TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC.
Phân tích cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
duy tâm trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại.
Bài làm:
Triết học hiểu theo cách khái quát đó là 1 trong những hình thái
ý thức xã hội, hệ thống các quan điểm chung nhất của con người về
thế giới và sự nhận thức thế giới ấy. Nó xuất hiện vào thời kì phát
sinh và phát triển của xã hội chiếm hữu nô lệ thời cổ đại, khoảng từ
thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ thứ VII trước công nguyên với những
thành tựu rực rỡ trong các nền triết học cổ đại ở Trung Quốc, Ấn Độ
và Hy Lạp.
Khi nghiên cứu triết học nói chung và triết học thời kì cổ đại
nói riêng, chúng ta thấy nổi lên vấn đề xuyên suốt chiều dài lịch sử
triết học là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Cuộc đấu tranh
này đồng thời là sự phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội đã
phân chia thành giai cấp đối kháng. Thông thường (trừ một vài
trường hợp ngoại lệ), chủ nghĩa duy vật thể hiện thế giới quan của
những lực lượng tiến bộ trong xã hội, là đại diện cho những tư
tưởng tiên tiến của thời đại). Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm (không
phải bao giờ cũng vậy) là biểu hiện cho thế giới quan của những lực
lượng bảo thủ,phản động trong xã hội, đại diện cho những tư tưởng
trì trệ của từng thời đại.
1
Khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa
tồn tại và tư duy, vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật cho rằng: vật
chất có trước và vật chất quyết định ý thức, ý thức có sau và là sự
phản ánh những mặt, những yếu tố của vật chất đồng thời khẳng
bộ hơn, thường đề xuất những chủ trương dân chủ chống lại chủ nô
quý tộc. Theo đó, cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học duy
vật và duy tâm ở Hy Lạp – La Mã thời kì này thực chất là biểu hiện
của cuộc đấu tranh giữa chủ nô quý tộc và chủ nô dân chủ.
1.2/Hy Lạp có vị trí địa lí nằm ven bờ Địa Trung Hải,rất thuận
lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế cũng như phát triển nông
nghiệp. Đặc biệt, cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp và Ba Tư vào thế kỉ
thứ V trước công nguyên với sự chiến thắng thuộc về Hy Lạp đã mở
ra một thời kì hưng thịnh về kinh tế, chính trị, đồng thời cũng tạo
điều kiện để nền văn hóa Hy Lạp kế thừa được những thành tựu văn
hóa từ phương Đông.
Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của chế độ chiếm hữu nô lệ
Hy Lạp thời kì này đã mở rộng phân công lao động xã hội, tách lao
động trí óc ra khỏi lao động chân tay, tạo điều kiện cho tầng lớp trí
thức chủ nô nghiên cứu triết học, khoa học và sáng tạo văn học,
nghệ thuật.
1.3/Với đặc thù lãnh thổ là một quốc gia bao gồm 300 quốc gia
nhỏ tập hợp thành thành bang Hy Lạp, lịch sử Hy Lạp thời kì này
còn là những cuộc nội chiến liên miên làm cho nền kinh tế suy yếu
3
nặng nề. Điều đó đã khiến cho quốc gia này rơi vào cảnh mất nước
vào thế kỉ thứ IV trước công nguyên khi hoàng đế Macedonia thống
nhất tất cả thành bang dưới quyền lực của mình.Tới cuối thế kỉ thứ
III trước công nguyên, Hy Lạp lại trở thành một bộ phận của La Mã.
Mặc dù, bị xâm chiếm như vậy nhưng nền văn hóa Hy Lạp vẫn
phát triển mạnh mẽ. Những tinh hoa văn hóa Hy Lạp bằng sức sống
của mình đã chinh phục lại những người đi xâm chiếm.Tất cả hoàn
cảnh lịch sử trên đều phản ánh vào trong triết học.
cổ đại có vai trò rất quan trọng đối với lịch sử triết học thế giới. Nó
không đơn thuần chỉ là sự phân biệt giữa hai nền triết học cổ đại ở
phương Đông và phương Tây mà còn là nền tảng cho sự phát triển
của triết học Tây Âu vào 2000 năm sau.
Có thể nói rằng, triết học Hy Lạp cổ đại từ khi mới ra đời đã
xảy ra những cuộc đấu tranh mạnh mẽ giữa hai trường phái triết học
Duy Vật và Duy Tâm. Điển hình cho cuộc đấu tranh đó trong thời kì
này là cuộc đấu tranh giữa đường lối Duy Vật của Đêmôcrit và
đường lối Duy Tâm của Platon.
3.Cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Duy Tâm
biểu hiện qua 2 hệ thống triết học của Đêmôcrit và Platon.
3.1.Cuộc đời và tác phẩm Đêmôcrit (460 – 370 TCN)
Theo lịch sử truyền lại, Đêmôcrit sinh ra ở thành Áp-Đe,1
thành phố thương mại lớn ở vùng Tơ-ra-xơ. Bố ông là 1 thương gia
giàu có, cho phép ông có nhiều điều kiện thuận lợi để đi chu du, học
hỏi ở nhiều nước trên thế giới. Khi cha ông qua đời đã để lại cho 3
em trai của Đêmôcrit phần lớn tài sản, còn ông chỉ lấy 1 phần nhỏ
bằng tiền mặt trong số đó để đi du lịch.
Trong nhiều tài liệu cho thấy, Đêmôcrit đã tới phương Đông.
Trong chuyến hành trình của mình, ông đặt chân đầu tiên tới Ai Cập
để học hình học, tiếp sau đó, ông rời sang Babilon. Cũng có người
cho rằng, ông đã làm quen với phái Loga ở Ấn Độ, và hình như ông
đã đi qua cả Êtiôpia.
5
Đêmôcrit tự hào tuyên bố rằng ông đã đi qua rất nhiều vùng đất
rộng để chiêm ngưỡng,để trải nghiệm và đã nhìn thấy nhiều hơn so
với bất kì ai cùng thời với ông. Ông cũng đã bàn luận với số đông
Platon tên là Périctiana, có họ hàng với Salon, nhà luật học lừng
danh của Hy Lạp. Platon có 1 người chú tên là Critias, là 1 trong 30
nhân vật thuộc Hội Đồng Hoạt Đầu.
Platon tên thật là Aristocles, là người thân hình cao lớn và vạm
vỡ như 1 lực sĩ, nên được mọi người gọi là Platon. Năm 18 tuổi,
Platon học hỏi các triết gia và các nhà ngụy biện. Từ năm 20 tuổi,
Platon theo học Socrates trong 8 năm liền và nhanh chóng trở thành
học trò xuất sắc nhất của Socrates. Sau cái chết của người thầy yêu
quí, Platon 1 phần vì lo lắng cho sự an toàn của mình, 1 phần vì
lòng căm phẫn nên đã cùng với 1 vài môn đệ của Socrates tới ẩn
náu tạm thời tại Megara. Tại nơi đây, Platon theo học Euclid, nhà
toán học danh tiếng.
Năm 396 TCN, Platon trở lại Athens và phục vụ trong hàng ngũ
kị binh tham chiến trong trận Corinth và trận này kết thúc bằng sự
thất bại của xứ Athens trước xứ Spacta. Vì ghê tởm cuộc chiến tranh
vừa qua, Platon đã tìm đường sang Ai Cập. Đầu tiên, ông dừng lại ở
Crete rồi Cyrene. Ở nơi này, ông nghiên cứu toán học với
Theodorus. Đến năm 390, ông mới tới Ai Cập. Tại Heliopolis,
Platon đã học hỏi về thiên văn, tôn giáo, hiến pháp. Nhờ thời gian
sống tại Ai Cập, ông đã quan sát kĩ lưỡng các phong tục và suy
7
tưởng. Sau này, Platon đã bàn luận về điều đó trong các tác phẩm
của ông. Sau khi rời Ai Cập, Platon sang Đại Hy Lạp, tới Tarentrun
và quen với Archytas.
Các cuộc đi xa đã giúp cho Platon nhiều cơ hội làm quen với
một số nhà sáng lập ra vài trường phái học thuật như Pythagoras,
Heraclite, cũng như các nhà triết học Eleatic. Từ những nhận xét về
thực tế và các điều học hỏi từ Socrates, cộng với các sở thích liên
thế giới. Theo đó, ông đã xây dựng được cho mình 1 học thuyết hết
sức duy vật mà người đời sau vẫn gọi là thuyết nguyên tử.
Đêmôcrit cho rằng đối lập với cái tồn tại là cái không tồn tại
hay là cái trống rỗng. Cái trống rỗng là cái không xác định cái vô
hình bất động vô hạn. Nó không ảnh hưởng gì đến vật thể nằm trong
nó, nhờ nó mà các vật thể hoạt động được. Phần vật chất thuộc cái
tồn tại mà không chứa đựng trong nó sự trống rỗng nào cả để có thể
phân chia nhỏ hơn nữa gọi là nguyên tử.
Vì vậy mà nguyên tử không thể phân chia được nữa, hoàn toàn
nhỏ bé mà không thể cảm, không có gì xảy ra nữa. Nguyên tử có vô
vàn hình dạng. Theo quan niệm của Đêmôcrit, các sự vật là do các
nguyên tử liên kết với nhau tạo nên. Tính đa dạng của nó làm nên
tính đa dạng của thế giới các sự vật. Nguyên tử tự thân, không vận
động, nhưng khi kết hợp với nhau thành vật thể và thế giới vận động
không ngừng.
9
Thuyết nguyên tử đã được Lơ-xíp (Leucippe) nêu lên từ trước
nhưng phải tới Đêmôcrit, học thuyết đó mới trở nên chặt chẽ.
Đêmôcrit khẳng định, vũ trụ được cấu thành từ 2 thực thể đầu tiên là
nguyên tử và chân không.
Đêmôrit cho rằng nguyên tử là hạt vật chất cực nhỏ, không thể
nhìn thấy được, không thể phân chia nhỏ hơn nữa. Nguyên tử không
biến đổi, tồn tại vĩnh viễn và vận động không ngừng. Nguyên tử
không khác nhau về chất, chúng có mùi vị, âm thanh, màu sắc.
Nguyên tử chỉ khác nhau về hình thức, kích thước, vị trí và trình tự kết
hợp của chúng. Có những nguyên tử hình cầu, cũng có những nguyên
tử hình tam giác, hình móc câu... .Nhờ đó, chúng mới có thể bám dính
cùng vô tận như nguyên tử. Đó là 1 đóng góp hết sức quan trọng với
sự phát triển của khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy vật. Chính vì
quan niệm duy vật và vô thần ấy, ông đã bị tầng lớp thống trị coi là
phủ nhận thần linh và trục xuất ra khỏi quê hương.
- Ngược lại với Đêmôcrit, Platon - đại diện tiêu biểu của chủ
nghĩa duy tâm thời kì này lại coi "ý niệm mới là tồn tại chân thực và
vĩnh cửu",ý niệm là nguồn gốc sinh ra thế giới, còn vật chất là
không tồn tại. Trong quan hệ với các sự vật cảm tính, "ý niệm" vừa
là nguyên nhân, vừa là hình mẫu, mục đích của các sự vật cảm tính.
Ý niệm tồn tại ngoài con người, ngoài cảm giác của con người. “Ý
niệm tồn tại vĩnh viễn, bất biến, bất động” . Các sự vật cụ thể có thể
11
cảm nhận được bằng cảm giác chỉ là bản sao của các ý niệm, dựa
vào ý niệm hay đúng hơn là thế giới ý niệm.
Platon thừa nhận có 2 thế giới tồn tại : thế giới ý niệm là thế
giới tồn tại vĩnh viễn, bất biến, bất động, tuyệt đối chân thực, cơ sở
tồn tại của thế giới sự vật cảm tính. Còn thế giới sự vật cảm tính là
thế giới tồn tại không chân thực, luôn luôn biến đổi, là cái bóng của
ý niệm, do ý niệm sản sinh ra, phụ thuộc vào ý niệm, loài người
cũng thuộc về thế giới này.
*) Về vũ trụ :
- Đêmôcrit cho rằng vũ trụ là vô tận, vĩnh cửu, có vô số thế
giới phát sinh, phát triển và tiêu diệt
- Ngược lại với quan điểm của Đêmôcrit, Platon cho rằng vũ trụ
này không tồn tại thực mà, tất cả chỉ là sự phức hợp của ý niệm, do
ý niệm quy định, do thượng đế quyết định và không tồn tại.
*) Về vấn đề linh hồn:
*) Về vấn đề nhận thức :
- Đêmôcrit là người có công lao to lớn trong lịch sử triết học về
vấn đề xây dựng lí luận nhận thức, vai trò của cảm giác với tính
cách là điểm khởi đầu của nhận thức và, vai trò của tư duy trong
việc nhận thức thế giới xung quanh”.
Theo Đêmôcrit, sở dĩ con người có những cảm giác khác nhau về
màu sắc, mùi vị, âm thanh nóng lạnh là do những nguyên tử khối hợp
tạo nên chủ thể nhận thức. Điều đó có nghĩa là đối tượng của nhận
13
thức là vật chất, thế giới xung quanh con ngượi và nhờ sự tác động
của đối tượng nhận thức vào con người nên con người mới nhận thức
được. Ông chia ra nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức
chân lí. Nhận thức mờ tối là nhận thức do các giác quan đem lại. Nhận
thức chân lí là nhận thức do sự phân tích sâu sắc sự vật để nắm chắc
bản chất bên trong của nó. Ông quan niệm rằng hai dạng nhận thức đó
có liên quan với nhau chặt chẽ. Trong đó, cảm giác là bước đầu của
nhận thức. Ông xây dựng nên thuyết “hình ảnh” (I-dô-lơ) mộc mạc.
Ông quan niệm bề ngoài của sự vật toát ra những hơi thở tinh tế tạo
thành hình ảnh của chúng. Những hơi thở tinh tế đó tác động vào cơ
quan cảm giác của con người, làm cho mọi người cảm nhận được sự
vật. Song, cảm giác là nhận thức “mờ tối” vì nó chưa làm cho con
người hiểu được bản chất tinh tế nằm sâu trong sự vật. Do đó, con
người phải dựa vào nhận thức sâu sắc hơn.
Qua đây chúng ta có thể thấy theo Đêmôcrit “lý tính phải dựa
vào “những dẫn chứng” do cảm tính đem lại và sau đó cần phải đi
sâu vào phân tích tính chân lý còn đang nằm sâu dưới đáy bể. Điều
này có thể cho thấy rằng, ông không hề phủ nhận khả năng nhận
thức chân lí khách quan của con người. Còn Platon cho rằng chỉ có
- Còn Platon thì lại đề cao vai trò của chế độ quý tộc đứng trên
lập trường cùa phái chủ nô quý tộc chống lại chế độ dân chủ tiến bộ
của xã hội. Ông cho rằng, linh hồn gồm các bộ phận lý tính, ý chí và
cảm tính. Trong xã hội có các hạng người tương ứng với các bộ
15
phận của linh hồn. Lý tính là cơ sở của các đức tính cao cả chỉ có
được ở những nhà triết học, các nhà thông thái. Ý chí là cơ sở của
đức tính can đảm. Nó thể hiện ở trong những người lính, những
chiến binh. Cảm tính là cơ sở của các đức tính thận trọng. Đức tính
này thường có ở những người dân tự do, những người thợ thủ công.
Platon đặc biệt miệt thị nô lệ. Theo ông, nô lệ không phải là người
mà chỉ là động vật biết nói, không có đạo đức.
Platon chủ trương duy trì các hạng người trong xã hội, cũng có
nghĩa là duy trì sự bất bình đẳng giữa mọi người. Nhà nước ra đời là
để đáp ứng những nhu cầu đó. Theo Platon, hình thức cộng hòa là
“Nhà nước tư tưởng”. Trong đó, quyền thống trị tuyệt đối về tầng
lớp chủ nô quý tộc. Nhà nước, đó là hiện thân của cả ba đức tính là
sự thông thái, lòng can đảm và sự thận trọng. Trong “Nhà nước tư
tưởng”, ông chia xã hội ra thành 3 đẳng cấp dựa vào đặc trưng đạo
đức. Đẳng cấp thứ nhất là các nhà triết học, các nhà thông thái giữ
vai trò lãnh đạo xã hội. Đẳng cấp thứ hai là quân nhân có trách
nhiệm bảo vệ “Nhà nước tư tưởng”. Đẳng cấp thứ ba là dân lao
động tự do, thợ thủ công và những người tự do khác làm ra sản
phẩm nuôi sống Nhà nước.
Như vậy, chúng ta thấy, ngay từ khi mới ra đời, triêt học Hy
Lạp cổ đại đã xảy ra cuộc đấu tranh mạnh mẽ giữa Chủ Nghĩa Duy
Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm mà đại biểu tiêu biểu nhất là Đêmôcrit
của phái duy vật và Platon của phái duy tâm. Bên cạnh đó, còn