PHẦN MỞ ĐẦU
Trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nuớc và giữ nuớc nguời Việt Nam luôn biết
tiếp thu và kế thừa những thành tựu văn hóa của nhân loại để xây dựng nền văn hóa
riêng cho mình – một nền văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc. Một trong những
quốc gia có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiến trình văn hóa Việt Nam là Trung Quốc.
Một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Quốc là Khổng Tử, tư tưởng chính
trị của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ ở Trung Quốc, Việt Nam mà cả ở
phuơng Đông nói chung. Tư tưởng chính trị của ông tuy ra đời cách đây hơn 2.500
năm nhưng một số quan điểm vẫn còn giá trị cho cho chung ta ngày nay nghiên cứu
và học tập và phát huy những giá trị của nó trong quá trình xây dựng đất nuớc.
Khi còn sinh thời Khổng Tử rất khao khát đem tài, sức của mình ra giúp nước, chủ
truơng lập lại lễ, nghĩa nhà Chu (đã đuợc ông cải biên cho phù hợp với tình hình lịch
sử mới). Vì vậy, ông đã đi du thuyết khắp các nuớc chư hầu để truyền bá học thuyết
của mình nhưng đi đến đâu ông cũng không đuợc trong dụng. Tuy nhiên, ba trăm năm
sau, Hán Võ Đế đã đưa học thuyết của ông lên hàng quốc giáo. Từ đó học thuyết của
Nho gia đã ngự trị hàng đầu trong suốt hơn hai ngàn năm lịch sử phong kiến Trung
Quốc và lan rộng ra các nước phuơng Đông.
Trong một số công trình nghiên cứu những năm gần đây, người ta đã thấy rằn việc
vận dụng tư tuởng của Khổng Tử vào công tác lãnh đạo, quản lý nhà nuớc và quản lý
kinh tế sẽ mang lại hiệu quả rất to lớn.
Vì vậy, việc nghiên cứu tưởng chính trị của Khổng Tử sẽ mang lại giá trị tích cực
trong việc quản lý và điều hành công việc không những chỉ trong lĩnh vực chính trị xã
hội mà còn trong lĩnh vực kinh tế. Do đó, trong phạm vi một tiểu luận nhỏ chúng tôi
xin trình bày một số giá trị của tư tưởng chính trị của Khổng Tử như: dân vi bản, học
thuyết chính danh, người quân tử, việc tuyển dụng và sử dụng nhân tài, đạo trung
dung và ý nghĩa hiện thời của những giá trị này.
Khi trình bày các quan điểm chúng tôi cố gắng trích dẫn từ sách Luận ngữ, vì đây
là bộ sách được giới học thuật công nhận là tác phẩm phản ánh chân thật tư tưởng của
Khổng Tử.
Do trình độ có hạn, nên không thể tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót. Cho nên,
tác giả rất mong nhận được sự phê bình, góp ý của các thầy, cô và các bạn.
gấp năm mười lần thiên tử. Những chư hầu nhỏ bị chư hầu lớn ức hiếp, cầu cứu với
thiên tử, thiên tử không cứu nổi, chế độ chỉ có cái danh chứ không có cái thực.
Chế độ phong kiến lung lay, vua Chu vẫn giữ cái danh thiên tử nhưng mất hết
quyền hành. Đất đai thì phải chia cắt để phong cho các vương hầu công khanh nên
mỗi ngày một thu hẹp lại, chỉ trông vào sự cống hiến của chư hầu mà có chư hầu hàng
trăm năm không triều cống thiên tử; không những vậy vì cái danh thiên tử, đôi khi
còn phải giúp lương thực cho chư hầu những năm họ mất mùa hoặc có chiến tranh.
Nhiều nước chư hầu mượn tiếng khôi phục lại địa vị tông chủ của nhà Chu, đề ra
khẩu hiệu “tôn vương bài Di”, đua nhau động binh để mở rộng thế lực và đất đai, thôn
tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ. Thời Xuân Thu có khoảng 242
năm đã xảy ra 483 cuộc hiến tranh lớn nhỏ. Đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước,
đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơn 100 nước.
2
Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh chúa bóc lột
tàn khốc dân chúng không chỉ dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt nước chư hầu nhỏ
mà còn phá hoại lễ nghĩa, phá hoại trật tự nhà Chu. Các cuộc chinh phạt giữa các chư
hầu làm cho mâu thuẫn trong giai cấp thống trị trở nên gay gắt và sự rối loạn xã hội
ngày càng tăng.
Những lễ nghi chặt chẽ tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo vệ và làm
hưng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu, đến lúc này cũng bị xem thường. Lễ nghĩa,
cương thường bị đảo lộn, đạo đức bị suy đồi, cảnh tôi giết vua, con giết cha, anh em,
vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra. Mạnh tử đã viết: “Đánh nhau tranh thành, giết
người thây chết đầy thành; đánh nhau giành đất, giết người thây chết đầy đồng”
(Mạnh tử, Ly Lâu thượng)
Các cuộc chiến tranh liên miên, tàn khốc trên quy mô lớn giữa các nước chư hầu;
bên cạnh đó, lối sống xa hoa của các lãnh chúa, quý tộc, xây dựng các cung điện nguy
nga, yến tiệc và mỹ nữ đã làm cuộc sống nhân dân ngày càng cùng cực hơn. Do đói
rét, cực khổ, nạn trộm cướp nổi lên. Bọn thống trị lại tăng cường “hình pháp” làm cho
đình nước Lỗ, mất khi Khổng Tử mới tròn ba tuổi. Từ khi Thúc Lương Ngột mất, gia
đình Khổng Tử sống trong bần hàn, nhưng mẹ của Khổng Tử vẫn quyết tâm cho con
ăn học. Ngay từ nhỏ, Khổng Tử đã nổi tiếng là người siêng năng, học giỏi và thích
chơi trò cúng tế.
Năm 19 tuổi, Khổng Tử lấy vợ sinh một con trai đặt tên là Lý, tự Bá Ngư. Năm 22
tuổi, Khổng Tử bắt đầu dạy học sau đó học nhạc và học đạo. Khổng Tử san định sách
Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc của đời trước để lại, viết sách Xuân Thu để bộc lộ quan
điểm của mình. Đặc biệt quan điểm về chính trị xã hội của ông được trình bày trong
Luận Ngữ, do học trò ông chép lại. Sau khi Khổng Tử mất và nhất là qua chính sách
tàn khốc “phần thư khanh nho” của Tần Thủy Hoàng, thì sách của Khổng Tử không
còn giữ được bao nhiêu.
Khổng Tử muốn “tòng Chu” tức là muốn giữ chế độ của Chu công, muốn làm
được sự nghiệp của Chu công, phục hồi những giá trị của đầu đời Chu. Nhưng chẳng
nhà cầm quyền nào theo đúng ông cả vì đưa chính sách đó dưới sự kiểm nghiệm của
thực tiễn thì thất bại. Ông đã hoàn toàn thất bại về chính trị. Nhưng, ông vẫn theo đuổi
mục đích đó suốt đời, cho nên ông thường mộng thấy Chu công, và khi nào lâu không
mộng thấy thì ông buồn rằng sức mình đã suy rồi.
Trong cuộc đời Khổng Tử có giai đoạn ông đã tham chính để thực hiện những ý
tưởng của mình chứ không phải thuần túy du thuyết và dạy học. Năm ông 50 tuổi, ông
được Định công mời ông làm Trung Đô Tế, coi ấp Trung Đô, kinh đô của nước Lỗ.
Được một năm, Trung Đô có trật tự, kỷ luật từ trên xuống dưới, thành một thị trấn
kiểu mẫu. Năm sau ông đước cất nhắc lên chức Tư không, tức Thượng thư bộ Hình và
sau này được phong làm Á tướng.
Năm 497, Khổng Tử khuyên Định công nên dẹp ba nhà quyền thần Quý, Thúc,
Mạnh, để họ không có thành quách, quân lực riêng. Khổng tử cũng đề nghị với Định
công giết Thiếu Chính Mão, một đại phu gian xảo làm loạn chính sự.
Từ đó, uy tín của Khổng Tử càng lên mà nước Lỗ ngày càng thịnh trị. Ba tháng
sau, những người bán thịt ngoài chợ không nói thách nữa, trên; đường đàn ông đi một
bên, đàn bà đi một bên; của rơi ngoài đường không ai nhặt, ban đêm ngủ không cần
đóng cửa, luân thường đạo lý được coi trọng dân các nước chung quanh qua lại nước
buồn và cho rằng mình đã suy.
Một điều muốn nói ở đây là, Khổng Tử tòng Chu chứ không tôn Chu tức là duy trì
văn hóa nhà Chu chứ không tôn thờ thiên tử đương thời của nhà Chu. Vì lý tưởng của
ông là khôi phục lại được một xã hội thịnh trị như thời của Chu công chứ không phải
một xã hội loạn lạc mà thiên tử nhà Chu chỉ còn cái danh mất đi cái thực, vận nhà Chu
đã không còn cứu được nữa. Trong bộ Xuân Thu ông không quên chép việc vua nhà
Chu trước việc của Lỗ, và các chư hầu khác nhưng đến Luận Ngữ thì không thấy một
bài nào nhắc về vua Chu thời ông cả.
Khổng Tử thuộc giai cấp quý tộc, nhưng tới đời ông đã không còn thịnh nữa, hầu
như chỉ còn cái danh. Thời trẻ ông sống một cuộc đời giữa hạng bình dân và quý tộc;
vì vậy ông có nếp sống, nếp tư duy của giới quý tộc nhưng cũng rất gần gũi với nhân
dân, có thiện cảm với nhân dân, bênh vực họ, giúp họ thăng tiến. So với Mạnh Tử sau
này là một người đứng hẳn về phía nhân dân thì Khổng Tử chỉ là “bạn của nhân dân”.
5
Tư tưởng chính trị của Khổng Tử lấy nền tảng là “nhân” và “lễ”, đó là sự kết
hợp đạo đức luân lý và chính trị của Khổng Tử, đặt cả cả nhân, gia đình và xã hội vào
trong quy phạm của “Nhân” và “Lễ”.
Khổng Tử đưa ra chủ trương “vi chính dĩ đức” – làm chính trị bằng đạo đức, lấy
đức để trị nước an dân. Khổng Tử cho rằng khi được nhân dân tín nhiệm thì quốc gia
mới phát triển và hùng mạnh. Ông lập luận rằng: “không sợ nghèo mà sợ không đều,
không sợ ít mà sợ bất ổn”, “bá tính đủ, vua sao lại không đủ; bá tính không đủ, vua
sao lại đủ”; quan điểm này của ông đứng về phía nhân dân, là lời nhắc nhở nghiêm
chỉnh đối với giai cấp thống trị chuyên bóc lột nhân dân lúc bấy giờ. Nhưng khi
Khổng Tử tìm một giải pháp để thực thi cương lĩnh chính trị này ông lại tìm về với
những biện pháp thời Hạ, Thương, Văn Vũ, phải “chính danh”, phải “động chi dĩ lễ”
– hành động lấy lễ làm khuôn phép, tức là phải lấy việc phục hồi và tuân theo chế độ
lễ nhạc của thời kỳ xã hội nô lệ hưng thịnh làm gốc trị quốc, điều này khiến cho tư
tưởng chính trị của Khổng Tử mang đậm chất bảo thủ phục cổ.
và cố định, cho rằng đó là điều kiện tất yếu của một xã hội yên ổn.
“Chính danh” của Khổng Tử dựa vào chế độ lễ nhạc của ba đời Hạ, Thương, Chu,
ông cho rằng những nội dung cơ bản của đạo bậc tiên vương là vĩnh hằng, muôn đời
không đổi. Chính điều ấy đã phản ánh được tính bảo thủ trong tư tưởng chính trị của
Khổng Tử.
Tóm lại, tư tưởng chính trị của Khổng Tử tập trung vào “đức trị và lễ trị” mà biểu
hiện cụ thể của nó là thuyết “chính danh”. Tư tưởng này đã trải qua hàng ngàn năm,
lúc mới ra đời nó đã không được giai cấp cầm quyền hưởng ứng nhưng các triều đại
phong kiến về sau thì độc tôn Nho thuật và không ngừng nâng cao địa vị của Khổng
Tử. Khổng Tử được tôn xưng là “Văn Tuyên Vương”, “Đại thành chí thánh tiên sư”,
trở thành một mẫu tượng đại biểu lễ giáo phong kiến.
“Ôn cổ tri tân”, do đó, học thuyết chính trị của Khổng Tử ra đời cách đây khoảng
hai năm trăm năm, cho đến nay vẫn giữ được giá trị, đáng để nghiên cứu và học hỏi.
7
Chuơng 2:
NHỮNG GIÁ TRỊ TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA KHỔNG TỬ
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
2.1
DÂN VI BẢN – DÂN LÀ GỐC:
Trong thời buổi đảo điên, cương thường đạo lý bị đảo lộn, chiến tranh liên miên,
nhân dân sống trong cảnh lầm than, còn giai cấp thống trị thì sống trong cảnh xa hoa
trụy lạc. Đứng trước bối cảnh đó, với tư tưởng “tòng Chu”, muốn quay về thời kỳ cực
thịnh của nhà Chu và sự tổng kết lịch sử trước đó, Khổng Tử nhận ra rằng: “Khi nhà
Ân chưa mất lòng dân thì còn phối hợp với Thượng Đế. Nên coi gương nhà Ân mà
suy. Không dễ gì giữ được cái mệnh lớn của Trời”. Tức là, mọi việc đều ở nhân dân,
cũng phải hết sức cẩn thận và phải biết chọn thời điểm để đảm bảo được những điều
kiện tốt nhất.
Xuất phát từ quan điểm “dân là gốc”, và “hữu giáo vô loài”, Khổng Tử chống lại
quan điểm “cha truyền con nối”. Ông lên án việc chức tước truyền theo huyết thống,
dòng dõi, mặc dù trong xã hội đương thời vẫn có ba kiểu lên ngôi được thừa nhận: lên
ngôi do cha truyền lại, lên ngôi do vua trước truyền lại và lên ngôi do đảo chính, giết
vua, thuận thiên và thuận ý dân.
Ông cho rằng người cầm quyền phải có đức, có tài mà không tính đến đẳng cấp
xuất thân của họ. Ông nhận xét Trọng Cung, người mà ông tin cậy truyền cả thiên đạo
cho, không được đắc dụng chỉ vì Cung thuộc lớp thường dân. Ông ví Trọng Cung như
con bò tơ sắc đỏ, sừng tốt (con bò có đủ điều kiện tốt nhất để dung vào việc thiêng
liêng nhất là tế thần), nhưng vì mẹ nó lang, nên người ta không dung vào việc cúng
bái, trong khi thần không xem xét kẻ nào đã đẻ ra nó. (Luận Ngữ, Ung Dã, 4). Theo
ông, Trọng Cung không những được cử làm quan mà còn thậm chí còn có thể làm
vua, vì một ông vua đồng thời cũng phải là một người thầy của dân, phải là người
nhân đức nhất trong những người nhân đức.
Cũng xuất phát từ quan điểm “dân là gốc”, Khổng Tử chống lại chủ trương ngu
trung, ngu hiếu, không bắt buộc con người phải phục tùng bề trên vô điều kiện như
nội dung, trung hiếu của Nho gia sau này.
Khổng Tử gia ngữ chép: Một hôm Ai Công nước Lỗ hỏi Khổng Tử, con theo
mệnh cha có phải là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là trung không? Khổng
Tử klhông đáp. Tử Cống thưa: con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là trung
còn nghi ngờ gì nữa, Khổng Tử mắng rằng: “Ngươi không biết gì cả. Đời xưa đấng
minh quân làm vua nước vạn thặng, có chính thần bảy người thì vua không làm điều
lỗi, làm vua nước thiên thặng thì có chính thần năm người thì xã tắc không nguy, làm
chủ một nhà có chính thần ba người thì lộc vị không suy. Cho nên, con không theo
mệnh cha há đã là có hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là có trung. Chỉ biết xét cái đáng
theo mà theo mới gọi là hiếu vậy là trung vậy”.
Như vậy, chỉ có dân là trên hết, nước là hàng đầu.
Khổng Tử xuất thân từ giai cấp quý tộc cũ suy tàn, nên quan niệm dân ở đây là
vui cho nhân dân, về việc này cần phải có sự nỗ lực rất lớn của bản thân. Như vậy, dù
chức vị có cao thấp, trách nhiệm nặng nhẹ khác nhau, phạm vi công tác khác nhau
nhưng mỗi người lãnh đạo mỗi cấp đều phải chú trọng tu luyện phẩm đức.
Khổng Tử từng nói: “Tu dưỡng bản thân để làm yên bá tánh. Việc tu dưỡng bản
thân để làm yên bá tánh, đến như vua Nghiêu, vua Thuấn còn khó làm được” (Luận
Ngữ - Thiên Hiến vấn).
Nên Khổng Tử cho rằng sống trên đời bất kể là ai cũng phải đạt được đức “nhân”,
“nhân” là khái niệm chí cao vô thượng, là tiêu chuẩn tối cao của triết học nhân sinh
muốn thực hiện được điều “nhân” không phải là chuyện dễ. Nhan Uyên hỏi về đức
nhân, Khổng Tử trả lời: “Khắc kỷ phục lễ vi nhân”, nghĩa là dẹp bỏ tư dục của mình,
dùng lễ để chế ước hành vi bản thân, lúc nào cũng đặt lợi ích bản thân sau lợi ích của
tập thể, người như vậy có thể gọi là nhân.
Do đó, Khổng Tử đã đưa ra con đường tu dưỡng bản thân là: tôn sùng năm đức
tốt, trừ bỏ bốn việc xấu
10
Tôn sùng năm đức tốt:
1. Huệ nhi bất phí: gia ân huệ cho dân mà không lãng phí. Người lãnh đạo tài giỏi
không phải là đi bao biện làm thay, cũng không phải dung đến ngân khố quốc gia để
cứu tế, mà phải dùng đến ngân sách quốc gia để cứu tế, mà phải chế định một chính
sách, hoặc nghĩ ra một biện pháp có lợi cho dân, khiến dân chúng hăng hái, phát huy
hết tài năng của mình, xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh. Lúc đó, dân chúng
cũng no đủ, mà mình cũng không bị mất mát.
2. Lao nhi bất oán: sai dân làm việc khó nhọc mà dân không oán hận. Vua Vũ trị
thủy, sử dụng sức lao động, dân lại hết lời ca tụng; Tần Thủy Hoàng xây dựng cung
điện, sử dụng sức lao động, dân chúng oán hận khắp nơi. Điểm then chốt ở đây là phải
biết tìm điều lợi để làm cho dân, dù có cực khổ mấy dân cũng cố gắng hoàn thành. Do
vậy, Khổng Tử nói: “Chọn việc đáng cho dân làm để sai dân làm, thì ai còn oán hận
nữa” (Luận Ngữ - Thiên Nghiêu viết).
công nhanh chóng, đó là tác phong làm việc chủ quan, võ đoán, không hợp tình hợp
lý. Khổng Tử gọi đó là “hung bạo”.
3. Ra lệnh chậm trễ, lại bắt dân phải hoàn thành trong kỳ hạn gấp rút. Cấp trên
giao nhiệm vụ chậm trễ, lại ỷ quyền thế bắt người khác phải hoàn thành trong kỳ hạn
gấp rút, Khổng Tử gọi đó là “hại dân”. “Không báo cho dân biết trước mà yêu cầu họ
làm là hại dân; thi hành chính lệnh trễ nải lịa bắt dân hoàn thành là ngược đãi dân;
không giáo dục dân mà tàn sát họ là tàn sát dân. Người quân tử tại vị phải tránh ba
điều ấy” (Hàn vi ngoại truyện)
4. Phân phát của cải cho người ta, khi chi ra lại bủn xỉn, Khổng Tử gọi đó là “ki
bo”. Nhưng cũng không quá xa hoa, chi tiêu phung phí, phải biết tiết kiệm tài lực của
quốc gia, mà trước tiên là phải biết tiết dụng trong cuộc sống hàng ngày.
Tôn sùng năm đức tốt, trừ bỏ bốn điều xấu ở trên là thủ đoạn thực thi chính trị,
nhưng nó không xa rời sự tu dưỡng nhân đức của người lãnh đạo. Khổng Tử đem sự
tu dưỡng nội tại và kỹ năng đối ngoại hợp thành một, coi nó là yêu cầu cơ bản đối với
người lãnh đạo thực hành đức trị.
Không chỉ có vậy, Khổng Tử cho rằng công việc cai trị quốc gia là một công việc
khó khăn và phức tạp, làm chính sự phải có thái độ nghiêm túc, không được xem
thường.
Người lãnh đạo phải đầu tàu gương mẫu, phải luôn luôn gương mẫu, nỗ lực không
mệt mỏi. “Mình phải làm gương trước, sau đó mới yêu cầu mọi người làm việc cần cù
chịu khó” (Luận Ngữ - Thiên Tử Lộ). Nếu một người lãnh đạo trễ nải trong công việc
mà luôn yêu cầu cấp dưới nghiêm chỉnh chấp hành thì thật là khó khăn, kết quả là
công việc không thực hiện được và người lãnh đạo đó rồi sẽ bị thay thế.
Muốn làm gương thì người lãnh đạo phải xử lý công việc thật sự nghiêm túc cẩn
thận, không thể “dục tốc bất đạt”, cũng không xem nhẹ công việc mà gây hậu quả
nghiêm trọng; cũng không “lên gân” quá mức.
Người lãnh đạo phải làm việc phải bằng tài trí và mưu lược của mình, không thể
giở trò khôn vặt vì khôn vặt không thể mưu cầu và thành việc lớn. Khổng Tử nói:
“Những người suốt ngày tụ tập lại, nói chuyện không đã động đến việc nghĩa, chỉ
12
xưa đã có. Phương pháp đưa ra quyết sách của Khổng Tử là “đạo trung dung”. Cho
đến nay, đạo trung dung của ông vẫn còn có giá trị trong mọi mặt của đời sống.
Vấn đề mà Khổng Tử suốt đời bàn luận và xử lý, hầu như đều đề cập đến các mặt
xã hội và nhân sinh, phương pháp cơ bản mà Khổng Tử là “trung dung”
Trung tức là chính đạo, không thiên vị, không thái quá, không bất cập. Dung là
bình thường, dung dị.
Khổng Tử nói: “Thái quá cũng như bất cập đều không tốt” (Luận ngữ, Thiên Tiên
tiến). Nên trung dung là không thiên vị bên nào, không thái quá cũng không bất cập.
Nhận thức và xử lý mọi việc phải luôn giữ được đạo trung dung, không thiên lệch về
bên nào, không thái quá cũng không bất cập, giữ ở mức độ vừa phải.
13
Khi nhận thức và xử lý sự vật, hiện tượng nếu như không giữ đạo trung dung, quá
nghiêng về một phía nào đó thì cũng đều không hợp lý, không nắm được rõ bản chất
của sự vật. Muốn biết được bản chất của sự vật, thì phải có một chữ “độ”, vượt quá
hoặc chưa đến độ đều bị thiên lệch. Do đó, nhận thức và xử lý sự vật, hiện tượng đều
không được thái quá, cũng không bất cập, đó chính là hàm nghĩa căn bản của đạo
trung dung. Và xét theo một khía cạnh nào đó, trong đạo trung dung đã có phép biện
chứng rồi.
Nguyên tắc cơ bản của đạo trung dung là “độ”, “độ” không nhất thành bất biến mà
tùy cơ ứng biến, mọi việc đều phải căn cứ vào tình huống thực tế để xử lý. Khổng Tử
nói: “Người quân tử đối với việc của thiên hạ không quy định việc gì nên làm, cũng
không quy định việc gì không nên làm, chỉ cần căn cứ theo nghĩa mà làm” (Luận ngữ,
Thiên Lý nhân).
Khổng Tử gọi phương pháp xử lý vấn đề linh hoạt là thông quyền đạt biến, không
nên quá câu nệ. “Người có chí cầu học, nhưng chưa chắc đạt được thành tựu; người
có thể đạt được thành tựu, nhưng chưa chắc đứng vững trên thành tựu; người có thể
đứng vững trên thành tựu, nhưng chưa chắc hiểu được lẽ quyền biến” ( Luận ngữ,
Thiên Tử hãn).
thái quá mà không nắm bắt được thời cơ thì cũng sẽ hỏng việc.
3. Khổng Tử nói: “Lời nói xảo trá làm bại hoại đạo đức. Việc nhỏ không nhẫn
nhịn được thì sẽ hỏng mưu lớn” (Luận ngữ, Thiên Vệ Linh Công). Muốn làm đại sự
thì bản thân người lãnh đạo phải học được chữ “nhẫn”. Nhẫn nại và kiên trì luôn
mang lại thành công, “nhẫn” là không nóng vội, kìm nén được những tức giận của cá
nhân, nhìn nhận mọi việc phải thật sự khách quan.
4. Khổng Tử cho rằng đối với mọi việc không làm trái nguyên tắc chính, cũng còn
những vấn đề nhỏ nhặt có thể linh hoạt xử lý, dù có vượt ra ngoài quy phạm một chút
chấp nhận; tức là, phải biết linh động xử lý công việc làm sao tạo ra được hiệu quả
cao nhất nhưng vẫn giữ được những nguyên tắc cơ bản, nền tảng. “Đại tiết không thể
vượt qua giới hạn, còn tiểu tiết có thể vượt ra ngoài hay vào trong giới hạn một chút
cũng được” ( Luận ngữ, Thiên Tử Trương).
Như vậy, đạo trung dung của Khổng Tử rất dễ nhận biết, ai cũng có thể thấy vì nó
tồn tại ngay trong cuộc sống đời thường. Linh hoạt, đúng mức, đúng độ, đúng thời cơ
ai cũng biết nhưng không mấy ai làm được. Cho nên, muốn thực hành đạo trung dung
thì phải biết nghe nhiều, quan sát nhiều, suy xét thật kỹ, phân tích tất cả những dữ
kiện cần thiết trước khi ra quyết sách là điều không thể thiếu.
2.4
HỌC THUYẾT CHÍNH DANH – LÀM VIỆC THEO ĐÚNG NHIỆM VỤ VÀ
CHỨC TRÁCH CỦA MÌNH
Trong tư tưởng chính trị của Khổng Tử thì “chính danh” là một phát kiến của ông.
Từ quan điểm vạn vật đều có chung nguồn gốc, cái phức tạp biến sinh từ cái giản
dị, Khổng Tử cho rằng sự thay đổi của xã hội làm cho thiên hạ rối ren không phải
nguyên nhân một sớm một chiều mà là một quá trình bắt nguồn từ từ sự sa đọa của
các thế lực cầm quyền, làm cho “danh” không “chính”, tức là “danh” không phù hợp
với “thực”. Vì vậy, để khôi phục lại kỷ cương, luân thường đạo lý, trật tự xã hội,
Khổng Tử đã chủ trương thực hiện “Chính danh”.
15
ra, chứ ông cũng có ý cách mạng rồi đó. Hễ chính danh thì quy kết tất phải là cách
mạng. (143, 12)
Vì vậy, đối với Khổng Tử thì chính danh là quan trọng nhất nên khi Tử Lộ hỏi nếu
được vua Vệ mời tham gia chính sự thì Khổng Tử sẽ làm gì, ông đáp: “Ắt phải chính
danh trước đã” (Luận Ngữ, Thiên Nhan Uyên). Khổng Tử viết sách Xuân Thu thực
chất là tuyên truyền học thuyết chính danh của ông, bằng sự khen chê người đời trước
để làm gương cho người đời sau với quan điểm nhắc chuyện xưa để răn dạy người đời
nay phải sống trung chính và đúng đạo của mình. Khi danh tự đã chính, thì việc gì có
nghĩa lý việc ấy, những điều tà thuyết không làm mờ tối được chân lý, trật tự trong xã
16
hội được phân minh. Việc giữ trật tự cho minh và giữ trật tự cho chính tức là giữ cái
căn bản của chính trị vậy.
Có thể thấy một lần nữa, ai ở địa vị nào cũng phải làm tròn trách nhiệm, và ai giữ
phận nấy, không được việt vị, nghĩa là không được hưởng những quyền lợi cao hơn
địa vị của mình, ở chức vụ nào thì mưu tính việc ở chức vụ đó. Khổng Tử với tư cách
là một đại phu trí sĩ, có trách nhiệm khuyến cáo vua Lỗ trừng trị một nghịch thần
nước bạn, và ông đã theo “chính danh” nghiêm cẩn làm tròn trách nhiệm đó. Như vậy,
Khổng Tử khi đề ra chính danh đã cố gắng thực hiện qua hành động của mình.
Mặt khác, ta có thể thấy, với quan điểm chống lại ngu trung, ngu hiếu, Khổng Tử
cho rằng, trong xã hội chính danh là quan hệ hai chiều: quân có nhân thì thần mới
trung, phụ có có từ thì tử mới hiếu… mà công cụ để thực hiện hai chiều này là đạo
đức của xã hội. “Giả như vua nói lời không phải mà không có ai chống lại, thì không
chừng một lời nói cũng làm mất nước ư?” (Luận ngữ, Thiên Tử Lộ)
2.5
TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC VÀ SỬ DỤNG NHÂN LỰC
Đúc kết kinh nghiệm thành bại của các vị vua trị quốc thời trước, tìm ra một trong
Trong quá trình sử dụng người hiền tài thì phải biết quý trọng họ, đối xử họ chân
thành, thì họ sẽ tôn kính và tự nguyện cống hiến hết mình, dốc hết tâm lực phò vua
giúp nước
Vua Ai Công nước Lỗ hỏi: “Làm thế nào thì dân phục?”. Khổng Tử đáp: “Cất
nhắc người chính trực đặt trên người tà vạy thì dân phục; nếu cất nhắc người tà vạy
trên người chính trực thì dân không phục” (Luận ngữ - Thiên Vi Chính).
Hơn nữa, xuất phát từ quan điểm của một người thầy nên Khổng Tử cho rằng cất
nhắc người hiền tài lên trên người tà vạy thì, thì người tà vạy trở nên chính trực, tức là
có khả năng giáo hóa cảm phục, trong thiên hạ sẽ không còn người xấu nữa.
Khổng Tử cho rằng cất nhắc người hiền còn phải chú trọng học thức, người có học
thức mới có khả năng đảm trách mọi công việc. Khổng Tử nói: “Học tập lễ nhạc
trước, sau đó mới ra làm quan, là loại dân thường; người làm quan trước rồi mới học
lễ nhạc, là con em vua chúa. Nếu tuyển dụng nhân tài, thì ta tuyển dụng người học tập
trước” (Luận ngữ - Thiên Tiên tiến).
Ước vọng cả đời của Khổng Tử là học hành thật tốt sau đó đem cái sở học của
mình ra làm quan giúp dân, giúp nước. Cho nên ông hết sức chống lại những kẻ
không hiểu biết, bất tài nhưng lại có ham muốn làm quan hay dùng tiền để mua quan
bán tước.
Đối với Khổng Tử, người có đức cũng có thể dùng, người có tài cũng có thể dùng,
nhưng cả hai chỉ được có một mặt, trước sau gì cũng hỏng việc. Nên phải tìm người
có cả tài lẫn đức, tìm người tài trong số người; chữ đức chữ tài có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Vì người có có đức có tài là người hoàn thiện có thể gánh vác được.
Vua Ai Công hỏi Khổng Tử rằng: “Nên tuyển chọn người tài như thế nào?”
Khổng Tử đáp: “Không nên chọn dùng người thích lấn át kẻ khác, không nên chọn
dùng người thích khoe tài khoe sức, không nên chọn dùng người nói khoác lác”.
Ai Công hỏi: “Tại vì sao?”
18
để sử dụng họ. Mỗi khi gặp việc trọng đại, Tử Sản cùng với Tỳ Thầm đi xe ra dã
ngoại, để Tỳ Thầm mưu hoạch sách lược có được hay không, rối nói lại kết quả cho
Phùng Tử Giản quyết định, sau đó bảo Công Tôn Huy soạn thảo thành văn chương.
Các công việc làm xong, cuối cùng giao cho Tử Thái Thúc chấp hành, ứng phó với
khách các nơi, cho nên sự việc thường được xử lý tốt.
19
Mỗi người một việc, một sở trường khác nhau, phối hợp ăn ý cùng làm việc tạo ra
bộ máy hoạt động hiệu quả. Điều tiên quyết để tạo nên một bộ máy hoạt động ăn ý là
người đứng đầu có tài lãnh đạo, có đạo đức, có chữ nhân và biết cách tổ chức xắp xếp
những người thuộc quyền tạo ra sự đoàn kết giữa họ, không xảy ra mâu thuẫn về lợi
ích.
Nhân vô thập toàn nên nguyên tắc quan trọng trong sử dụng người là không nên
quá cầu toàn, không nên đưa ra yêu cầu quá ngặt nghèo mà dễ bị mất nhân tài. Khổng
Tử cho rằng dùng người trước hết phải có lòng khoan dung độ lượng.
Khổng Tử nói: “Làm việc cho người quân tử dễ, nhưng khó làm họ vui lòng. Dùng
phương thức không chính đáng để làm họ vui lòng, thì họ sẽ không vui lòng. Làm
việc cho kẻ tiểu nhân khó, nhưng dễ làm cho họ vui lòng. Dùng phương thức không
chính đáng để làm họ vui lòng, họ cũng vui lòng. Khi sử dụng người, kẻ tiểu nhân
luôn cầu toàn, bất bẻ mọi cách” (Luận Ngữ - Thiên Tử Lộ).
Con người trong quá trình hoạt động thực tiễn dù có giỏi đến đâu cũng mắc sai
lầm cho nên người lãnh đạo luôn có lòng khoan dung, ghi nhớ điểm tốt, không quá
chú ý đến sai lầm của họ để có thể tiếp tục sử dụng họ, lấy lòng nhân từ mà đối đãi
với họ thì họ càng quý trọng mình hơn.
Tăng Tử nói: “Khổng Tử nhìn thấy người khác có một chút ưu điểm, thì quên đi
khuyết điểm mà người đó có, như vậy sẽ dễ sống hòa hợp với người. Khổng Tử nhìn
thấy người khác làm việc tốt, thì giống như chính mình làm việc tốt, như vậy sẽ
không trành giành với người” (Thuyết Uyển)
Tuy nhiên, người lãnh đạo cũng không nên quá bao che cho những hành động sai
nào, và đời Chu công chắc chắn là chưa có hình thư, triều đình vẫn giữ cái tục “lể bất
hạ thứ nhân, hình bất thượng đại phu ” (lễ thì không đến thứ dân, hình không đụng
đến đại phu) (Lễ ký) nghĩa là trong giới quý tộc, có kẻ nào phạm pháp thì theo pháp
điển bất thành văn (lễ) mà dàn xếp; còn đối với dân thường họ mới dung hình mà họ
biết thôi. Nguyên tắc là vậy; trong thực tế có nhiều quý tộc cũng bị chặt chân, chặt
tay, xử trảm. Lễ đó dễ hiểu: hễ làm loạn, muốn chiếm ngôi chẳng hạn, thì chẳng kể
quý hiển, than nhân cũng phải trừng trị..
Khổng Tử là người tôn Chu chứ không tòng Chu cho nên ông chê hình pháp quá
nghiêm khắc của nhà Chu và muốn cho nó nhân đạo hơn. Mặt khác, với quan điểm
của đường lối “vi chính dĩ đức” ông đặt lễ giáo lên trên chính hình. Vì vậy, ông đã so
sánh cái hay cái dở giữa đức trị và pháp trị. Khổng Tử cho rằng dùng đức trị có thể
khiến dân chúng biết thế nào là hổ thẹn, có thể giải quyết vấn đề căn bản về tư tưởng,
chứ không giống như pháp trị, chỉ khiến dân kiềm chế hành vi bản thân, tránh phạm
tội.
Nhưng “Lễ” mà Khổng Tử nói có tác dụng chế ước hành vi của con người về tính
chất giống và tác dụng giống như “Pháp”.
Khổng Tử cho rằng lễ nhà Chu có nguồn gốc từ lễ nhà Hạ và lễ nhà Thương, lễ
phát triển liên tục đến nhà Chu thì đạt đến đỉnh cao của nó. Khổng Tử nói: “Lễ là gì?
Lễ chính là phương pháp xử lý công việc. Người quân tử làm việc nhất định phải biết
được phương pháp xử lý. Lãnh đạo quốc gia quốc gia mà không có lễ, giống như
người mù không có người dẫn đường, mù mịt mất đi phương hướng, không biết đi lối
nào; lại giống như đêm tối ở trong phòng mò mẫm, không có đèn đâu thấy được gì.
Nếu không có lễ, tay chân không biết đặt đâu, tai mắt cũng không biết dùng vào đâu,
tiến thối đều không có quy củ. Như thế thì trong cuộc sống thường ngày sẽ không
phân được trưởng ấu trên dưới, nội bộ gia đình sẽ bất hòa, ở chốn triều đình quan tước
21
cũng hỗn loạn. Cung thất không có tiêu chuẩn, dụng cụ đo lường và đồ tế tự không
hợp pháp độ. Nói năng vô luân thứ, chính sự không thực thi, mọi chuyện trước mắt
“Khổng Tử chỉ truyền đạo cổ nhân chứ không sáng tạo, không đưa ra thuyết gì
mới - “thuật nhi bất tác”. Hầu hết những tư tưởng chính trị của ông, thời trước ông đã
có rồi, như chủ trương vua phải xứng làm vua, phải có đức, yêu dân, làm gương cho
dân… không phải là điều mới mẻ gì. Nhưng công của ông là lý luận để dựng chủ
trương đó thành thuyết “chính danh”, thuyết đức trị, nhất là tạo ra được quan niệm “ái
nhân” trước ông chưa hề có, sửa đổi ý niệm quân tử để cho đạo đức thành có giá trị
ngang với huyết thống, với quyền tước, khiến cho hạng bình dân có tài đức thành một
giai cấp quý tộc – quý tộc về đạo đức, rồi buộc những quý tộc thế tập cũng tu thân
như mọi người dân thường, nếu muốn giữ địa vị của mình…; có thể nói ông chẳng
phải chỉ sáng tạo, mà còn làm một cuộc cách mạng lớn ở thời ông nữa”.
Ngày nay, để tiếp bước theo tư tưởng chính trị của Khổng Tử chúng ta vẫn tiếp tục
thực hiện những nguyên tắc này: nhà cầm quyền phải có ít nhiều đạo đức phải thương
dân, được dân tín nhiệm, dân tin; xã hội phải có trật tự, công bằng, đừng có bất quân
quá, phải nghiêm cấm bọn bóc lột; phải chăm nom giáo dục dân ngang với sự nuôi
dân, thành tâm cho dân dự vào việc nước; phải giữ chữ tín, đừng lừa dối nhân dân;
còn thì phải bỏ hết những gì có tính cách phong kiến, và nên chú trọng đến sự phát
triển kinh tế hơn.
Như vậy, với tất cả những gì trình bày ở trên chúng có thể rút ra mấy kết luận như
sau:
Một là, người lãnh đạo muốn thành công thì trước tiên phải nắm và hiểu rõ “dân là
gốc” nên mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Người lãnh đạo cho dù ở bất cứ vị trí nào
thì mục tiêu đầu tiên và cuối cùng là làm cho dân tín, dân tin, dân giàu, dân vui thì
mình mới thành công được.
Hai là, làm người lãnh đạo phải có cái tầm và cái tầm, không ngừng nâng cao đạo
đức cách mạng, quyét sạch chủ nghĩa cá nhân; nâng cao tri thức để đáp ứng yêu cầu
của thời đại.
Ba là, khi làm bất cứ việc gì thì cũng nên biết mình ở vị trí nào để đối nhân xử thế
cho hợp tình hợp lý, không vượt qua danh của mình, không cậy quyền cậy thế mà làm
những điều sai trái. Vì ở mỗi danh khác nhau con người sẽ có những quyền hạn và
nhiệm vụ khác nhau, tuyệt đối không được lầm lẫn.
thông tin.
6. Doãn Chính – Trương Văn Chung – Nguyễn Thế Nghĩa – Vũ Tình (2003), Đại
cương Lịch sử triết học phương Đông cổ đại, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
7. Hà Thúc Minh (1999), Lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb. Thành phố Hồ Chí
Minh.
8. Mộng Bồi Nguyên (1998), Hệ thống phạm trù Triết học, triết học Phương Đông,
Nxb. Khoa học xã hội.
9. Nguyễn Đăng Thục (2001), Lịch sử triết học Phương Đông, Nxb. Thành phố Hồ
Chí Minh.
10. Nguyễn Hiến Lê – Giản Chi (2003), Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb.
Thanh niên.
11. Nguyễn Hiến Lê (2003), Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb. Thanh niên.
12. Nguyễn Hiến Lê (2003), Khổng Tử và Luận ngữ, Nxb. Văn học.
13. Trịnh Doãn Chính (chủ biên) (2002), Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb.
Thanh niên.
14. Trần Trọng Kim (2003), Nho Giáo (trọn bộ), Nxb. Văn học.
15. Nxb. Khoa học xã hội (2005), Tứ Thư.
16. Vũ Tình (1998), Đạo đức học phương Đông cổ đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
17. Will Durant (2004), Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nxb. Văn hóa thông tin.
25