pháp răn đe chiến lược có hiệu

TRONG CHIẾN TRANH TƯƠNG LAI
Nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, cũng giống như nghệ thuật quân sự nói
chung, hiện đang trong giai đoạn phát triển nhanh chóng. Điều đó là do nhiều yếu tố
và trước hết là do sự đổi mới mạnh mẽ các phương tiện đấu tranh vũ trang. Quân đội
của các quốc gia phát triển về mặt công nghệ đang được trang bị với số lượng hàng
loạt các loại vũ khí và kỹ thuật quân sự hiện đại nhất (như các phương tiện trinh sát và
dẫn đường vũ trụ), các loại vũ khí tiến công vũ trụ, vũ khí dựa trên các nguyên tắc vật
lý mới, các loại bom đạn hạt nhân tác động có định hướng, các hệ thống liên kết trinh
sát, tiến công hiện đại hơn, các máy bay lên thẳng đa chức năng thế hệ thứ tư, "Máy
bay muỗi", kỹ thuật tác chiến rôbốt, vũ khí tác động không bay, các loại kỹ thuật thiết
giáp và pháo binh được bảo vệ và cơ động tốt hơn đang được nghiên cứu chế tạo, các
phương tiện bảo đảm công trình, kỹ thuật và hậu cần được hiện đại hóa, việc ứng dụng
các phương tiện máy tính điện tử thế hệ thứ sáu cho hệ thống chỉ huy bộ đội và vũ khí
đang diễn ra mạnh mẽ.
Một đặc điểm đặc trưng là việc đổi mới cơ sở vật chất của quân đội hiện nay
không diễn ra tuần tự và từ từ như trước đây, mà diễn ra đồng thời và ồ ạt trong tất cả
các cấp quân đội. Đồng thời các phương tiện tiến công ngày càng chiếm ưu thế và
khoảng cách của chúng với phương tiện bảo vệ ngày càng tăng lên. Như vậy, trong
tương lai sự "cân bằng" truyền thống giữa vũ khí tiến công và vũ khí phòng thủ có thể
sẽ bị phá vỡ.
Kết quả của việc ứng dụng hàng loại trong quân đội những loại kỹ thuật quân sự
mới sẽ làm tăng khoảng từ 2-3 lần khả năng chiến đấu, khả năng hỏa lực và khả năng
cơ động của các đơn vị bộ đội hợp thành. Dựa trên sự phân tích thay đổi cơ cấu vật
chất trong quân đội có thể dự báo rằng, trong tương lai gần (10-15 năm) các hình thức
và phương pháp hoạt động chiến dịch-chiến thuật có thể sẽ được hoàn thiện. Khi dự
báo, điều quan trọng phải tính đến sự khác biệt của giai đoạn phát triển hiện nay của
nghệ thuật quân sự so với trước đây ở chỗ nội dung và đặc điểm của các chiến dịch hiện
đại được hình thành dưới ảnh hưởng tổng hợp của nhiều yếu tố mới, trong đó các yếu tố
thông tin, hỏa lực điện tử và vũ trụ có một vị trí đặc biệt. Tất cả điều đó làm xuất hiện các
loại hình tác chiến phi truyền thống như: Tác chiến thông tin-tâm lý, tác chiến điện tử-hỏa

"Cỗ máy phát điện" mọi sự mới mẻ trong nghệ thuật quân sự. Trong các cuộc chiến
tranh cục bộ của thế kỷ 20, vai trò của hỏa lực còn tăng lên do sự hòa hợp về tổ chức
của hỏa lực và tác động vô tuyến điện lên các hệ thống chỉ huy bộ đội và vũ khí của
địch. Kết quả của điều này là sự nảy sinh một hình thức đấu tranh vũ trang mới là tác
chiến điện tử-hỏa lực, chẳng hạn, loại hình tác chiến này là cơ sở của các chiến dịch
"Bão táp sa mạc", "Con sáo sa mạc", "Lực lượng quyết định", "Cú xốc và sự kinh
hoàng". Trong các chiến dịch này người ta thấy một xu hướng rất quan trọng trong
phát triển nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật đặc trưng cho một trình độ cao hơn về


hoàn thiện chiến dịch bộ đội hợp thành. Trong 10-15 năm tới, loại chiến dịch như vậy
sẽ là kiểu chiến dịch chủ đạo trong hệ thống đấu tranh vũ trang. Xu hướng rõ ràng của
việc tăng độ dài giai đoạn điện tử-hỏa lực trong các cuộc chiến tranh cục bộ là cơ sở cho
sự kết luận như vậy. Chẳng hạn, nếu như trong cuộc chiến tranh Arập-Ixraen giai đoạn
này là 90 phút thì trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh Pecxich là 38 ngày đêm.
Nội dung của tác chiến điện tử-hỏa lực là các trận chiến và trận đánh điện tửhỏa lực có hiệp đồng, phối hợp lẫn nhau về mục tiêu, vị trí và thời gian, các cuộc
tập kích hỏa lực và vô tuyến điện theo nhóm và riêng lẻ một cách bí mật và tập
trung, các hoạt động tác chiến có hệ thống của bộ đội phòng không, không quân,
còn trên các hướng ven biển có cả lực lượng hải quân, nhằm giành và duy trì ưu thế
hỏa lực trước kẻ thù, gây tổn thất cho các cụm quân địch, phá tan hệ thống tổ chức
chỉ huy bộ đội và hỏa lực của địch, phá hủy hoạt động của hệ thống chống vô tuyến
điện và phòng không, tiêu diệt những bộ phận quan trong nhất của các tổ hợp trinh
sát tiến công của địch.
Trong một chiến dịch như vậy ở mức độ này hay mức độ khác đều có sự tham gia
của tất cả các binh chủng và lực lượng đặc nhiệm của Lục quân trong phối hợp hoạt động
với không quân và các lực lượng Hải quân trong vai trò chi phối của các phương tiện
chống vô tuyến điện, Không quân, bộ đội tên lửa và pháo binh.
Trước chiến dịch phải chỉ ra những mục tiêu quan trọng nhất phải đạt được:
không chỉ các phương tiện vô tuyến điện riêng lẻ mà cả toàn bộ hệ thống chỉ huy tác
chiến của địch. Những nguyên tắc sau là những nguyên tắc cơ bản trong chuẩn bị và

hình cơ sở công nghệ quân sự, chẳng hạn phụ thuộc vào việc triển khai chương trình
trên qui mô rộng lớn hoàn thiện các phương tiện chống vô tuyến điện. Đồng thời phải
chú ý đến việc chế tạo những phương tiện có hiệu quả như các hệ thống tự động hóa
đồng bộ, bao gồm các phương tiện trinh sát và gây nhiễu vô tuyến điện, các hệ thống
mô phỏng tự thích ứng với những thay đổi các thông số của các phương tiện tác động
của địch.
Không quân phải là phương tiện sát thương hỏa lực chủ yếu trong tác chiến điện
tử-hỏa lực. Nhưng tiềm năng tác chiến hiện có của Không quân Nga chưa đủ để giải
quyết có hiệu quả các nhiệm vụ sát thương hỏa lực cả tầm xa lẫn tầm gần. Khâu yếu
nhất hiện nay là Không quân tập đoàn quân. Khả năng hiện nay của nó chưa đáp ứng
yêu cầu giải quyết các nhiệm vụ trinh sát, hỏa lực, đặc nhiệm, vận tải, đổ bộ và các
nhiệm vụ bảo đảm khác cho các binh đoàn bộ đội hợp thành. Trong tương lai Nga cần
phải tập trung vào việc chế tạo các máy bay lên thẳng đa chức năng mới được trang bị
các phương tiện trinh sát và chỉ thị mục tiêu dùng trong mọi thời tiết, tăng khả năng
trang bị và nâng cao sức sống của chúng. Quân đội Nga cũng rất cần có các phương
tiện bay không người lái hạng nhẹ thực hiện những chức năng khác nhau (trinh sát,
chống vô tuyến điện v.v.) cũng như các máy bay hạng nhẹ có thể thực hiện được nhiều
nhiệm vụ khác nhau, chuyên chở được trên các phương tiện vận tải chuyên dụng và nằm
trong trang bị của các binh đoàn bộ đội hợp thành.


Cùng với việc phát triển trang bị, cần phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức các đơn vị
Không quân tập đoàn quân. Chẳng hạn trong các tập đoàn quân (quân đoàn) cần có
trung đoàn máy bay lên thẳng tiến công độc lập, trung đoàn máy bay lên thẳng đa
chức năng độc lập, trung đoàn độc lập các phương tiện bay có người lái điều khiển từ
xa. Trong biên chế các sư đoàn có các phi đội không quân tương tự, cũng như phi đội
Không quân hỗn hợp độc lập, Theo dự báo, việc thực hiện các đề xuất này sẽ cho
phép nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ tác chiến của không quân lên từ 2,5-3
lần.
Để nâng cao hiệu quả tác chiến điện tử hỏa lực cần phải hoàn thiện hệ thống chỉ

cũng như bằng cách hoàn thiện chất lượng các hệ thống vũ khí tên lửa pháo binh và
đặc biệt là nâng cao tầm bắn của pháo binh.
Việc có pháo binh tầm xa, sự nâng cao khả năng của các hệ thống phản lực phóng
loạt và các tổ hợp tên lửa chiến dịch chiến thuật mới sẽ cho phếp áp dụng rộng rãi sự
sơ động hỏa lực trong bán kính tới 100km, chuyển các nỗ lực hỏa lực sang những
hướng mới mà không phải thay đổi trận địa hỏa lực và tập trung sức mạnh hỏa lực
nhằm tiêu diệt những cụm quân nguy hiếm nhất của địch ở sâu trong hậu cứ. Chất
lượng mới này của pháo binh sẽ tạo tiền đề để thực hiện sát thương hỏa lực địch ở sâu
trong hậu cứ.
Phương hướng chủ yếu phát triển các phương tiện hỏa lực là chế tạo các hệ thống
chính xác cao sử dụng trong các tên lửa, đầu đạn, bom có điều khiển và tự dẫn, cùng các
phương tiện sát thương khác.
Nhiệm vụ sử dụng đầy đủ nhất tiềm năng chiến đấu của bộ đội tên lửa và pháo binh
trong tác chiến điện tử hỏa lực cũng có thể được giải quyết bằng cách hoàn thiện các phương
pháp sử dụng tác chiến của chúng.
Trong số các phương pháp sát thương hỏa lực địch thì những phương pháp sau là
có triển vọng nhất: Phương pháp sát thương khu vực-mục tiêu, phương pháp cấu trúc,
phương pháp hỏa lực chướng ngại vật, phong tỏa hỏa lực, càn quét hỏa lực, thiết lập
hành lang hỏa lực, bao quanh hỏa lực.
Bản chất của phương pháp khu vực-mục tiêu là phân quyền tối đa cho chỉ huy
pháo binh ở cấp chiến thuật, trao quyền rộng rãi và khả năng cho cán bộ chỉ huy bộ đội
hợp thành (từ đại đội trưởng trở lên) trong tổ chức sát thương hỏa lực. Ở đây một
nguyên tắc cơ bản là "phát hiện-tiêu diệt".



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status