TÀI LIỆU THAM KHẢO tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về VAI TRÒ của NHÂN tố CHÍNH TRỊ TINH THẦN TRONG CHIẾN TRANH NHÂN dân - Pdf 40

Chương 1
HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ NHÂN TỐ CHÍNH TRỊ - TINH THẦN
TRONG CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM
Chiến tranh bao giờ cũng vận động theo quy luật hết sức nghiệt ngã là mạnh
được yếu thua. Quy luật hiển nhiên này, mọi người đã rõ. Tuy nhiên, việc nhận
biết thế nào là mạnh, thế nào là yếu lại không đơn giản chút nào; việc đánh giá so
sánh lực lượng giữa các bên tham chiến nhiều khi rất khác nhau, thậm chí trái
ngược nhau và trong nhiều trường hợp đến khi kết thúc chiến tranh người ta mới
có thể có được kết luận rõ ràng bên nào mạnh, bên nào yếu, nhân tố nào là nhân tố
quyết định sự thắng thua.
Có những luận thuyết đề cao sức mạnh quân sự đơn thuần, nhấn mạnh vai
trò của vũ khí kỹ thuật, coi đó là yếu tố quyết định. Nhưng cũng lại có những quan
điểm nhìn trong sâu thẳm sức mạnh của con người và cho rằng, con người bao giờ
cũng là nhân tố quyết định trong mối quan hệ với vũ khí kỹ thuật, nhân tố chính trị
- tinh thần là nhân tố “rốt cuộc” quyết định thành bại trong chiến tranh. Những
quan điểm khác nhau trong đánh giá vai trò của các nhân tố trong chiến tranh tất
yếu dẫn đến sự khác nhau về tư tưởng chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật, phương thức
tiến hành chiến tranh, cách đánh ..., phản ánh sự khác nhau căn bản, sự đối lập
nhau về nguyên tắc giữa hệ tư tưởng quân sự tư sản và hệ tư tưởng quân sự vô sản.
Việc đánh giá vị trí, vai trò của các nhân tố cấu thành sức mạnh chiến tranh
không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan, mà đòi hỏi phải có thái độ thật sự khách
quan và được dựa trên phương pháp khoa học chắc chắn. Sự thành bại, thắng thua
trong chiến tranh của các bên tham chiến phụ thuộc rất lớn vào sự đánh giá đó. Bởi
vì, như Tôn Tử, nhà lý luận quân sự xuất chúng thời cổ đại bên Trung Quốc có nói:
“Chiến tranh là việc lớn của quốc gia, nó có quan hệ đến sự sống chết của nhân
dân, sự mất còn của đất nước, không thể không suy xét một cách thận trọng” 1. Sự
suy xét một cách thận trọng phải được biểu hiện cụ thể ngay trong việc đánh giá và
xây dựng những nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh, đối với tất cả
các bên tham chiến.





mạnh chiến đấu của quân đội. Vũ khí kỹ thuật là khả năng vật chất có ý nghĩa rất
quan trọng trong chiến tranh, nhất là trong chiến tranh có sử dụng vũ khí công
nghệ cao. Sự thay đổi về vũ khí trang bị tất yếu dẫn đến sự biến đổi về nghệ thuật,
phương thức tiến hành chiến tranh, cách đánh…Nhưng nhân tố con người lại là
nhân tố quyết định hiệu quả thực tế trên chiến trường, làm tăng thêm giá trị của vũ
khí; vũ khí chỉ là phương tiện để con người sử dụng và phát huy sức mạnh của
mình trong quá trình chiến tranh. Tuy nhiên, cần thấy rằng sự phát triển của vũ khí,
trang bị và phương tiện chiến tranh đòi hỏi con người phải nhận thức và hành động
trên cơ sở tính năng tác dụng của nó. Đó là điều kiện vất chất để con người tin vào
khả năng sức mạnh của chính mình và thực hành các hành động chiến đấu. Vũ khí
kỹ thuật không bao giờ có thể thay thế được vai trò con người, trái lại nó càng làm
gia tăng giá trị và vai trò của con người trong chiến tranh.
Nắm vững học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh nói chung, về vai trò của
nhân tố con người, nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh nói riêng, tiếp thu
tinh hoa văn hoá quân sự thế giới, kề thừa truyền thống, nghệ thuật quân sự Việt
nam, Hồ Chí Minh bàn đến chính trị - tinh thần của chiến tranh nhân dân Việt Nam
một cách sâu sắc và toàn diện, đồng thời đặt nó trong tổng thể nội dung cấu thành
sức mạnh toàn diện của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh phải đặt trong
tổng thể các nhân tố tạo nên sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam, gắn với
tư tưởng quân sự của Người, gắn với quá trình tiến hành chiến tranh nhân dân
chống xâm lược do Đảng ta và Người lãnh đạo.
1.1 Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh
thần hy sinh của toàn thể một dân tộc
Hiếm có một dân tộc nào trên thế giới như dân tộc Việt Nam, trong quá trình
lịch sử của mình phải thường xuyên đương đầu với các thế lực ngoại xâm hung
bạo có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn mạnh hơn. Đặc điểm cơ bản này của lịch sử
dân tộc cần phải được nhấn mạnh như là cơ sở của sự hình thành nền nghệ thuật

để tập hợp “bốn phương manh lệ”. Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã từng
nêu rõ mục đích của phong trào Tây sơn là “Kéo cùng dân ra khỏi chốn lầm than”
và trong bài Chiếu lên ngôi đã chỉ rõ việc lên ngôi Vua “cốt ý quét sạch loạn lạc,
cứu vớt dân trong vòng khói lửa”1.


Với những nhận thức tiến bộ ấy, các nhà lãnh đạo các cuộc kháng chiến
chống xâm lược trong lịch sử nước nhà đã giương cao ngọn cờ dân tộc, quy tụ
được lòng người, thực hiện được chính sách đoàn kết toàn dân đứng lên chống
giặc. Nhờ vậy, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta trong lịch sử
đã thu hút sự tham gia đông đảo quảng đại quần chúng nhân dân. Quần chúng nhân
dân không chỉ gia nhập vào các đội quân chiến đấu của triều đình, của các lộ, các
địa phương; mà họ còn tự xây dựng nên các đội dân binh, hương binh ở các thôn
xã, làng bản, họ tự đứng lên và tổ chức đánh giặc tại quê hương mình. Chính điều
đó đã tạo nên truyền thống “cả nước đánh giặc”, “trăm họ đều là binh” rất đặc sắc
trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta.
Đặc điểm lịch sử dân tộc Việt Nam phải thường xuyên chống kẻ thù có tiềm
lực kinh tế, quân sự lớn mạnh hơn; những nhận thức tiến bộ của những nhà lãnh
đạo đất nước đối với dân và vai trò của dân trong chiến tranh; và sự đóng góp sức
người, sức của của mọi tầng lớp nhân dân với nhiều hình thức rất phong phú đa
dạng … tất cả điều đó đã làm cho các cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân
tộc ta mang tính nhân dân sâu sắc, phản ánh sức mạnh vô địch của “tinh thần hy
sinh của toàn thể một dân tộc” mà không quân đội nào có thể chiến thắng được.
Tinh thần ấy, sức mạnh ấy đã được Hồ Chí Minh nhìn nhận một cách chính
xác, đánh giá một cách thấu đáo và đưa thêm nội dung mới, nâng lên tầm cao mới
trong điều kiện lịch sử mới.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công được ít ngày, trong Lời kêu gọi
đồng bào Nam bộ ngày 29 tháng 10 năm 1945, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không quân
đội nào, khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân
tộc” và Người còn nhấn mạnh: “Trước nạn ngoại xâm, toàn thể quốc dân đã đoàn

không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Đây là sự kế thừa, phát huy và nâng
lên tầm cao mới truyền thống toàn dân đánh giặc, “giặc đến nhà đàn bà cũng
đánh”, của ông cha trong điều kiện lịch sử mới, điều kiện lịch sử mà dân tộc ta
phải đối chọi với các thế lực đế quốc phương Tây hung bạo và hùng mạnh nhất. Sự
tham gia của các tầng lớp nhân dân vào cuộc kháng chiến không phải chỉ là sự
đóng góp sức người, sức của cho chiến tranh; mà điều quan trọng là họ thực sự như


là người lính, “mỗi công dân là một chiến sỹ, mỗi làng là một chiến hào”, tạo nên
“bức thành đồng” vững chắc của chiến tranh nhân dân.
Chiến tranh nhân dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn là chiến tranh toàn
diện. Để chống lại chiến tranh xâm lược của kẻ thù có tiềm lực quân sự, kinh tế
hùng mạnh, chiến tranh nhân dân Việt Nam không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân
sự, lực lượng quân sự đơn thuần, càng không thể chỉ dựa vào quân đội để chống lại
quân đội đối phương, mà phải dựa trên sức mạnh tổng hợp, toàn diện trên tất cả
các lĩnh vực, tiến công kẻ thù trên tất cả các mặt trận. Tính toàn dân và toàn diện
quan hệ chặt chẽ và thống nhất, không thể tách rời trong bản chất, đặc điểm của
chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Tính toàn dân và toàn diện không thể tách rời nhau, nói đến kháng chiến
toàn dân cũng đã bao hàm tính toàn diện của chiến tranh; và ngược lại, bàn đến
tính toàn diện của chiến tranh nhân dân cũng đã phản ánh cả tính toàn dân. Vì vậy,
Hồ Chí Minh cho rằng, muốn huy động được đông đảo quần chúng nhân dân tham
gia kháng chiến, thì phải thực hiện kháng chiến tòan diện. Người nhấn mạnh: “…
muốn thắng quân địch, chỉ trông cậy vào sức chiến đấu ở tiền phương chưa đủ. Tại
sao? Vì ngày nay, một khi chiến tranh đã bùng nổ ở nơi nào, ảnh hưởng của nó sẽ
lan tràn đến khắp các nơi khác. Chẳng những thế, nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến tất
cả các ngành hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá… Vì vậy, muốn kháng chiến lâu
dài để tới thắng lợi cuối cùng, cần phải động viên hết thảy mọi lực lượng mới
mong đi tới thắng lợi cuối cùng… Nói tóm lại, muốn thực hiện toàn dân kháng
chiến, ngoài việc động viên chính trị, quân sự, ngoaị giao, còn phải động viên cả

nhân dân và quân đội xung quanh Đảng và Chính phủ đã giúp chúng tôi vượt qua
những thử thách khó khăn không tưởng tượng được và tạo những điều kiện về
chính trị, kinh tế và quân sự để chiến thắng.
Lòng tin tưởng không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi của sự nghiệp chính
nghĩa của mình đã cổ vũ nhân dân chúng tôi và đã kích thích tinh thần dũng cảm
của họ. Những đức tính về đạo đức và tinh thần chiến đấu mà các binh sỹ, các
chiến sỹ du kích và các cán bộ của chúng tôi đã học tập được trong lịch sử đặc biệt
phong phú của phong trào giải phóng dân tộc, đã giúp quân đội trẻ tuổi của chúng
tôi lập được những chiến công lịch sử, tô lên ngọn cờ của mình một niềm vinh
quang bất diệt”1. Rõ ràng là, chính trị - tinh thần của chiến tranh nhân dân đã trở


thành sức mạnh “vật chất”. Lòng yêu nước, sự đoàn kết, lòng tin mãnh liệt vào
chiến thắng và tinh thần chiến đấu của cả dân tộc… những nội dung cơ bản của
chính trị - tinh thần, của sự thống nhất về “tinh thần và chính trị” của nhân dân và
quân đội ta trong chiến tranh, đã tạo nên sức mạnh “vật chất” chiến thắng kẻ thù.
Khi xâm lược Việt Nam, với tư duy quân sự tư sản, kẻ thù thường tính đến
phải đối phó với quân đội Việt Nam như thế nào, mà không tính đến một cách đầy
đủ sức mạnh toàn diện của chiến tranh nhân dân Việt Nam, đã không nhận thấy
một điều rất căn bản là Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân, nên chúng gặp hết bất ngờ này đến bất ngờ khác và phải
chuốc lấy thất bại. Sức mạnh của quân đội nhân dân ấy không chỉ nằm trong bản
thân sức mạnh riêng có của nó như tính toán của các nhà quân sự đế quốc chủ
nghĩa. Sức mạnh của quân đội ấy còn bắt nguồn từ nhân dân, từ truyền thống lịch
sử dân tộc, từ sức mạnh của cuộc kháng chiến chính nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, giai cấp tiến bộ đại biểu cho xu thế phát
triển của lịch sử, đó còn là sức mạnh của thời đại kết hợp chặt chẽ với sức mạnh
của dân tộc trong quá trình nhân dân ta tiến hành kháng chiến chống xâm lược. Và
vì vậy, khi xâm lược Việt Nam, phải đối chọi với chiến tranh nhân dân Việt Nam,
với Quân đội nhân dân Việt Nam, thì kẻ thù tự chuốc lấy một khả năng thất bại

Có hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, mới có thể hiểu
được tư tưởng của Người về nhân tố chính trị - tinh thần của chiến tranh nhân dân
Việt Nam. Có hiểu được mục đích của con đường cách mạng cứu nước, cứu dân
mà lãnh tụ Hồ Chí Minh suốt cả đời hy sinh phấn đấu, thì mới có thể hiểu được
những tư tưởng, quan điểm của Người trên các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam nói chung, của chiến tranh nhân dân Việt Nam nói riêng.
Luận điểm “Không quân đội nào, khí giới nào có thể đánh ngã được tinh
thần hy sinh của toàn thể một dân tộc” vừa thể hiện ý chí quyết tâm sắt đá của
toàn thể nhân dân Việt Nam, vừa nói lên sức mạnh tinh thần to lớn của chiến tranh
nhân dân Việt Nam. Đó là tinh thần, ý chí của cả dân tộc thà hy sinh tất cả chứ nhất
định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Không hiểu sâu sắc bản chất, sức
mạnh của con người, không nhận thức đúng đắn vai trò quần chúng nhân dân trong
lịch sử, và không một lòng, một dạ hy sinh phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng con
ngưòi, đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc thực sự cho họ, thì không thể có quan


điểm đầy đủ và khoa học về sức mạnh của nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến
tranh. Theo Hồ chí Minh, chính trị - tinh thần của chiến tranh nhân dân Việt Nam
có nội hàm hết sức rộng lớn, thể hiện sâu sắc và toàn diện các nội dung cấu thành
chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội trong chiến tranh. Chính trị - tinh
thần của chiến tranh nhân dân Việt Nam không thể tự nhiên mà có, mà nó được
hình thành và phát triển trên cơ sở chế độ chính trị, kinh tế của xã hội mới, hệ tư
tưởng chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin, đường
lối cách mạng, đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng; được bắt nguồn từ tầng
sâu và bề dày của truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên cường, cội nguồn lịch sử,
văn hoá … của dân tộc Việt Nam. Nhân dân và quân đội ta không thể có tư tưởng
vững vàng, niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng của cuộc kháng chiến chống xâm
lược, sự chiến đấu xả thân vì độc lập tự do của Tổ quốc nếu không có được những
cội nguồn và cơ sở trên.
Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược mới ở giai đoạn đầu, trong Thư gửi

1 Hồ Chí Minh, Sdd, tập 8, tr 55 - 56
1 Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb ST, H,
1959, tr 100 - 101
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV,
Nxb ST, H, 1977, tr 8 - 9
3 Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb ST,
H, 1959, tr 101
1 Hồ Chí Minh, Sđ, tập 5, tr 214 - 215
Chương 2
HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG, ĐỘNG VIÊN CHÍNH TRỊ - TINH THẦN
TRONG CHIẾN TRANH
2.1. Xây dựng, động viên chính trị - tinh thần là quá trình liên tục, gắn
bó chặt chẽ với xây dựng, động viên các nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp
của chiến tranh nhân dân Việt Nam
Chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội ta trong chiến tranh nhân dân
Việt Nam, như đã phân tích ở chương trên, được bắt nguồn từ hệ tư tưởng của giai
cấp công nhân Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng; sức mạnh của chế độ mới; đường
lối kháng chiến đúng đắn. chính nghĩa, hợp lòng dân; từ truyền thống chống ngoại
xâm của dân tộc… Thế nhưng, chính trị - tinh thần không thể tự nhiên mà có, càng
không thể tự nhiên mà tạo thành sức mạnh to lớn giành thắng lợi trong chiến tranh,
nếu không thực hiện tốt các biện pháp khơi dạy, xây dựng và phát huy đúng. Dù


chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội có được chuẩn bị chu đáo và đầy đủ
như thế nào, nhưng trong quá trình chiến tranh nếu không tiếp tục bồi đắp và có
biện pháp phát huy, động viên tốt thì chính trị - tinh thần ấy không thể trở thành
sức mạnh hiện hữu.
Hơn nữa, chính trị - tinh thần không phải là một trạng thái cố định “nhất
thành bất biến” mà là một trạng thái động, có lên, có xuống, có lúc cao, có lúc
thấp, thậm chí có khi chuyển sang trạng thái khác theo hướng tiêu cực. Vấn đề này

trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, tất cả các hình thức biện pháp, nội dung xây
dựng, động viên chính trị - tinh thần theo tư tưởng Hồ Chí Minh và do chính
Người tổ chức thực hiện có quan hệ khăng khít với nhau, thể hiện trong toàn bộ
cuộc chiến tranh, cũng như trong từng giai đoạn cụ thể.
Nghiên cứu những nội dung, biện pháp cụ thể trong một giai đoạn nào đó, ở
một thời điểm nào đó không chỉ có ý nghĩa trong giai đoạn, thời điểm đó; mà cần
phải thấy nội dung, biện pháp đó có giá trị chỉ đạo trực tiếp toàn bộ tiến trình của
hai cuộc kháng chiến trường kỳ. Có như thế, việc luận giải các nội dung cụ thể mới
không bị chia cắt và mới phán ánh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng,
động viên chính trị - tinh thần trong chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Tư tưởng động viên toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, động viên
chính trị - tinh thần gắn với động viên các mặt kinh tế, quân sự, ngoại giao, động
viên các lực lượng được Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trong bài viết nhan đề “Toàn
dân kháng chiến”. Người cho rằng: “Vì vậy, muốn kháng chiến lâu dài để tới thắng
lợi cuối cùng, cần phải động viên hết thảy mọi lực lượng mới mong đi tới thắng lợi
cuối cùng. Cậu bé chăm chỉ học hành trong nhà trường cũng là kháng chiến. Anh
dân cày cày cuốc ngoài đồng ruộng, anh thợ cặm cụi trong nhà máy, chị bán hàng
buôn bán ngược xuôi, ông già xách giỏ đi câu cũng là kháng chiến. Các công chức,
các nhà văn, nhà báo mải miết trước bàn giấy, cạnh tủ sách cũng là kháng chiến.
Các y sĩ, khám hộ lăn lộn bên giường bệnh cũng là kháng chiến. Các nhà giàu có
đem hết tài lực mở mang xưởng thợ, khai thác ruộng đất cũng là kháng chiến. Đó
là toàn dân kháng chiến.
Nói tóm lại, muốn thực hiện toàn dân kháng chiến, ngoài việc động viên
quân sự, chính trị, ngoại giao, còn phải động viên cả tinh thần lẫn kinh tế”.1


Động viên chính trị - tinh thần không thể tách rời động viên các nhân tố
khác, thực chất là phát động toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Không
thể chỉ xây dựng chính trị - tinh thần, động viên một cách chung chung, mà bao giờ

sinh động tính toàn dân, toàn diện của cuộc kháng chiến chống xâm lược.
Xuất phát từ yêu cầu cao về chính trị - tinh thần của nhân dân và quân ta
trong chiến tranh, cũng như từ tính chất “động” của chính trị - tinh thần, mà việc
xây dựng, động viên chính trị - tinh thần phải là qúa trình liên tục, không khi nào
được ngừng nghỉ. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “… chúng ta phải tập trung hết thảy nhân
lực, tài lực vào công cuộc kháng chiến thì thực lực kháng chiến của ta mới được
đầy đủ, mạnh mẽ để đạt tới thắng lợi cuối cùng.”1
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến của dân tộc, đi đến đâu,
gặp gỡ các cụ phụ lão hay các cháu nhi đồng, nói chuyện với bộ đội hay dân quân
du kích, tiếp xúc với thanh niên hay phụ nữ, trao đổi với các tầng lớp nhân dân, các
tôn giáo, dân tộc, Người luôn luôn khích lệ, cổ vũ tinh thần khắc phục khó khăn
gian khổ chiến đấu và phục vụ chiến đấu, cũng như những cố gắng trong lao động
sản xuất của mọi tầng lớp nhân dân với sự ân cần tha thiết. Vì vậy, tinh thần yêu
nước, ý chí quyết tâm chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc của quân dân
ta luôn luôn được dâng cao. Trên thực tế, chính trị - tinh thần của nhân dân và quân
đội ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thường xuyên được
duy trì ở mức độ cao và khồng ngừng củng cố, phát huy.
Điều đó cắt nghĩa vì sao lại phát triển, nở rộ những hình ảnh cao đẹp về chủ
nghĩa anh hùng cách mạng, nhưng rất đỗi bình thường, giản dị gần gũi biết bao của
một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc, thời kỳ “ra ngõ gặp anh hùng”, đi đánh
giặc như đi “trẩy hội”. Không thể cảm nhận hết ý nghĩa cao đẹp và vĩ đại của thời
kỳ lịch sử hào hùng đó, nếu không hiểu được sức mạnh chính trị - tinh thần tiềm
tàng trong mọi tầng lớp nhân dân. Trạng thái chính trị - tinh thần cao và tích cực
của nhân dân và quân đội ta được chuẩn bị trước chiến tranh, được củng cố, duy trì
và phát huy không ngừng suốt quá trình chiến tranh, trở thành nhân tố cực kỳ quan
trọng bảo đảm cho đất nước đương đầu với chiến tranh lâu dài, tàn khốc và giành
thắng lợi.
Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp kháng chiến cứu quốc là sự nghiệp của toàn
dân, phải động biên toàn dân, toàn diện. Vì vậy, xây dựng, động viên chính trị tinh thần cho kháng chiến phải là sự nỗ lực, cố gắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status